PHẦN MỞ ĐẦU
Như chúng ta đều biết, trong một vài năm trở lại đây nền kinh tế nước ta
có những biến đổi sâu sắc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Là một bộ phận của nền kinh
tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng đang từng bước chuyển sang cơ chế thị
trường. Trên thị trường bảo hiểm hiện nay xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm
mới nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm ngày một đa dạng phong phú của người
tham gia. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là một trong số những
nghiệp vụ bảo hiểm mới đó. Nghiệp vụ bảo hiểm này ra đời nhằm khắc phục
những mặt còn thiếu, những mặt còn hạn chế của bảo hiểm hoả hoạn.
Ở Việt Nam hiện nay, nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
tuy không còn xa lạ nhưng để hiểu thấu đáo, tường tận cơ sở lý luận và vận dụng
những cơ sở lý luận đó phù hợp với điều kiện Việt Nam trong quá trình triển
khai nghiệp vụ bảo hiểm không phải là điều đơn giản.
Trong thời gian thực tập tại phòng Marketing thuộc công ty bảo hiểm Hà
Nội, em nhận thấy bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp
vụ bảo hiểm mới nhưng có tiềm năng không nhỏ trên thị trường bảo hiểm Việt
Nam. Song, quá trình triển khai nghiệp vụ này tại Bảo Việt Hà Nội còn tồn tại
một vài điểm bất cập. Với mong muốn, hệ thống hoá các cơ sở lý luận được áp
dụng trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy, nghiên cứu và tìm hiểu
tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này, trên cơ sở đó đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm này tại
Bảo Việt Hà Nội . Nên em chọn “Tình hình triển khai bảo hiểm gián đoạn
kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Kết cấu luận văn, ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Chương 2: Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội
1
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội.
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, mặc dù chịu sự thúc ép từ phía chính
phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưng các công ty bảo hiểm của Anh vẫn
chưa tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm “tổn thất hiệu quả nào”. Có sự chậm
trễ này là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính, xác định
phạm vi bảo hiểm trong điều kiện kinh tế chính trị chưa ổn định. Sau đó, với sự
3
ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commircial Union (1923) và
PolikoffLtd vs North British and Mercantile (1836) mới thực sự đặt nền móng
cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói chung và bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh sau cháy nói riêng hình thành và phát triển.
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh còn được biết đến dưới tên gọi khác như
“Bảo hiểm mất lợi nhuận” hay “tổn thất hậu quả”. Mục đích của nghiệp vụ bảo
hiểm này là bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp mất lợi
nhuận do doanh thu giảm và chi phí hoạt động gia tăng do hoạt động kinh doanh
bị ngừng trệ do hậu quả của một rủi ro hoả hoạn. Tổn thất này thường phát sinh
sau một khiếu nại thiệt hại về tài sản do cháy hay do một số rủi ro đặc biệt
khác.Trong thực tế, khi một doanh nghiệp không may gặp phải rủi ro hoả hoạn
thì doanh nghiệp không những phải gánh chịu những thiệt hại về mặt vật chất
mà doanh nghiệp còn phải gánh chịu những thiệt hại mang tính hậu quả như chi
phí hoạt động gia tăng, chi phí trả lương, trả tiền thuê nhà xưởng… Ngoài ra
doanh nghiệp còn bị tổn thất do lợi nhuận thuần dự kiến thu được đã bị giảm
hoặc mất. Đối với những thiệt hại vật chất trực tiếp, doanh nghiệp có thể khắc
phục nhanh chóng thông qua việc mưa bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt cho
tài sản,với số tiền bồi thường nhận được từ phía bảo hiểm người được bảo hiểm
có đủ tài chính để phục hồi cơ sở hạ tầng, sửa chữa, mua lại các máy móc trang
thiết bị… phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng đơn bảo
hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt không chịu trách nhiệm bồi thường cho những
thiệt hại gián tiếp - những thiệt hại mang tính hậu quả - trong khi doanh nghiệp
lại có nhu cầu được bảo đảm trước các tổn thất này. Do đó, việc xuất hiện bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu tất yếu khách quan.
Các rủi ro đã và đang không chỉ gây lên những tổn thất thiệt hại về tài sản
tính mạng con người mà còn gây ra nhưng tổn thất mang tính hậu quả làm gián
đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn. Hoả hoạn là
một trong những rủi ro gây thiệt hại ghê gớm cho con người. Hoả hoạn xảy ra
do nhiều nguyên nhân, các nguyên nhân gây cháy có thể là do sơ xuất khi dùng
lửa, do vi phạm nội quy an toàn phòng cháy, do nghịch ngợm của trẻ hay do các
sự cố về điện … Phần lớn các nguyên nhân dẫn đến hoả hoạn là do sơ suất hay
5
bất cẩn của con người, hoả hoạn không chỉ gây thiệt hại mang tính thảm hoạ về
tài sản, mà còn ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học
công nghệ đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất kinh doanh, điều
này làm cho qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng
mở rộng, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày càng lớn. Nếu chẳng may xảy ra
hoả hoạn thì hậu quả thường rất lớn và để lại ảnh hưởng lâu dài không chỉ với
chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới cả những cá nhân, doanh nghiệp có
quan hệ thường xuyên với doanh nghiệp.
Để khắc phục những tổn thất này, doanh nghiệp thường áp dụng nhiều biện
pháp khác nhau để bù đắp những tổn thất đó, vay ngân hàng và vay của các tổ
chức tín dụng khác là một trong những biện pháp khá phổ biến, song biện pháp
này lại có bất lợi lớn là mang lại gánh nặng nợ nần cho doanh nghiệp về lâu dài
điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phục hồi sản xuất. Nhưng có thể nói
rằng ngoài biện pháp hiện nay đang được áp dụng rộng rãi, hiệu quả là tham gia
bảo hiểm thì hầu hết các biện pháp còn lại đều chỉ là các biện pháp thụ động.
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy là một trong những nghiệp vụ bảo
hiểm đó.
Sự ra đời của các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh
ổn định tình hình sản xuất, đảm bảo công việc kinh doanh được tiến hành bình
thường. Thông qua việc bồi thường một cách kịp thời, chính xác bảo hiểm đã
2.2. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy góp phần mang lại sự an toàn
trong xã hội, giảm thiểu rủi ro.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, nước ta đã và đang thu hút
được lượng lớn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Các nhà đầu tư, vì mục đích
kinh doanh của mình luôn quan tâm đến việc bảo toàn vốn, làm sao có thể tránh
được các rủi ro đáng tiếc xảy ra với đồng vốn của họ. Song, trong hoạt động sản
xuất kinh doanh thường chứa đựng nhiều rủi ro mang tính ngẫu nhiên bất ngờ có
thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào mà không ai có thể lường trước được.
7
Các công ty bảo hiểm là các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển
giao và phân tán rủi ro, vì vậy để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thu được hiệu quả cao nhất có thể, các doanh nghiệp bảo hiểm luôn tìm
cách giảm thiểu xác suất cũng như mức độ tổn thất của rủi ro. Một biện pháp mà
các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đang áp dụng rất hiệu quả là biện pháp đề
phòng và hạn chế tổn thất. Hàng năm, trên cơ sở số phí thu được, doanh nghiệp
bảo hiểm thường trích ra một khoản theo tỷ lệ nhất định trên cơ sở nguồn phí thu
được để chi cho công tác này. Ở Bảo Việt Hà Nội tỷ lệ này tính cho tất cả các
nghiệp vụ là 0.37% phí thu. Phí thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh sau cháy tất yếu cũng sẽ góp một phần trong đó. Vì vậy có thể nói, bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn
trật tự, an ninh, an toàn xã hội cũng như tạo tâm lý an tâm trong sản xuất kinh
doanh cho các chủ doanh nghiệp.
2.3. Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy góp phần tăng thu cho ngân
sách nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
sau cháy góp phần làm tăng thu cho ngân sách nhà nước. Không những thế,
phần phí tạm thời nhàn rỗi thu được từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh sau cháy tạo ra nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế thông qua hoạt động
đầu tư.
Trên đây là một vài minh chứng cho sự cần thiết khách quan của việc tham
phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ kéo dài hơn. Không giống như thiệt
hại về mặt vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịu trong trường
9
T
12
T
12
T
3
T
6
T
9
Cháy
Doanh thu
(Nguồn: hình 4.1-4/7-112)
Thời kỳ
xây dựng lại
hợp gián đoạn kinh doanh là rất trừu tượng và chỉ có thể được xác định trong
tương lai, tại thời điểm doanh nghiệp của người được bảo hiểm trở lại tình trạng
tài chính như trước khi tổn thất xảy ra. Tóm lại, đối tượng của bảo hiểm kinh
gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình.
Trong biểu đồ trên, người ta giả định một doanh thu tĩnh song thực tế, có
rất nhiều ngành nghề biến động theo mùa, yếu tố này cần được xem xét khi giải
quyết bất kỳ khiếu nại nào. Vì vậy trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói
chung và trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng thường nêu rõ
công thức sẽ được sử dụng khi giải quyết bồi thường
1.2. Thời hạn bồi thường.
Một đặc trưng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là người được
bảo hiểm được chọn một thời hạn bồi thường. Thời hạn bồi thường được định
ít khi thời hạn này được chọn dưới 12 tháng bởi khoảng thời gian đó không đủ
dài để người được bảo hiểm trở lại vị trí tài chính đáng ra doanh nghiệp sẽ đạt
được nếu không xảy ra hoả hoạn. Thời hạn bồi thường tối đa sẽ được ghi rõ
trong phụ lục của hợp đồng .
Thời hạn bồi thường tối đa phụ thuộc vào một số yếu tố sau :
Sự sẵn có của các loại tài sản thay thế.
Thời gian sửa chữa –xây dựng lại các tài sản bị thiệt hại bao gồm cả thời gian
thu dọn hiện trường, thời gian lên kế hoạch, thời gian thiết kế và thời gian xin
các loại giấy phép.
Mức độ sẵn có của nguyên vật liệu.
Thời gian sửa chữa lắp đặt máy móc thiết trang thiết bị.
Khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường của các đối thủ cạnh tranh kéo dài hơn.
Thời gian giành lại khách hàng sau khi hoạt động kinh doanh được khôi phục
hoàn toàn.
Đặc điểm mùa vụ của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đây là một yếu tố quan trọng khi quyết định thời hạn bồi thường tối đa.Ví
dụ như một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hàng hoá phục
vụ giáng sinh có đặc điểm là hoạt động kinh doanh không diễn ra đều đặn trong
cả năm mà phần lớn doanh thu của doanh nghiệp thu được trong trong một vài
11
tháng trước lễ giáng sinh. Giả sử không may xảy ra một vụ hoả hoạn vào thời
điểm gần kết thúc mùa kinh doanh, khi đó nếu thời hạn bồi thường tối đa được
lựa chọn là dưới 12 tháng thì sẽ không đủ dài để đưa người được bảo hiểm về vị
trí tài chính lẽ ra họ có nếu không xảy ra hoả hoạn.
Thời gian tuyển và đào tạo nhân viên mới.
Thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy có thể
trùng với thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt hoặc bắt
đầu sau khi hợp đồng bảo hiểm tổn thất vật chất có hiệu lực nhưng phải không
kéo dài quá thời điểm kết thúc của hợp đồng bảo hiểm đó. Còn thời hạn bồi
thường bắt đầu từ ngày xảy ra hoả hoạn trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng
thất vật chất đối với tài sản được bảo hiểm.
2. Nội dung cơ bản trong hợp động bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng.
2.1. Hợp đồng bảo hiểm.
2.1.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh
nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường
cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2.1.2. Điều kiện pháp lý trong hợp đồng bảo hiểm.
Có hai loại điều kiện pháp lý được áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
Điều kiện ngầm định.
Điều kiện rõ ràng.
a. Điều kiện ngầm định :
Trong thực tế, có những điều kiện ngầm định không được thể hiện bằng
văn bản nhưng hai bên phải luôn tuân thủ trong thời hạn hiệu lực hợp động.
Trong trường hợp các điều kiện này không được tuân thủ, tính hợp lệ của hợp
đồng sẽ không được đảm bảo.
Các điều kiện ngầm định trong hợp đồng bảo hiểm gồm có:
* Quyền lợi được bảo hiểm:
13
Giống như luật bảo hiểm của nhiều nước trên thế giới, trong luật bảo hiểm
Việt Nam có quy định rõ về quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, để có đủ năng
lực pháp lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải là
người có quyền lợi khi đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại. Điều đó có nghĩa là đối
tượng bảo hiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu hay
quyền quản lý hợp pháp của người tham gia bảo hiểm.
* Trung thực tuyệt đối:
Điều kiện “Trung thực tuyệt đối” được áp dụng trong quan hệ kinh doanh
bảo hiểm giữa người bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm. Điều này có
Mẫu đơn bảo hiểm.
a. Giấy yêu cầu bảo hiểm:
Giấy yêu cầu bảo hiểm là cách các công ty bảo hiểm thu thập thông tin có
liên quan tới rủi ro được bảo hiểm. Giấy yêu cầu bảo hiểm gồm có các câu hỏi
chung - riêng, tất cả các câu hỏi đó đều có giá trị đối với doanh nghiệp bảo
hiểm. Bởi đó chính là căn cứ để bên bảo hiểm nghiên cứu, cân nhắc quyết định
chấp thuận hay từ chối bảo hiểm. Người yêu cầu bảo hiểm phải kê khai đầy đủ,
chính xác các thông tin mà phía bảo hiểm yêu cầu. Đối với những thông tin bên
tham gia bảo hiểm không đủ khả năng cung cấp đầy đủ theo yêu cầu của công ty
bảo hiểm thì công ty bảo hiểm hoàn toàn có quyền diễn giải theo ý nghĩa gia
tăng rủi ro trong khi xác định phí.
Mỗi giấy yêu cầu bảo hiểm đều phải có một phần cam kết và một phần
cảnh báo. Nội dung của phần cam kết là thông tin do người yêu cầu bảo hiểm
cung cấp “là hoàn toàn đúng sự thật trong giới hạn tối đa người đó biết và tin
tưởng”. Cam này là cần thiết để thỏa mãn các yêu cầu của nguyên tắc trung thực
tuyệt đối.
Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc, môi giới bảo hiểm hay các
trung gian bảo hiểm. Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thường có những câu hỏi
chung như sau:
Đối với người tham gia yêu cầu bảo hiểm là cá nhân:
- Tên , địa chỉ nghề nghiệp tuổi tác của người yêu cầu bảo hiểm.
15
- Thời hạn bảo hiểm.
- Những khiếu nại trước kia và trong một số trường hợp là những hợp đồng
bảo hiểm trước kia hay những hợp đồng bảo hiểm trước kia.
Đối với trường hợp bên tham gia bảo hiểm là doanh nghiệp:
- Tên của người yêu cầu bảo hiểm (tên doanh nghiệp hoặc tên giao dịch của
doanh nghiệp).
- Địa điểm kinh doanh cũng như các địa điểm hoạt động kinh doanh khác
cần được bảo hiểm của doanh nghiệp.
các nội dung chính sau :
- Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo
hiểm hoặc người thụ hưởng.
- Đối tượng bảo hiểm
- Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
- Phạm vi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm .
- Thời hạn bảo hiểm
- Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí.
- Thời hạn , phương thức bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm .
- Các quy định giải quyết tranh chấp .
- Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài ra, nếu phía bảo hiểm muốn có thêm thông tin khác về đối tượng
được bảo hiểm ngoài những thông tin có trong giấy yêu cầu bảo hiểm thì có thể
đưa ra các câu hỏi khác trong phụ lục hợp đồng. Phụ lục hợp đồng thể hiện các
đặc điểm riêng có của người được bảo hiểm.
2.2. Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy.
Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống như bất kỳ một hợp đồng
bảo hiểm nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng như đặc điểm của một hợp
đồng bảo hiểm như đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, do tính đặc thù của nghiệp vụ
bảo hiểm này nên hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy còn mang
những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác.
2.2.1. Một số khái niệm.
17
Có ba loại thiệt hại gián tiếp mà doanh nghiệp phải gánh chịu do hậu quả
của vụ cháy của vụ cháy: thiệt hại về lợi nhuận thuần, các chi phí cố định mà
doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chi trả và các khoản chi phí hoạt động gia tăng.
Do đó để xác định rõ đối tượng bảo hiểm trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh sau cháy cần thống nhất một số khái niệm sau:
- Doanh thu: là số tiền được trả hoặc có thể được trả cho doanh nghiệp cho
các hàng hoá được bán hoặc phân phối cho các dịch vụ trong qua trình tiến hành
hoặc muộn hơn ngày bắt đầu của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt. Ngày
chấm dứt vào ngày được quy định cụ thể trong phụ lục có thể sớm hơn hoặc
trùng với ngày chấm dứt hợp đồng bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt. Điều này có
nghĩa: thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy nằm
trong thời hạn bảo hiểm của đơn bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt.
- Thời hạn bồi thường: Là khoảng thời gian mà trong suốt khoảng thời gian
đó kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng do hậu qủa của sự ngừng
trệ kinh doanh, thời hạn bồi thường được tính từ ngày xảy ra hoả hoạn và không
kéo dài hơn thời hạn bồi thường tối đa do người được bảo hiểm do người được
bảo hiểm lựa chọn.
2.2.2. Đối tượng bảo hiểm.
Như đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
sau cháy, đối tượng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình.
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy bồi thường cho phần lợi nhuận gộp bị
mất vì doanh thu giảm và chi phí hoạt động gia tăng. Không giống như các loại
nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tượng bảo hiểm là hữu hình, đối
tượng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói chung và bảo hiểm
gián đoạn kinh doanh sau cháy nói riêng do tính trừu tượng. Chính điều nàyđã
gây không ít khó khăn cho các nhà bảo hiểm. Đây cũng chính là lý do khiến cho
một nghiệp vụ bảo hiểm quan trọng như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau
cháy ra đời muộn hơn hẳn so với các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Theo đơn bảo
hiểm gián đoạn kinh doanh của Anh (ABI), thì đối tượng của bảo hiểm gián
đoạn kinh doanh là:
19
“tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệ hay gián đoạn kinh doanh
phát sinh sau một rủi ro hoả hoạn đối với đối tượng được bảo hiểm tại địa điểm được
bảo hiểm”.
2.2.3. Phạm vi bảo hiểm và rủi ro bảo hiểm.
a. Phạm vi bảo hiểm:
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy chịu trách nhiệm bồi thường cho
bởi điều này giúp người bảo hiểm quản lý rủi ro hiệu qủa nhất. Chính vì thế, mà
hầu hết các công ty bảo hiểm trên thế giới đã ghép loại hình bảo hiểm gián này
vào đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt và biến nó thành một bộ phận của
đơn bảo hiểm này.
Có một số tổn thất mà doanh nghiệp phải gánh chịu do hậu quả của vụ cháy
nhưng không được bồi thường trong cả đơn bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
và đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy. Các tổn thất đó không được
loại trừ một cách cụ thể trong hai đơn bảo hiểm này nhưng đó là các tổn thất
nằm ngoài phạm vi bảo hiểm của các đơn bảo hiểm tiêu chuẩn, các tổn thất này
bao gồm:
- Bảo hiểm thiệt hại vật chất dưới giá trị.
- Chênh lệch giữa giá trị của hàng hóa tại thời điểm xảy ra thiệt hại với giá
trị của hàng hoá tại thời điểm thay thế.
- Giảm giá của hàng hoá không bị thiệt hại sau khi xảy ra cháy.
- Chi phí chuẩn bị cho các khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm.
- Chi phí tố tụng liên quan đến khiếu nại bảo hiểm.
- Các khoản tiền phạt hay các khoản thiệt hại theo hợp đồng phát sinh từ
việc vi phạm hợp đồng do vụ cháy gây ra (trừ khi có thoả thuận khác trong hợp
đồng).
- Khiếu nại của bên thứ ba.
- Tổn thất do mất tín nhiệm.
- Tổn thất do không đòi được các khoản nợ vì tài liệu ghi chép, lưu trữ bị
phá huỷ.
b. Rủi ro có thể được bảo hiểm và rủi ro loại trừ:
21
Như đã trình bầy ở phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau
cháy thì rủi ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy, trừ những
trường hợp loại trừ, phải trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm cháy và rủi ro
đặc biệt. Theo đó, ta có:
* Các rủi ro có thể được bảo hiểm:
thường. Rủi ro không được bảo hiểm bao gồm:
Các thiệt hại do nổi loạn, bạo động dân sự, quần chúng nổi dậy, bãi công
sa thải công nhân, chiến tranh xâm lược các hành động thù địch của nước ngoài,
chiến sự nổi loạn, cách mạng binh biến bạo động, đảo chính, khủng bố hay bất
cứ nguyên nhân nào quyết định việc tuyên bố duy trì và duy trì tình trạng bao
vây, thiết quân luật.
Những thiệt hại cho bất cứ tài sản tổn thất hay chi phí phát sinh hay tổn
thất hậu quả nào trực tiếp hay gián tiếp gây ra cấu thành hoặc phát sinh từ vũ khí
hạt nhân …
Những thiệt hại do ô nhiễm môi trường nhưng không loại trừ tổn thất phát
sinh từ thiệt hại cho tài sản của người được bảo hiểm sử dụng trong nhà cho mục
đích kinh doanh mà không loại trừ ở mục khác gây ra bởi: ô nhiễm tại khu nhà
được bảo hiểm nếu sự ô nhiễm này phát sinh bởi rủi ro được bảo hiểm hay bất kì
rủi ro nào phát sinh do hậu quả của sự ô nhiễm
2.2.4. Số tiền bảo hiểm.
Khác với các số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm khác, số tiền
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy được xác định dựa trên giá trị lợi
nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm do
người được bảo hiểm xác định dựa trên số liệu sổ sách kế toán của người được
bảo hiểm có sự điều chỉnh với tốc độ tăng trưởng doanh thu và lạm phát trong
tương lai để đảm bảo thể hiện được giá trị lợi nhuận gộp ước tính đạt được
trong tương lai của doanh nghiệp được bảo hiểm. Thông thường người ta sử
dụng số liệu kế toán của hai ba năm liên tiếp thay vì sử dụng số liệu kế toán của
năm tài chính gần nhất để loại trừ ảnh hưởng của những biến động bất thường có
thể ảnh hưởng tới độ chính xác của số liệu.
23
Thông thường số liệu kế toán của năm tài chính gần nhất sẽ được sử dụng.
Song, để loại trừ ảnh hưởng của những biến động bất thường tới độ chính xác
của số liệu thì người ta thường sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên
tiếp.
Doanh thu 1.500.000
Giá trị hàng tồn cuối kì 36.000
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kì 9.000
Tổng cộng: 1.545.000
b, Chi phí hoạt động không được bảo hiểm
Giá trị hàng tồn đầu kì 40.000
Chi phí sản xuất dở dang đầu kì 10.000
Chi phí nguyên vật liệu 500.000
Chi phí bao gói 46.000
Chi phí chuyên chở 30.000
Nợ phải thu khó đòi 3.000
Tổng cộng: 629.000
Do người yêu cầu bảo hiểm yêu cầu người bảo hiểm, bảo hiểm cho 80%
chi phí thắp sáng và chi phí đốt nóng, bỏ qua chi phí về điện nên trong phần chi
phí hoạt động không được bảo hiểm phải tính thêm 20 % chi phí thắp sáng, và
100 % chi phí về điện. Hay ta có: 629.000
20% chi phí thắp sáng 2.000
100% chi phí về điện 10.000
Tổng cộng: 641.000
Từ a và b ta xác định được lợi nhuận gộp = ( a ) - ( b ) = 1.545.000 - 641.000
= 904.000
Song con số lợi nhuận gộp tính được ở trên chỉ là số lợi nhuận gộp của năm
tài chính trong quá khứ. Để đảm bảo con số tính toán được là sát nhất với kết
25