cơ sở phương pháp luận và công cụ để xây dựng hệ thống thông tin quản lý - Pdf 10

MỤC LỤC
2.1 Tổng quan về HTTT 2
2.1.1 Khái niệm, mô hình, chức năng của HTTT 2
2.1.2.1 Theo tính chính thức và không chính thức 4
2.1.2.2 Phân theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra 4
2.1.2.3 Theo bộ phận chức năng nghiệp vụ 6
2.1.4 Phương pháp xây dựng HTTT 7
2.1.4.1 Phương pháp hướng chức năng 7
2.1.4.2 Phương pháp hướng đối tượng 8
2.2 Phân tích - thiết kế HTTT 13
1
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÔNG CỤ ĐỂ XÂY DỰNG HỆ
THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
2.1 Tổng quan về HTTT
2.1.1 Khái niệm, mô hình, chức năng của HTTT
•Khái niệm HTTT
- HTTT là một tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, phần mềm,
dữ liệu, con người thực hiện hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông
tin trong một tập hợp các ràng buộc được gọi là môi trường. Nó được thể hiện bởi
những con người, các thủ tục, các dữ liệu và thiết bị tin học hoặc không tin học.
Đầu vào (Inputs) của HTTT được lấy từ các nguồn (Sources) và được xử lý bởi hệ
thống sử dụng nó cùng với các dữ liệu đã được lưu trữ từ trước. Kết quả xử lý
(Outputs) được chuyển đến các đích (Destination) hoặc cập nhật vào kho lưu trữ dữ
liệu (Storage).
•Mô hình HTTT

Nguồn
Đích
Kho dữ liệu
Thu thập

Dữ liệu Dữ liệu Dữ liệu
3
Quyết định
2.1.2 Phân loại HTTT
2.1.2.1 Theo tính chính thức và không chính thức
- Một HTTT chính thức thường bao hàm một tập hợp các qui tắc và các
phương pháp làm việc có văn bản rõ ràng hoặc là ít ra cũng được thiết lập theo một
truyền thống. Đó là trường hợp hệ thống trả lương, hệ thống quản lý tài khoản các
nhà cung cấp và tài khoản khách hàng, phân tích bán hàng và xây dựng kế hoạch
ngân sách, hệ thống thường xuyên đánh giá khía cạnh tài chính của những cơ hội
mua bán khác nhau và cũng như hệ thống chuyên gia cho phép đặt ra các chuẩn
đoán tổ chức.
- Những HTTT phi chính thức của một tổ chức bao chứa các bộ phận như tập
hợp các hoạt động xử lý thông tin như gửi và nhận thư, ghi chép dịch vụ, các cuộc
nói chuyện điện thoại, các cuộc tranh luận, các ghi chú trên bảng thông báo và các
bài báo trên báo chí và tạp chí.
2.1.2.2 Phân theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra
Mặc dù rằng các hệ thống thường sử dụng các công nghệ khác nhau nhưng
chúng phân biệt nhau trước hết bởi loại hoạt động mà chúng trợ giúp. Theo cách
này có năm loại: HTTT quản lý, HTTT trợ giúp ra quyết định, HTTT xử lý giao
dịch, HTTT chuyên gia và HTTT tăng cường khả năng cạnh tranh
- HTTT xử lý giao dịch TPS( Transaction Processing System)
Hệ thống này xử lý các dữ liệu đến từ các giao dịch mà tổ chức thực hiện hoặc
với khách hàng, với nhà cung cấp, những người cho vay hoặc với nhân viên của nó.
Các giao dịch sản sinh ra các tài liệu và các giấy tờ thể hiện những giao dịch đó.
Các hệ thống xử lý giao dịch có nhiệm vụ tập hợp các dữ liệu cho phép theo dõi
hoạt động của tổ chức. Chúng trợ giúp các hoạt động ở mức tác nghiệp. Có thể kể ra
ra các hệ thống thuộc loại này như: Hệ thống trả lương, lập đơn đặt hàng, làm hoá
đơn, theo dõi khách hàng, theo dõi nhà cung cấp, các đăng ký môn theo học của
sinh viên, cho mượn sách và tài liệu trong một thư viện, cập nhật tài khoản ngân

5
cơ sở trí tuệ và một động cơ suy diễn. Có thể xem lĩnh vực hệ thống ES như là mở
rộng của những hệ thống đối thoại trợ giúp ra quyết định có tính chuyên gia hoặc
như một sự tiếp nối của lĩnh vực hệ thống trợ giúp lao động trí tuệ. Tuy nhiên, đặc
trưng riêng của của nó nằm ở việc sử dụng một số kỹ thuật của trí tuệ nhân tạo, chủ
yếu là kỹ thuật chuyên gia trong cơ sở trí tuệ bao chứa các sự kiện và các qui tắc
được chuyên gia sử dụng.
- HTTT tăng cường khả năng cạnh tranh ISCA(Information System for
Competitive Advantage)
HTTT loại này được sử dụng như một trợ giúp chiến lược. Khi nghiên cứu
một HTTT mà không tính đến những lý do dẫn đến sự cài đặt nó hoặc cũng không
tính đến môi trường trong đó nó được phát triển, ta nghĩ ra rằng đó chỉ đơn giản là
một hệ thống xử lý giao dịch, HTTT quản lý, hệ thống trợ giúp ra quyết định hoặc
một hệ chuyên gia. HTTT ISCA được thiết kế cho những người sử dụng là những
người ngoài tổ chức, có thể là một khách hàng, một nhà cung cấp và cũng có thể là
một tổ chức khác của cùng nghành công nghiệp…( trong khi bốn loại HTTT trên
người sử dụng chủ yếu là cán bộ trong tổ chức).
Nếu như những hệ thống được xác định trước đây có mục đích trợ giúp các
hoạt động quản lý của tổ chức thì hệ thống ISCA là những công cụ thực hiện các ý
đồ chiến lược. Chúng cho phép tổ chức thành công trong việc đối đầu với các lực
lượng cạnh tranh thể hiện qua khách hàng, các nhà cung cấp, các doanh nghiệp cạnh
tranh mới xuất hiện, các sản phẩm thay thế và các tổ chức khác trong cùng một
ngành công nghiệp.
2.1.2.3 Theo bộ phận chức năng nghiệp vụ
- HTTT tài chính
- HTTT marketing
- HTTT quản trị nguồn nhân lực
- HTTT quản lý kinh doanh và sản xuất
- HTTT văn phòng
6

Lối tiếp cận xoay quanh dữ liệu là phương pháp tốt cho việc thiết kế ngân
hàng dữ liệu và nắm bắt thông tin, nhưng nếu áp dụng cho việc thiết kế ứng dụng lại
có thể khiến phát sinh nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn là yêu cầu
đối với các hệ thống thường xuyên thay đổi. Một hệ thống xoay quanh dữ liệu có
thể dễ dàng xử lý việc thay đổi ngân hàng dữ liệu, nhưng lại khó thực thi những
thay đổi trong nguyên tắc nghiệp vụ hay cách hoạt động của hệ thống.
Phương pháp hướng đối tượng đã được phát triển để trả lời cho vấn đề đó. Với
lối tiếp cận hướng đối tượng, chúng ta tập trung vào cả hai mặt của vấn đề: thông
tin và cách hoạt động.
2.1.4.2 Phương pháp hướng đối tượng
Hướng đối tượng là thuật ngữ thông dụng hiện thời của ngành công nghiệp
phần mềm. Các công ty đang nhanh chóng tìm cách áp dụng và tích hợp công nghệ
mới này vào các ứng dụng của họ. Thật sự là đa phần các ứng dụng hiện thời đều
mang tính hướng đối tượng. Nhưng hướng đối tượng có nghĩa là gì?
Lối tiếp cận hướng đối tượng là một lối tư duy về vấn đề theo lối ánh xạ các
thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực. Với lối tiếp cận này,
chúng ta chia ứng dụng thành các thành phần nhỏ, gọi là các đối tượng, chúng
tương đối độc lập với nhau. Sau đó ta có thể xây dựng ứng dụng bằng cách ghép các
đối tượng đó lại với nhau.
2.1.4.3 Ưu điểm của phương pháp hướng đối tượng
Phương pháp phân tích và thiết kế hướng đối tượng thực hiện theo các thuật
ngữ và khái niệm của phạm vi lĩnh vực ứng dụng (tức là của doanh nghiệp hay đơn
vị mà hệ thống tương lai cần phục vụ), nên nó tạo sự tiếp cận tương ứng giữa hệ
thống và vấn đề thực ngoài đời. Một trong những ưu điểm quan trọng bậc nhất của
phương pháp phân tích và thiết kế hướng đối tượng là tính tái sử dụng: Chúng ta có
thể tạo các thành phần (đối tượng) một lần và dùng chúng nhiều lần sau đó. Việc có
8
thể tái sử dụng các thành phần (đối tượng) căn bản trong các thiết kế hướng đối
tượng cũng như code của một hệ thống kế toán, hệ thống kiểm kê, hoặc một hệ
thống đặt hàng.

hiện tốt sẽ dẫn tới hệ thống không được như mong muốn, đắt tiền hay bất khả thi.
Kết quả của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ là Báo Cáo Kết Quả Nghiên Cứu
Tính Khả Thi. Khi hệ thống tương lai được chấp nhận dựa trên bản báo cáo này
cũng là lúc giai đoạn phân tích bắt đầu.
2.1.5.2 Phân tích yêu cầu
Sau khi đã xem xét về tính khả thi của hệ thống cũng như tạo lập một bức
tranh sơ bộ của dự án, chúng ta bước sang giai đoạn thường được coi là quan trọng
nhất trong các công việc lập trình: hiểu hệ thống cần xây dựng. Người thực hiện
công việc này là nhà phân tích.
Quá trình phân tích nhìn chung là hệ quả của việc trả lời câu hỏi "Hệ thống
cần phải làm gì?". Quá trình phân tích bao gồm việc nghiên cứu chi tiết hệ thống
doanh nghiệp hiện thời, tìm cho ra nguyên lý hoạt động của nó và những vị trí có
thể được nâng cao, cải thiện. Bên cạnh đó là việc nghiên cứu xem xét các chức năng
mà hệ thống cần cung cấp và các mối quan hệ của chúng, bên trong cũng như với
phía ngoài hệ thống. Trong toàn bộ giai đoạn này, nhà phân tích và người dùng cần
cộng tác mật thiết với nhau để xác định các yêu cầu đối với hệ thống, tức là các tính
năng mới cần phải được đưa vào hệ thống.
Những mục tiêu cụ thể của giai đoạn phân tích là:
• Xác định hệ thống cần phải làm gì.
• Nghiên cứu thấu đáo tất cả các chức năng cần cung cấp và những yếu tố liên
quan
10
• Xây dựng một mô hình nêu bật bản chất vấn đề từ một hướng nhìn có thực
(trong đời sống thực).
• Trao định nghĩa vấn đề cho chuyên gia lĩnh vực để nhận sự đánh giá, góp ý.
• Kết quả của giai đoạn phân tích là bản Đặc Tả Yêu Cầu (Requirements
Specifications).
2.1.5.3 Thiết kế hệ thống
Sau giai đoạn phân tích, khi các yêu cầu cụ thể đối với hệ thống đã được xác
định, giai đoạn tiếp theo là thiết kế cho các yêu cầu mới. Công tác thiết kế xoay

trên kế hoạch thử do người viết code soạn nên.
2.1.5.5 Thử nghiệm hệ thống
Sau khi các thủ tục đã được thử nghiệm riêng, cần phải thử nghiệm toàn bộ hệ
thống. Mọi thủ tục được tích hợp và chạy thử, kiểm tra xem mọi chi tiết ghi trong
Đặc Tả Yêu Cầu và những mong chờ của người dùng có được thoả mãn. Dữ liệu
thử cần được chọn lọc đặc biệt, kết quả cần được phân tích để phát hiện mọi lệch
lạc so với mong chờ.
2.1.5.6 Thực hiện, triển khai
Trong giai đoạn này, hệ thống vừa phát triển sẽ được triển khai sao cho phía
người dùng. Trước khi để người dùng thật sự bắt tay vào sử dụng hệ thống, nhóm
các nhà phát triển cần tạo các file dữ liệu cần thiết cũng như huấn luyện cho người
dùng, để đảm bảo hệ thống được sử dụng hữu hiệu nhất.
2.1.5.7 Bảo trì, nâng cấp
Tùy theo các biến đổi trong môi trường sử dụng, hệ thống có thể trở nên lỗi
12
thời hay cần phải được sửa đổi nâng cấp để sử dụng có hiệu quả. Hoạt động bảo trì
hệ thống có thể rất khác biệt tùy theo mức độ sửa đổi và nâng cấp cần thiết.
Sơ đồ tổng quát các giai đoạn của Chu Trình Phát Triển Phần Mềm:
Sơ đồ tổng quát các giai đoạn của Chu Trình Phát Triển Phần Mềm
2.2 Phân tích - thiết kế HTTT
2.2.1 Giới thiệu về ngôn ngữ UML
Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất (Unifield Modeling Language – UML) là
một ngôn ngữ để biểu diễn mô hình theo hướng đối tượng được xây dựng với mục
đích:
•Mô hình hoá các hệ thống sử dụng các khái niệm hướng đối tượng.
•Thiết lập một kết nối từ nhận thức của con người đến các sự kiện cần mô
hình hoá.
•Giải quyết vấn đề về mức độ thừa kế trong các hệ thống phức tạp, có nhiều
13
ràng buộc khác nhau.

phụ)?
 Hệ thống sẽ phải xử lý và làm việc với những trang thiết bị phần cứng nào?
 Hệ thống cần phải tương tác với các hệ thống khác nào? Nhóm các hệ thống
này được chia ra làm hai nhóm, nhóm kích hoạt cho mối quan hệ với hệ thống, và
nhóm mà hệ thống cần phải xây dựng của chúng ta sẽ thiết lập quan hệ. Khái niệm
hệ thống bao gồm cả các hệ thống máy tính khác cũng như các ứng dụng khác trong
chính chiếc máy tính mà hệ thống này sẽ hoạt động.
 Ai hay cái gì quan tâm đến kết quả (giá trị) mà hệ thống sẽ sản sinh ra?
Để có thể nhận dạng được tốt nhiều tác nhân khác nhau, hãy tiến hành nghiên
cứu những người sử dụng của hệ thống hiện thời (một hệ thống thủ công hoặc một
hệ thống đang tồn tại), hỏi xem họ đóng những vai trò nào khi thực thi công việc
hàng ngày của họ với hệ thống. Cũng người sử dụng đó có thể thực thi nhiều vai trò
khác nhau tại nhiều thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào việc chức năng nào trong hệ
thống đang được sử dụng.
Cần lưu ý, một tác nhân là một vai trò (một lớp), chứ không phải một thực thể
riêng lẻ. Mặc dù vậy, khi cung cấp ví dụ là một vài các thực thể của một tác nhân, ta
có thể đảm bảo rằng tác nhân đó thật sự tồn tại. Một tác nhân phải có một sự liên
kết (Association) nào đó với một hoặc là nhiều Use Case. Mặc dù có những tác
nhân có thể không kích hoạt nên một Use Case nào, nhưng tác nhân đó sẽ giao tiếp
ít nhất với một Use Case tại một thời điểm nào đó. Cần phải đặt tên cho tác nhân
làm sao để tên phản ánh đúng vai trò của tác nhân đó trong hệ thống.
• Phân tích biểu đồ mô hình hóa (Use Case Diagram) và các sơ đồ hoạt động
Một biểu đồ Use case chỉ ra một số lượng các tác nhân ngoại cảnh và mối liên
15
kết của chúng đối với Use case mà hệ thống cung cấp. Một Use case là một lời miêu
tả của một chức năng mà hệ thống cung cấp. Lời miêu tả Use case thường là một
văn bản tài liệu, nhưng kèm theo đó cũng có thể là một biểu đồ hoạt động. Các Use
case được miêu tả duy nhất theo hướng nhìn từ ngoài vào của các tác nhân (hành vi
của hệ thống theo như sự mong đợi của người sử dụng), không miêu tả chức năng
được cung cấp sẽ hoạt động nội bộ bên trong hệ thống ra sao. Các Use case định

được đính kèm theo các nhãn (label), một trong những chức năng của nhãn là chỉ ra
thứ tự mà các thông điệp được gửi đi. Nó cũng có thể chỉ ra các điều kiện, chỉ ra
những giá trị được trả về, v.v Khi đã làm quen với cách viết nhãn, một nhà phát
triển có thể đọc biểu đồ cộng tác và tuân thủ theo dòng thực thi cũng như sự trao đổi
thông điệp. Một biểu đồ cộng tác cũng có thể chứa cả các đối tượng tích cực (active
17
objects), hoạt động song song với các đối tượng tích cực khác.
Một biểu đồ công tác của một printer server
• Phân tích biểu đồ lớp (Class Diagram)
Một biểu đồ lớp chỉ ra cấu trúc tĩnh của các lớp trong hệ thống. Các lớp là đại
diện cho các “vật” được xử lý trong hệ thống. Các lớp có thể quan hệ với nhau
trong nhiều dạng thức: liên kết (associated - được nối kết với nhau), phụ thuộc
(dependent - một lớp này phụ thuộc vào lớp khác), chuyên biệt hóa (specialized -
một lớp này là một kết quả chuyên biệt hóa của lớp khác), hay đóng gói ( packaged
- hợp với nhau thành một đơn vị). Tất cả các mối quan hệ đó đều được thể hiện
trong biểu đồ lớp, đi kèm với cấu trúc bên trong của các lớp theo khái niệm thuộc
tính (attribute) và thủ tục (operation). Biểu đồ được coi là biểu đồ tĩnh theo phương
diện cấu trúc được miêu tả ở đây có hiệu lực tại bất kỳ thời điểm nào trong toàn bộ
vòng đời hệ thống.
Một hệ thống thường sẽ có một loạt các biểu đồ lớp – chẳng phải bao giờ tất
cả các biểu đồ lớp này cũng được nhập vào một biểu đồ lớp tổng thể duy nhất – và
một lớp có thể tham gia vào nhiều biểu đồ lớp.
18
Biểu đồ lớp cho một giao dịch Tài chính
2.2.2.2 Thiết kế HTTT:
Trong giai đoạn này, kết quả của giai đoạn phân tích sẽ được mở rộng thành
một giải pháp kỹ thuật. Các lớp mới sẽ được bổ sung để tạo thành một hạ tầng cơ sở
kỹ thuật: Giao diện người dùng, các chức năng để lưu trữ các đối tượng trong ngân
hàng dữ liệu, giao tiếp với các hệ thống khác, giao diện với các thiết bị ngoại vi và
các máy móc khác trong hệ thống, Giai đoạn thiết kế sẽ đưa ra kết quả là bản đặc

• Các hệ thống xử lý nghiệp vụ (giao dịch) trực tuyến OLTP (Online
Transaction Processing) phải có khả năng xử lý hàng nghìn đơn đặt hàng cùng một
lúc.
• Các tổ chức đang muốn cài đặt những phần mềm cho các dịch vụ quan
trọng như quản lý vật tư, lập kế hoạch điều động nhân lực và huy động các nguồn
tài nguyên phục vụ sản xuất.
• Các cơ quan có nhiều người muốn dùng CSDL trong lúc làm việc mà không
cần tiếp cận với mạng máy tính.
• Những người quản lý cán bộ tiếp thị phân tích các xu hướng ghi nhận được
trong dữ liệu của công ty. Họ cần những hệ thống xử lý phân tích trực tuyến OLAP
(Online Analytical Processing) có khả năng phân tích một cách tinh vi dữ liệu thu
thập được từ OLTP.
Những nét đặc trưng của SQL Server 2000:
• Tích hợp với Internet
• Khả năng tăng giảm quy mô và tính sẵn sàng
• Những nét đặc trưng về CSDL ở mức doanh nghiệp
20
• Dễ cài đặt, dễ dàn dựng và dễ sử dụng
• Các nét đặc trưng liên quan đến nhà kho dữ liệu
2.3.2. Ngôn ngữ lập trình Visual Basic (VB)
Visual Basic là một ngôn ngữ thảo chương hoàn thiện và hoạt động theo kiểu
điều khiển bởi sự kiện ( Event – Driven programming language ) nhưng lại giống
ngôn ngữ thảo chương có cấu trúc ( Structured programming language )
Lợi điểm khi dùng Visual Basic chính là ở chỗ tiết kiệm thời gian và công sức
so với ngôn ngữ lập trình khác khi xây dựng cùng một ứng dụng.
Visual Basic gắn liền với khái niệm lập trình trực quan ( Visual ), nghĩa là khi
thiết kế một chương trình, ta nhìn thấy ngay kết quả qua từng thao tác và giao diện
khi chương trình thực hiện. Đây là thuận lợi lớn so với các ngôn ngữ lập trình khác.
Khi viết chương trình bằng Visual Basic, chúng ta phải qua hai bước:
• Thiết kế giao diện ( Visual Programming )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status