Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001 - Pdf 79

Phần mở đầu
Trong những năm qua, thực hiện đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế n-
ớc ta đã có sự biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ. Cùng với sự đi lên của nền kinh tế Việt
Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng phát triển hết sức sôi động. Thị trờng
bảo hiểm Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới nhằm đáp
ứng nhu cầu đa dạng của ngời tham gia bảo hiểm. Trong số những nghiệp vụ bảo
hiểm mới xuất hiện đó phải kể đến nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, một
nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những hậu quả ảnh hởng
của rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần ổn
định và phát triển nền kinh tế.
Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp thuộc công ty
Bảo hiểm Hà Nội, đợc tiếp xúc với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tôi
nhận thấy tuy đây là một nghiệp vụ bảo hiểm mới mẻ nhng rất có tiềm năng trên thị
trờng Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình triển khai nghiệp vụ này tại công ty Bảo Việt
Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn. Với mong muốn đợc nghiên cứu, tìm hiểu tình hình
triển khai nghiệp vụ gián đoạn kinh doanh, trên cơ sở đó đa ra một số giải pháp
nhằm phát triển nghiệp vụ này, tôi đã chọn "Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại
Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình. Mặc dầu vậy, do thời gian quá ngắn cũng nh phạm vi thực tập chỉ giới hạn
trong "Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp" nên trong luận văn này tôi sẽ đi sâu
vào nghiên cứu về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Công ty Bảo hiểm
Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001.
Kết cấu luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng 1 : Lý luận chung về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh.
Chơng 2 : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh
1
doanh tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội.
Chơng 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt
động kinh doanh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Công
ty bảo hiểm Hà Nội

Polikoff Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sự đặt nền móng
cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển.
3
Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc biết đến dới tên gọi "bảo
hiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thờng cho ng-
ời đợc bảo hiểm đối với trờng hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp tục
kinh doanh. Những tổn thất này thờng xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại về một
vụ cháy hay sau những tổn thất đợc bảo hiểm khác. Trong thực tế, những loại bảo
hiểm chính (nh bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại cơ
bản, tuy nhiên ngời đợc bảo hiểm vẫn cha đợc đền bù hoàn toàn vì anh ta phải chịu
những chi phí bổ sung cha đợc bảo hiểm theo các đơn bảo hiểm này. Do đó, việc
xuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn khách quan,
cần thiết.
Mặc dù "mầm mống" ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã xuất hiện từ
những năm 1920 nh đã đề cập ở trên, nhng phải đến năm 1985 sự giao dịch của bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộ phận
trong Uỷ ban bảo hiểm hoả hoạn ở Anh). Đây là nơi đánh dấu sự ra đời bản mẫu đầu
tiên về đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh. Mẫu đơn này đã đợc thông qua và sử
dụng ở một số nớc Tây Âu. Vào tháng 10 năm 1989, Hiệp hội các nhà bảo hiểm
London (ABI) đã xem xét lại mẫu đơn này trên cơ sở thống nhất lại phạm vi bảo
hiểm và sau đó chính thức phát hành. Từ đó đến nay, hầu hết các quốc gia đều áp
dụng theo mẫu đơn đó.
Ngày nay, ở các nớc phát triển, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã trở nên thông
dụng và phổ biến rộng rãi. Nó đã góp phần đắc lực vào việc ổn định tâm lý cũng nh
an toàn sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp.
ở Việt nam, nghiệp vụ này mới đợc triển khai khoảng chục năm trở lại đây trên cơ
sở mẫu đơn của nớc Anh. Tuy mới triển khai nhng loại hình này đã khẳng định đợc
vị trí, vai trò và tiềm năng cũng nh những u điểm không thua kém gì các nghiệp vụ
"đàn anh, đàn chị" khác. Những năm gần đây, nghiệp vụ này đã thu hút đợc sự chú ý
của nhiều nhà bảo hiểm. Vào thời gian từ 18 đến 22/08/1997 tại Hà nội đã diễn ra

doanh nghiệp không đợc quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt hại gây ra bởi
các rủi ro các công ty bảo hiểm trong nớc đã triển khai hay với các loại hình tơng tự.
Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn vốn cho các doanh
5
nghiệp khi không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ý
của ngời lao động.
Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh thì hầu nh mọi hoạt động không thể tiến hành bình thờng nh kế hoạch đã đặt
ra trớc. Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không đợc bồi thờng trong đơn bảo hiểm
tài sản nh chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lơng công nhân viên... Để khắc phục
tình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khăn khi phải
đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là cách tốt nhất
để bù đắp thiệt hại. Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thất xảy ra, các cơ
quan, doanh nghiệp không những đợc bồi thờng cho những khoản chi phí nói trên
mà còn đợc bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ có thể nhận đợc nếu
nh không có tổn thất xảy ra. Vậy cùng với đơn bảo hiểm tài sản, bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểu những hậu quả ảnh hởng của
các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
1.1.2.2.Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa nh hiện nay, nớc ta đã thu hút đợc lợng lớn vốn
đầu t không những của các nhà đầu t trong nớc mà còn của các nhà đầu t nớc ngoài.
Các nhà đầu t, vì mục đích kinh doanh của mình, luôn quan tâm đến việc bảo toàn
và phát triển vốn, làm sao có thể an toàn nhất tránh các rủi ro đáng tiếc xảy ra với
đồng vốn của họ. Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh có nhiều yếu tố rủi ro mang
tính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất cứ ai. Các công ty bảo
hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển giao, phân
tán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, cần thiết các doanh
nghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro. Một trong số các
biện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệu quả đó là biện pháp
đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tợng bảo hiểm. Hàng năm, các công ty

đang đợc sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh sẽ phải chịu
cả những thiệt hại về mặt kinh doanh nh mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanh
trong một thời gian nhất định. Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chi phí nh chi
7
phí thuê nhà xởng, chi phí trả lơng cho công nhân viên, lãi suất ngân hàng,... mặc dù
không thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhà xởng, máy móc
tạm để tiếp tục sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phục hồi cơ sở sản
xuất. Nói cách khác, tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việc kinh doanh bình
thờng của ngời đợc bảo hiểm sẽ bị ngng trệ hoặc giảm sút. Chúng ta hãy cùng xem
xét ví dụ minh hoạ sau đây:
Hình dới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm
trọng. Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu đợc) sẽ chỉ trở lại bình
thờng sau 9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉ mất
3 tháng. Trờng hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắc chắn
đợc liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng có thể dễ
dàng tìm ra những hãng cung cấp thay thế thì thời gian hồi phục kinh doanh sẽ bị
kéo dài. Khác hẳn với thiệt hại vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịu
trong trờng hợp bị ngừng trệ kinh doanh là rất trừu tợng và đợc cụ thể hoá vào thời
điểm trong tơng lai khi mà doanh nghiệp của ngời đợc bảo hiểm trở lại tình trạng
vốn có nh trớc khi tổn thất xảy ra. Nói tóm lại, đối tợng của bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh là đối tợng vô hình.
(Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112])
Trong biểu đồ trên, ngời ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rất
nhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khi
8
Chá
T12 T3 T6 T9 T12
Thời kỳ
xây dựng lại
Doanh thu

chỉ là đơn bảo hiểm mở rộng phạm vi bảo hiểm của một đơn bảo hiểm vật chất. Rủi
ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, trừ những trờng hợp loại trừ, phải
trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất.
1.2.2.Nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói riêng
1.2.2.1. Hợp đồng bảo hiểm
1.2.2.1.1.Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
"Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm
phải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi
xảy ra sự kiện bảo hiểm" [6,16].
Nh vậy, đứng trên góc độ pháp lý thì hợp đồng bảo hiểm thực chất là một hợp đồng
kinh tế trong đó một bên đồng ý bồi thờng, trả tiền bảo hiểm cho bên kia khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm. Theo hợp
đồng bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi hai vấn
đề cơ bản: bồi thờng và nộp phí bảo hiểm.
1.2.2.1.2.Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm
Có hai loại điều kiện đợc áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
Điều kiện ngầm định
Điều kiện rõ ràng
a) Điều kiện ngầm định
Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không đợc thể hiện bằng văn bản nhng
hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
- Quyền lợi đợc bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nớc, trong đó có Việt
Nam có qui định về quyền lợi đợc bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng lực pháp lý
tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì ngời tham gia bảo hiểm phải là ngời có quyền
lợi khi đối tợng bảo hiểm đó bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối tợng bảo hiểm, đặc
biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơ quan
10
doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội và

* Đơn yêu cầu bảo hiểm:
Đơn yêu cầu bảo hiểm là hình thức phổ biến nhất để công ty bảo hiểm có thể nhận
đợc các thông tin liên quan tới rủi ro sẽ đợc bảo hiểm. Đối với hầu hết các loại bảo
hiểm, ngời yêu cầu bảo hiểm sẽ điền vào đơn yêu cầu bảo hiểm và nộp cho công ty
bảo hiểm. Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc hoặc môi giới bảo hiểm hay
trung gian bảo hiểm cung cấp.
Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thờng có những câu hỏi chung nh sau:
Tên, địa chỉ của ngời yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có
thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác).
Thời gian yêu cầu bảo hiểm.
Ngành nghề kinh doanh.
Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lơng, doanh thu,...)
Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể. Nói cách khác,
một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả các
câu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm.
Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần không
thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm.
* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm đợc trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận
đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho ngời đợc bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo giấy
chứng nhận bảo hiểm. Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng về
việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm. Trong đơn
bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập đợc các nội dung sau:
Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm hoặc
ngời thụ hởng.
Đối tợng bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đợc bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
12
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm

"Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu đợc sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dự
phòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhng phải đợc tính trớc khi
trừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A]
"Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sản
xuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sản
xuất không đợc bảo hiểm]" [5, appendix A].
1.2.2.2.2.Đối tợng bảo hiểm
Nh đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tợng bảo
hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tợng vô hình. Khác với các loại
nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tợng bảo hiểm là hữu hình, đối tợng bảo
hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tợng nh vậy đã gây rất
nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến cho một
nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã ra đời quá
muộn so với các nghiệp vụ khác. Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh quốc mà
ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tợng bảo hiểm
của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ
hay gián đoạn" [5, 6].
1.2.2.2.3.Số tiền bảo hiểm
Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất đợc xác
định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh
đợc xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia
bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do ngời đợc bảo hiểm xác
định, đợc tính từ số liệu kế toán của ngời đợc bảo hiểm và phải thể hiện đợc giá trị
lợi nhuận gộp ớc tính trong tơng lai của doanh nghiệp đợc bảo hiểm. Để xác định
giá trị đó, số liệu kế toán của năm gần nhất sẽ đợc sử dụng. Tuy nhiên, thờng thì ng-
ời ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếp nhằm tránh những biến
14
động bất thờng có thể ảnh hởng tới tính chính xác của số liệu. "Khi thời hạn bồi th-
ờng là 12 tháng hoặc thấp hơn, số tiền bảo hiểm phải là giá trị hàng năm của lợi
nhuận gộp. Nếu thời hạn bồi thờng vợt quá 12 tháng số tiền bảo hiểm phải là lợi

(2) trách nhiệm của công ty bảo hiểm, trong mọi trờng hợp, sẽ không vợt quá :
15
(i) Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tơng ứng với mỗi khoản
mục đợc kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm
(ii) Bất cứ trách nhiệm đợc đa ra trong giấy chứng nhận bảo hiểm hay bất cứ
số tiền bảo hiểm nào đợc sửa đổi bởi các sửa đổi bổ sung đính kèm và đ-
ợc ký xác nhận bởi công ty bảo hiểm hay ngời đại diện cho công ty bảo
hiểm" [2, 1].
1.2.2.2.5.Điều khoản loại trừ
"Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quả
của:
-Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém; do
những khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn tự
nhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nớc, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu khác
hay do sự h hỏng của hệ thống thải rác; do ăn mòn, gỉ; do sự thay đổi độ ẩm hay khô
của thời tiết; do nấm mốc mục nát; do hao hụt bay hơi, do h hại do tác động của ánh
sáng, sâu bọ côn trùng; do các hành động lừa dối không trung thực.
-Thiệt hại do những mất mát không giải thích đợc, những thiếu hụt do lỗi kế toán,
lỗi kiểm kê, quản lý hành chính.
-Thiệt hại do đổ vỡ, rạn nứt hay áp suất quá tải của nồi hơi, bình đun bằng hơi, bình
hay đờng ống dò gỉ; do h hỏng trục trặc máy móc thiết bị về đo điện hay cơ khí; vỡ,
tràn nớc, tháo nớc hay dò gỉ.
-Thiệt hại do sự xói mòn của sông biển; sụt lở đất, lún đất.
-Thiệt hại do tài sản bị biến mất, thiếu hụt khi kiểm kê trong quá trình vận chuyển
ngoài khu vực đợc đề cập hoặc không rõ nguyên nhân.
-Thiệt hại do thông tin bị tẩy xoá, mất mát, bóp méo trên hệ thống máy tính hoặc
các chơng trình phần mềm lu trữ số liệu khác.
-Thiệt hại đối với kính lắp cố định, kính và các đồ dễ vỡ khác, các máy điện toán,
các thiết bị xử lý dữ liệu, máy móc thiết bị đang lắp đặt, di chuyển, tài sản đang
16

hiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tơng ứng. Ví dụ, theo biểu phí Bảo
Việt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thờng là 3 tháng thì tỉ lệ phí
bảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%, nếu
12 tháng là 100%. Tuy nhiên, thời hạn bồi thờng tăng đến một mức nhất định thì phí
bảo hiểm có xu hớng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi.
1.2.2.2.6.Thời hạn và phơng thức bồi thờng
Bồi thờng là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm. Trong bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh, rất khó xác định số tiền bồi thờng mặc dù đã có công thức xác định cách giải
quyết tổn thất đợc ghi trong nội dung đơn bảo hiểm. Kế toán của ngời đợc bảo hiểm
thờng tham gia xác định mức lãi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu đợc nếu nh vụ
hoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó không xảy ra.
Vấn đề bồi thờng trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác với bồi thờng trong
thiệt hại vật chất. Nếu nh mục đích của bảo hiểm bồi thờng trong các đơn bảo hiểm
thiệt hại vật chất là đa ngời bảo hiểm trở về vị trí giống nh trớc khi xảy ra tổn thất ,
thì đối với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lại không hoàn toàn nh vậy. Chúng ta hãy
xem xét một ví dụ ngắn. Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ Giáng Sinh.Và hiện giờ
hàng đang trong nhà kho chờ ngày đem bán. Một vụ cháy xảy ra ở nhà kho, phá huỷ
hầu hết số hàng hoá phục vụ cho Giáng Sinh. Nh vậy ta sẽ thấy ngay có một số nhân
tố khiến hầu nh không thể đa ngời đợc bảo hiểm trở về vị trí tài chính giống nh trớc
khi xảy ra tổn thất nh nhà sản xuất đã bỏ lỡ thị trờng, mất khách hàng... Vì vậy, đối
với các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, bồi thờng có thể đợc coi là một nỗ lực
đa ngời bảo hiểm trở về vị trí tài chính mà lẽ ra ngời đó sẽ phải có nếu nh tổn thất
không xảy ra.
Để xác định số tiền thiệt hại lợi nhuận gộp, công thức sau thờng đợc sử dụng:
18
Tỉ lệ lợi nhuận gộp =
lợi nhuận đợc đảm bảo
Tổng giá trị các tài khoản thu nhập liên
quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Thiệt hại doanh

toàn so với đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất, thời hạn bồi thờng trong bảo hiểm gián
đoạn kinh doanh đợc ghi rõ trong đơn bảo hiểm và phải do ngời đợc bảo hiểm tự
chọn.
19
Chơng 2
Thực tiễn triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
tại công ty bảo hiểm Hà nội từ năm 1998 - 2001
2.1. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh tại Công ty bảo hiểm Hà Nội
2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty bảo hiểm Hà Nội
Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội) đợc thành lập từ năm 1980
theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính, và trực
thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là
tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thơng mại trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trải qua 21 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớn
mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Từ lúc đầu thành lập chỉ có 10 cán bộ với một
phòng nhỏ làm trụ sở, đến nay Bảo Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tế
mạnh với đội ngũ hàng trăm cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính khang trang, thành lập
các văn phòng trực thuộc tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố cùng
mạng lới cộng tác viên, đại lý phủ kín các địa bàn dân c của thành phố, sẵn sàng đáp
ứng mọi nhu cầu của nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công ty bảo
hiểm Việt Nam. Theo cơ cấu tổ chức văn phòng hiện nay, song song với nhiệm vụ
khai thác khách hàng, văn phòng công ty có chức năng quản lý và giám sát hoạt
động của các văn phòng địa phơng trực thuộc. Bởi vậy, ngoài các phòng ban phụ
trách các vấn đề tổ chức nhân sự, kế toán,..., những phòng nghiệp vụ ngoài nhiệm vụ
trực tiếp tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ trên địa bàn mà công ty phân cấp còn
có chức năng giúp đỡ các văn phòng tại các quận, huyện trong việc quan hệ với
khách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm, phát hành hợp đồng bảo hiểm, xử lý
khiếu nại, giám định và bồi thờng.

BH
Hai Bà
Trưng
Phòng
BH
Thanh
Xuân
Phòng
BH
Gia
Lâm
Phòng
BH
Đông
Anh
....
Giám đốc
Phó Giám
đốc
Phó Giám
đốc
Phòng
BH
Phi
hàng hải
Phòng
BH
Hàng
hải
Phòng

Trớc điều kiện khó khăn nh vậy, công ty đã tổ chức phục vụ tốt khách hàng để giữ
vững địa bàn và phát triển kinh doanh, đồng thời áp dụng linh hoạt chính sách của
Nhà nớc, các quy định của Tổng công ty vào hoạt động kinh doanh. Một biện pháp
quan trọng Bảo Việt Hà Nội đang thực hiện nhằm cải thiện, nâng cao chất lợng dịch
vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phơng thức hạch toán kinh doanh, giao
khoán cụ thể hoạt động kinh doanh cho từng phòng, và các phòng phải có nhiệm vụ
tơng hỗ nhau nhằm thực hiện chỉ tiêu kinh doanh tốt hơn.
Với phơng châm "phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình", "đáp ứng những cái
khách hàng cần chứ không phải những gì mình có", Bảo Việt Hà Nội đã không
ngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Vì
vậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là ngời bạn đồng hành tin cậy của khách hàng.
Ngoài ra, nhằm đảm bảo khả năng bồi thờng cho khách hàng và năng lực nhận bảo
hiểm cho các dự án đầu t lớn, hiện nay Bảo Việt Hà Nội thông qua Tổng công ty bảo
hiểm Việt Nam đã quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm, các công ty giám định,
điều tra tổn thất có uy tín trên toàn thế giới nh Lloyd's, Commercial Union (UK),
AIG, CIGNA (Mỹ), Tokyo Marine, Yasuda Mitsui Marine (Nhật), Muniche
(Đức),... Trong vài năm gần đây, Bảo Việt Hà Nội đã nhận đợc sự cộng tác, giúp đỡ
tận tình của các công ty này trong việc đánh giá, chấp nhận rủi ro, thanh tra và xử lý
khiếu nại.
22
2.1.2. Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại
Bảo Việt Hà Nội
Mặc dù bảo hiểm hoả hoạn là một nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện từ rất xa xa trong
lịch sử phát triển của bảo hiểm, nhng tại Việt Nam nói chung và tại Bảo Việt Hà Nội
nói riêng, mãi đến ngày 17/1/1989 nghiệp vụ bảo hiểm cháy (hay bảo hiểm hoả
hoạn) mới chính thức đợc triển khai theo quyết định số 06-TC-QĐ của Bộ Tài chính.
Ngay sau khi đợc triển khai, nghiệp vụ bảo hiểm này đã khẳng định ngay vai trò
quan trọng của nó qua việc doanh thu phí bảo hiểm tăng đều đặn qua các năm và
ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ. Bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộng phạm vi của bảo

tỉ lệ rất khiêm tốn so với tổng doanh thu của Bảo Việt Hà Nội. Tuy nhiên, chúng ta
cũng nhận thấy rằng doanh thu của nghiệp vụ này ngày càng tăng cả về số tơng đối
lẫn số tuyệt đối. Trong khi nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nh bảo hiểm trách nhiệm
dân sự xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt,.. đang có xu hớng giảm dần doanh thu
khai thác do phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các công ty bảo hiểm khác
thì nghiệp vụ bảo hiểm này lại đang mang lại cho Bảo Việt Hà Nội doanh thu ngày
càng tăng hơn qua các năm triển khai. Điều đó chứng tỏ bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh là một nghiệp vụ đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn thu không nhỏ cho
Bảo Việt Hà Nội.
Hơn thế, với mục tiêu giữ khách hàng, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng
trong thời buổi cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, cùng với mục tiêu tăng trởng và hiệu
quả, ngoài việc củng cố, hoàn thiện, tiếp tục phát triển các nghiệp vụ truyền thống
có doanh thu cao, Bảo Việt Hà Nội đã và đang tìm cách phát triển các nghiệp vụ khó
khai thác nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy.
2.2. Một số thuận lợi và khó khăn khi tiến hành triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội
2.2.1. Những thuận lợi cơ bản
Khởi xớng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Việt Nam đã thực
hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng dới
sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Có thể nói đây là sự
"cởi trói" tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các đơn vị phát huy tiềm năng, thế
mạnh của mình để mở rộng và thúc đẩy sản xuất phát triển. Đại hội Đảng toàn quốc
VI đợc đánh giá là sự kiện làm "hồi sinh" nền kinh tế xã hội Việt Nam, một bớc
ngoặt của công cuộc đổi mới toàn diện đa đất nớc từ chỗ bế tắc dần dần đi vào thế
ổn định và khởi sắc. Từ đó đến nay, Việt nam đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể
trong phát triển kinh tế xã hội nh giữ vững nền kinh tế tăng trởng và ổn định, khống
24
chế chỉ số lạm phát ở mức vừa phải, tăng đầu t trong nớc và nớc ngoài, tăng thu nhập
doanh nghiệp, nâng cao đời sống ngời dân về kinh tế cũng nh về văn hoá xã hội,...
Điều kiện kinh tế, xã hội càng phát triển, ngời dân không còn chỉ lo nghĩ đến cái ăn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status