Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001 - Pdf 10

Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế
nước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế
Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng phát triển hết sức sôi động. Thị
trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm. Trong số những nghiệp
vụ bảo hiểm mới xuất hiện đó phải kể đến nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,
một nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những hậu quả ảnh
hưởng của rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần
ổn định và phát triển nền kinh tế.
Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp thuộc công ty
Bảo hiểm Hà Nội, được tiếp xúc với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tôi
nhận thấy tuy đây là một nghiệp vụ bảo hiểm mới mẻ nhưng rất có tiềm năng trên thị
trường Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình triển khai nghiệp vụ này tại công ty Bảo Việt
Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn. Với mong muốn được nghiên cứu, tìm hiểu tình
hình triển khai nghiệp vụ gián đoạn kinh doanh, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp
nhằm phát triển nghiệp vụ này, tôi đã chọn "Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại
Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình. Mặc dầu vậy, do thời gian quá ngắn cũng như phạm vi thực tập chỉ giới hạn
trong "Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp" nên trong luận văn này tôi sẽ đi sâu
vào nghiên cứu về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Công ty Bảo hiểm Hà
Nội giai đoạn 1998 - 2001.

1
1
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:

nghiệp vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng như ngày nay. Xã hội ngày càng phát
triển, hoạt động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinh nhiều nhu

3
3
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
cầu bảo hiểm mới. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong các nghiệp vụ bảo
hiểm mới đó. So với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh ra đời muộn hơn rất nhiều. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, mặc dù bị
sự thúc ép của chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưng các công ty bảo
hiểm ở Anh vẫn chưa tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thất hậu quả" nào. Sự
chậm trễ đó là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính, xác định
phạm vi bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế chính trị chưa ổn định. Sau đó, với sự
ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commercial Union (năm 1923) và Polikoff
Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sự đặt nền móng cho bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển.
Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được biết đến dưới tên gọi "bảo
hiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thường cho
người được bảo hiểm đối với trường hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp
tục kinh doanh. Những tổn thất này thường xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại về
một vụ cháy hay sau những tổn thất được bảo hiểm khác. Trong thực tế, những loại
bảo hiểm chính (như bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại
cơ bản, tuy nhiên người được bảo hiểm vẫn chưa được đền bù hoàn toàn vì anh ta
phải chịu những chi phí bổ sung chưa được bảo hiểm theo các đơn bảo hiểm này. Do
đó, việc xuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn khách
quan, cần thiết.
Mặc dù "mầm mống" ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã xuất hiện từ
những năm 1920 như đã đề cập ở trên, nhưng phải đến năm 1985 sự giao dịch của
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộ

xuất kinh doanh của doanh nghiệp

5
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lường trước được. Các
rủi ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của con
người, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật
được ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản
xuất kinh doanh ngày càng mở rộng. Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày
càng lớn. Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thường rất nặng nề và ảnh
hưởng lâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến cả
các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên có quan hệ với doanh nghiệp. Sự ra đời của
các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình hình sản
xuất, đảm bảo công việc kinh doanh được tiến hành bình thường. Thông qua việc bồi
thường một cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh
chóng khắc phục được hậu quả thiệt hại. Bên cạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế
quản lý, Nhà nước đã chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh
nghiệp Nhà nước. Trong việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanh nghiệp không có
sự hỗ trợ nhiều của Nhà nước như trong thời kỳ bao cấp trước đây. Nếu khi có thiệt
hại gì xảy ra, doanh nghiệp không được quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt
hại gây ra bởi các rủi ro các công ty bảo hiểm trong nước đã triển khai hay với các
loại hình tương tự. Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn
vốn cho các doanh nghiệp khi không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc
do sự sơ suất vô ý của người lao động.
Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh thì hầu như mọi hoạt động không thể tiến hành bình thường như kế hoạch đã

vậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đề phòng, hạn chế tổn thất,

7
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và cho toàn
xã hội nói chung.
1.1.2.3.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước,
thúc đẩy kinh tế phát triển
Cũng như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanh
dịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân
sách Nhà nước, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nước. Một phần nguồn
phí thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm được đóng góp vào ngân sách Nhà
nước để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội. Ngoài ra, một phần phí thu được
tạm thời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ra lượng
vốn lớn để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu tư.
Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết của việc
tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
1.2.NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.2.1.Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực tế
và tiềm năng cũng như các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất" [3,5/7].
Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khác như sau:
- Đặc điểm về đối tượng bảo hiểm:
Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, người được bảo
hiểm sẽ được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoả hoạn
và các rủi ro đặc biệt). Với số tiền bảo hiểm nhận được, người được bảo hiểm có thể
có đủ khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc,... phục vụ
cho việc sử dụng như trước khi xảy ra rủi ro. Tuy vậy, nếu như số tài sản bị thiệt hại

Thời kỳ
xây dựng lại
Doanh thu
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
(Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112])
Trong biểu đồ trên, người ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rất
nhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khi
giải quyết bất kỳ khiếu nại nào. Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
thường nêu rõ công thức sẽ được sử dụng khi giải quyết bồi thường tổn thất.
- Đặc điểm về giai đoạn bồi thường:
Một đặc trưng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là người được bảo hiểm
được chọn một "giai đoạn bồi thường". Đó là giai đoạn mà theo tính toán của người
được bảo hiểm sẽ đủ để người đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lại
khả năng hoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọng nhất.
Người được bảo hiểm sẽ chọn "giai đoạn bồi thường" tối đa, có thể là 12 tháng, 18
tháng, ..., và "giai đoạn bồi thường" sẽ được đưa vào hợp đồng bảo hiểm. "Giai đoạn
bồi thường" tối đa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
"+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại. Thời gian này được tính
bao gồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép.
+ Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu. Việc đánh giá chính xác khoảng thời
gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu. Nếu như
doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loại đặc
biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sức khó
khăn.

10
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí

sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm. Theo hợp đồng
bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi hai vấn đề cơ
bản: bồi thường và nộp phí bảo hiểm.
1.2.2.1.2.Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm
Có hai loại điều kiện được áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
 Điều kiện ngầm định
 Điều kiện rõ ràng
a) Điều kiện ngầm định
Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không được thể hiện bằng văn bản
nhưng hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
- Quyền lợi được bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nước, trong đó có
Việt Nam có qui định về quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng lực pháp
lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải là người có
quyền lợi khi đối tượng bảo hiểm đó bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối tượng bảo
hiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơ
quan doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội
và họ chính là người tham gia bảo hiểm.
- Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" được áp dụng trong quan hệ
bảo hiểm giữa người bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm. Điều đó có nghĩa là
người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chính xác
giá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ,... trong phạm vi kiến thức và sự hiểu biết
của họ khi người bảo hiểm yêu cầu. Những thông tin này là cơ sở để người bảo hiểm

12
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
có chấp nhận bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm hay không. Người tham gia bảo hiểm
không được thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thời gian hiệu
lực cuả hợp đồng nhằm trục lợi. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóng vai trò quan

Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thường có những câu hỏi chung như sau:
 Tên, địa chỉ của người yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có
thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác).
 Thời gian yêu cầu bảo hiểm.
 Ngành nghề kinh doanh.
 Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lương, doanh thu,...)
Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể. Nói cách khác,
một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả các câu
hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm.
Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần không
thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm.
* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm được trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận
đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho người được bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo
giấy chứng nhận bảo hiểm. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng
chứng về việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm.
Trong đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập được các nội dung
sau:

14
14
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
 Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc
người thụ hưởng.
 Đối tượng bảo hiểm
 Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
 Thời hạn bảo hiểm
 Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm

"Chi phí biến đổi là chi phí biến đổi thuận chiều với sự thay đổi khối lượng kinh
doanh của doanh nghiệp" [18,90], ví dụ như chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê
nhân công hợp đồng...
"Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu được sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dự
phòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhưng phải được tính trước
khi trừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A]
"Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sản
xuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sản
xuất không được bảo hiểm]" [5, appendix A].
1.2.2.2.2.Đối tượng bảo hiểm
Như đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tượng
bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình. Khác với các
loại nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tượng bảo hiểm là hữu hình, đối
tượng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tượng như vậy
đã gây rất nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến cho

16
16
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
một nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã ra đời
quá muộn so với các nghiệp vụ khác. Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh quốc mà
ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tượng bảo hiểm
của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ
hay gián đoạn" [5, 6].
1.2.2.2.3.Số tiền bảo hiểm
Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất được xác
định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh
được xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia
bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do người được bảo hiểm

1.2.2.2.4.Phạm vi bảo hiểm:
"Công ty bảo hiểm sẽ chỉ bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất mang
tính hậu quả do việc ngừng trệ hay gián đoạn kinh doanh với điều kiện:
(1) tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tài sản của người được bảo
hiểm phải được bảo vệ bởi một đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất và:
(i) công ty bảo hiểm của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất đã xác nhận trách
nhiệm hoặc đã thanh toán bồi thường.
hoặc
(ii) công ty bảo hiểm của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất đáng nhẽ đã xác
nhận trách nhiệm hoặc đã thanh toán tiền bồi thường nhưng do điều kiện
của đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất sẽ không bồi thường cho những tổn
thất nhỏ hơn mức trách nhiệm đã kê khai trong đơn bảo hiểm.
(2) trách nhiệm của công ty bảo hiểm, trong mọi trường hợp, sẽ không vượt quá :
(i) Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tương ứng với mỗi khoản
mục được kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm
(ii) Bất cứ trách nhiệm được đưa ra trong giấy chứng nhận bảo hiểm hay bất
cứ số tiền bảo hiểm nào được sửa đổi bởi các sửa đổi bổ sung đính kèm

18
18
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
và được ký xác nhận bởi công ty bảo hiểm hay người đại diện cho công
ty bảo hiểm" [2, 1].
1.2.2.2.5.Điều khoản loại trừ
"Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quả
của:
-Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém; do
những khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn tự
nhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nước, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu khác

1.2.2.2.6. Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm do người
được bảo hiểm chọn (gọi là số tiền bảo hiểm đăng ký). Để đăng ký một hợp đồng bảo
hiểm thiệt hại kinh doanh người tham gia bảo hiểm phải thông báo một loạt số liệu về
kế toán, đặc biệt là tài khoản kết quả sản xuất kinh doanh thực hiện một số năm trước
đó. Căn cứ vào tài khoản này cộng thêm với lời khai báo, hai bên thỏa thuận với nhau
về số tiền bảo hiểm (cụ thể số tiền bảo hiểm ở đây là lợi nhuận gộp). Việc thoả thuận
được số tiền bảo hiểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho công tác tính phí vì thực
chất phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được xác định như sau:
Phí bảo hiểm = số tiền bảo hiểm x tỉ lệ phí bảo hiểm
Tỉ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản:
-Xác suất rủi ro của nghiệp vụ bảo hiểm.
-Phạm vi bảo hiểm.
- Số tiền bồi thường cho một số năm trước đây.

20
20
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Tuy vậy, trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tỉ lệ phí bảo hiểm được tính dựa trên
tỉ lệ phí bảo hiểm chung cho rủi ro hoả hoạn.
Việc tính phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào yếu tố thời gian, cụ thể là thời hạn bồi
thường. Thời hạn bồi thường càng cao có nghĩa là trách nhiệm bồi thường của nhà
bảo hiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tương ứng. Ví dụ, theo biểu phí
Bảo Việt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thường là 3 tháng thì tỉ lệ
phí bảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%,
nếu 12 tháng là 100%. Tuy nhiên, thời hạn bồi thường tăng đến một mức nhất định
thì phí bảo hiểm có xu hướng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi.
1.2.2.2.6.Thời hạn và phương thức bồi thường
Bồi thường là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm. Trong bảo hiểm gián đoạn kinh

được thực hiện
-
doanh thu thực tế
được thực hiện
Thiệt hại lợi
nhuận gộp
=
thiệt hại doanh
thu thực tế
x
tỉ lệ lợi
nhuận gộp
Thiệt hại lợi nhuận gộp cho phép ta xác định được số tiền bồi thường tối đa, nhưng
phải trừ đi mức miễn thường (thường được tính bằng ngày trong bảo hiểm thiệt hại
kinh doanh). "Giả định, mỗi đơn vị doanh thu bao gồm 0,6 đơn vị là chi phí mua
nguyên vật liệu và các chi phí biến đổi khác, 0,3 đơn vị là chi phi cố định, 0,1 đơn vị
là lợi nhuận ròng. Tuy nhiên, khi xảy ra tổn thất làm gián đoạn kinh doanh thì người
được bảo hiểm sẽ không phải gánh chịu tổn thất của cả 1 đơn vị doanh thu đó mà sự
giảm doanh thu sẽ kéo theo việc giảm tương ứng chi phí biến đổi, vì vậy người bảo
hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với 0,6 đơn vị chi phí mua nguyên vật liệu và các
chi phí biến đổi khác mà chỉ cần bồi thường 0,4 đơn vị chi phí cố định và lợi nhuận

22
22
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
ròng là có thể đưa người được bảo hiểm trở về tình trạng tài chính mà lẽ ra người đó
có nếu như tổn thất không xảy ra". [5, 61]. Do đó, số thiệt hại lợi nhuận gộp là số tiền
bồi thường tối đa mà người được bảo hiểm có thể nhận được. Tuy nhiên trên thực tế,
như đã phân tích trong ví dụ trên, thì số tiền bồi thường sẽ hiếm khi đạt được bằng số

phòng địa phương trực thuộc. Bởi vậy, ngoài các phòng ban phụ trách các vấn đề tổ
chức nhân sự, kế toán,..., những phòng nghiệp vụ ngoài nhiệm vụ trực tiếp tiến hành
kinh doanh các nghiệp vụ trên địa bàn mà công ty phân cấp còn có chức năng giúp đỡ
các văn phòng tại các quận, huyện trong việc quan hệ với khách hàng, cân nhắc chấp
nhận bảo hiểm, phát hành hợp đồng bảo hiểm, xử lý khiếu nại, giám định và bồi
thường.
Cơ cấu tổ chức hiện nay của Bảo Việt Hà Nội được biểu hiện qua sơ đồ sau:

24
24
Phòng
BH
Ho n à
Kiếm
Phòng
BH
Ba
Đình
Phòng
BH
Đống
Đa
Phòng
BH
Hai B à
Trưng
Phòng
BH
Thanh
Xuân

BH kỹ
thuật
Phòng
BH
cháy &
rủi ro
hỗn hợp
Phòng
BH
quốc
phòng
Phòng
giám
định bồi
thường
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Trong vài năm gần đây, kinh tế xã hội của cả nước nói chung và thủ đô nói riêng tiếp
tục ổn định và phát triển. Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác kinh doanh của các
doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và của Bảo Việt nói riêng. Được sự quan tâm chỉ
đạo và ủng hộ của lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thường xuyên của các
phòng ban thuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên của Bảo Việt Hà Nội đã từng
bước tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh. Hơn nữa, dù trong bất kỳ hoàn
cảnh nào cán bộ công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên dưới một lòng hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh của Tổng công ty và Nhà nước giao cho. Năm nào Bảo
Việt Hà Nội cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanh, đạt tốc độ tăng trưởng
cao về doanh số và tỷ lệ tích luỹ, đóng góp không nhỏ vào thành tích chung của Tổng
công ty và của ngành bảo hiểm nói chung. Đó là những dấu hiệu đáng mừng đối với
Bảo Việt Hà Nội. Bên cạnh đó, hoạt động của Công ty Bảo Việt Hà Nội cũng gặp
nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cao hơn những năm trước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status