Trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
Khoa kinh tÕ vµ kinh doanh quèc tÕ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆPMỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN QUY TRÌNH NHẬP
KHẨU SÁCH BÁO CỦA CÔNG TY XUẤT NHẬP
KHẨU SÁCH BÁO VIỆT NAM
Gi¸o viªn híng dÉn
: TS. MAI THẾ CƯỜNG
Sinh viªn thùc hiÖn
: PHẠM TUẤN ĐẠT
Líp
: kinh doanh quèc tÕ 46a
Hµ Néi -2008
Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
Mục lục 1
PHẦN MỞ ĐẦU 4
Chương 1: Một số vấn đề chung về quy trình nhập khẩu 7
1. Giới thiệu quy trình nhập khẩu 7
1.1. Khái niệm nhập khẩu 7
1.2. Quy trình nhập khẩu 7
1.3. Các bước tiến hành trong quy trình nhập khẩu 9
1.3.1 Nghiên cứu thị trường 9
1.3.2 Công tác chuẩn bị ký kết hợp đồng 15
1.3.3 Đàm phán ký kết hợp đồng 15
1.3.4 Ký kết hợp đồng 18
1.3.5 Thực hiện hợp đồng 26
2.4. Môi truờng kinh doanh xuất bản phẩm 50
3. Thực trạng quy trình nhập khẩu của Xunhasaba 54
3.1. Nghiên cứu thị trường 54
3.2. Định giá cho các xuất bản phẩm nhập khẩu 54
3.3. Đặt hàng và ký kết hợp đồng nhập khẩu 55
3.4. Thực hiện hợp đồng nhập khẩu gồm 4 khâu 55
3.4.1 Xin giấy phép nhập khẩu 55
3.4.2 Thuê phương tiện nhập khẩu 56
3.4.3 Làm thủ tục hải quan và nhận hàng 56
3.4.4 Thanh toán và khiếu nại 57
3.5. Cơ cấu và quy mô nhập khẩu 57
3.6. Các nhà cung cấp 60
3.7. Thị trường trong nước và khách hàng 62
4. Các yếu tố đánh giá quy trình nhập khẩu của Xunhasaba 64
4.1. Bảo đảm thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu 64
4.2. Tổng thời gian thực hiện quy trình 64
4.3. Phối hợp các bước trong quy trình 65
4.4. Mức độ hoàn thành mỗi bước trong quy trình 65
4.5. Mức độ hài lòng của khách hàng 66
5. Các yếu tố ảnh hưởng quy trình nhập khẩu của Xunhasaba 66
5.1. Các nhân tố văn hóa xã hội, thị hiếu tiêu dùng 66
3
Chuyên đề thực tập
5.2. Các nhân tố về chính sách của Nhà nước và luật pháp 67
5.3. Nhu cầu khách hàng và trình độ dân trí 68
5.4. Ảnh hưởng do mối quan hệ bạn hàng 69
5.5. Ảnh hưởng tổ chức quy trình làm việc 70
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của công ty
Xunhasaba 71
,những sản phẩm mang giá trị cao về văn hóa con người và thiên nhiên, là kết tinh
của những điều con người khám phá đuợc trên thế giới xung quanh. Doanh nghiệp
kinh doanh xuất bản phẩm, do vậy phải bảo đảm sự đóng góp cho xã hội và hiệu
quả kinh tế của mình.
Công ty xuất nhập khẩu sách báo là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô
vừa. Ngoài hiệu quả kinh tế mà hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu sách báo
mang lại, công ty luôn thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền chính trị đối ngoại, góp
phần giao lưu văn hoá trong khu vực và quốc tế.
Nhận thức được ý nghĩa, vai trò quan trọng của hoạt động kinh doanh nhập
khẩu sách báo của công ty trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là hoạt động nhập
khẩu, Em chọn đề tài “ Hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của công ty
Xunhasaba” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Chuyên đề sẽ nghiên cứu tình hình
5
Chuyên đề thực tập
kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm trong thời gian gần đây nhằm có được
những đánh giá cần thiết về thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp góp
phần hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của công ty.
Bản chuyên đề được trình bày trong ba chương:
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU
Chương II: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH NHẬP KHẨU SÁCH BÁO
CỦA CÔNG TY XUNHASABA.
Chương III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU
SÁCH BÁO CỦA CÔNG TY XUNHSABA
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu sách báo tại công ty Xunhasaba trong cơ
chế thị trường hiện nay rất đa dạng và phức tạp. Do khả năng nghiên cứu cũng
nhiều hạn chế, thời gian lại ngắn, bằng những kiến thức, lý luận cũng rất giới hạn,
khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, em tin chắc rằng chuyên đề không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được các thày cô giáo trong khoa Kinh tế và
Kinh doanh Quốc tế trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng như các anh chị đồng
Bảng biểu và Sơ đồ:
+Qua phân tích, tổng hợp báo cáo tổng kết của Xunhasaba lập 2 bảng:
Bảng 1: Chủng loại hàng nhập khẩu của Xunhasaba (2003-2007) (tr59)
Bảng 2: Cơ cấu khách hàng trong nước (tr63)
+ Tổng hợp từ tư liệu trong giáo trình kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương và một số
tài liệu về marketing :
Sơ đồ 1: Các bước thực hiện hợp đồng XK thanh toán bằng phương thức thư tín
dụng L/C (tr26)
Sơ đồ 2: Các bước thực hiện hợp đồng xuất khẩu thanh toán bằng phương thức thư
tín dung L/C (tr27)
Sơ đồ 3: Các bước thực hiện nghiên cứu thị trường (tr80)
7
Chuyên đề thực tập
8
Chuyên đề thực tập
Chương I: Một số vấn đề chung về quy trình nhập khẩu
1. Giới thiệu quy trình nhập khẩu :
1.1. Khái niệm nhập khẩu :
Theo lý luận thương mại quốc tế, nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng
hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất
nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên
theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán của IMF, chỉ có việc mua các hàng
hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn
việc mua dịch vụ được tính vào cán cân phi thương mại (nguồn:
www.wikipedia.com).
1.2. Quy trình nhập khẩu :
Quy trình nhập khẩu là một quá trình bao gồm các bước cần được thực hiện
kinh tế. Đặc biệt trong xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá hiện nay, vai trò của
nhập khẩu đối với nền kinh tế nước ta được thể hiện ở các khía cạnh sau.
- Nhập khẩu thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một
sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác tối đa tiềm năng và khả năng của
nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
- Nhập khẩu vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất vừa đáp ứng nhu cầu trực tiếp
của nhân dân về hàng tiêu dùng, tạo việc làm ổn định cho người lao động góp
phần cải thiện và nâng cao khả năng tiêu dùng, mức sống của dân cư.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển góp phần nâng cao
chất lượng hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng Việt
nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước xuất khẩu.
10
Chuyên đề thực tập
1.3. Các bước tiến hành trong quy trình nhập khẩu
Xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phục vụ
hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Song hoạt động mua bán ở đây có
những nét riêng phức tạp hơn trong nước như giao dịch với các doanh nghiệp, các
tổ chức, các cá nhân có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn khó kiểm soát,
mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng cao, đồng tiền thanh toán bằng ngoại tệ
mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới…
Hoạt động nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ nhiều
khâu từ nghiên cứu thị trường, lựa chọn hàng hoá nhập khẩu, thương nhân giao
dịch, tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng, tổ chức thực hiện hợp đồng, giải quyết
tranh chấp (nếu có). Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ này phải được nghiên cứu đầy đủ kỹ
lưỡng và trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm
bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Đối với người tham gia hoạt động nhập khẩu trước khi thực hiện các nghiệp
mặt hàng đó như thế nào? Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
Có những mặt hàng có những thói quen và tập quán tiêu dùng riêng, nó thể
hiện ở thời gian tiêu dùng do đó nó sẽ ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu về
mặt hàng đó trên thị trường. Mặt khác mỗi sản phẩm đều có vòng đời của nó,
thể hiện qua các pha triển khai, tăng trưởng, chín muồi, bão hoà và suy thoái.
Một nhà kinh doanh XNK nhất thiết phải nắm được những điều này vì đây là
những điều rất cơ bản trong kinh doanh. Qua việc nắm bắt những điều này mỗi
nhà kinh doanh sẽ hình thành được những định hướng kinh doanh của mình.
- Tình hình sản xuất mặt hàng đó như thế nào? Khả năng sản xuất và tốc độ sản
xuất các mặt hàng đó ra làm sao?
- Tỷ suất ngoại tệ ảnh hưởng tới mặt hàng đó như thế nào? Có lợi cho việc xuất
khẩu hơn hay nhập khẩu hơn?
- Chính sách của nhà nước về mặt hàng đó? Nhà nước có xu hướng khuyến
khích nhập khẩu hay xuất khẩu. Điều này được thể hiện qua các hạn ngạch
XNK và thuế xuất đánh vào từng mặt hàng.
b. Nghiên cứu thị trường nước ngoài
12
Chuyên đề thực tập
Nghiên cứu thị trường nước ngoài cũng phải trải qua các bước như thị trường
trong nước, ngoài ra còn phải chú ý thêm các điều kiện về tiền tệ và tín dụng,
điều kiện vận tải, tình hình giá cả Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu, phải
tìm hiểu được thị trường cung ứng của mình, nói cách khác là phải biết được
ưu và nhược điểm giữa những điều kiện cần thiết cho mặt hàng mình định nhập
khẩu với người cung ứng. Trên cơ sở tình hình cạnh tranh của những nhà cung
ứng, nhà kinh doanh nhập khẩu có thể dựa vào đó để đưa ra những đòi hỏi của
mình sao cho hàng hoá nhập khẩu là có lợi nhất. Còn đối với doanh nghiệp
xuất khẩu phải xác định được việc đưa mặt hàng vào đâu, vào thời điểm nào,
cần có những dịch vụ gì kèm theo và nếu cần phải có một hình thức Marketing
như thế nào? Cần phải có một sự khách quan và tinh tế cần thiết khi nghiên
các nước giữ vai trò chủ yếu trong việc XNK những hàng hoá mà doanh
nghiệp kinh doanh đang quan tâm. Những nhân tố này rất quan trọng vì nó có
khả năng ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng XNK hàng hoá.
- Một nhân tố khác cũng làm cho dung lượng thị trường hàng hoá biến đổi có
tính chất chu kỳ đó là thời vụ. Nhân tố này ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường
hàng hoá trong cả 3 khâu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Tuy nhiên do đặc
điểm của sản xuất lưu thông và tiêu dùng các loại hàng hoá rất khác nhau nên
sự ảnh hưởng của nhân tố này đối với thị trường hàng hoá cụ thể cũng rất đa
dạng về phạm vi và mức độ.
Nhóm nhân tố thứ hai: Là nhóm các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự
biến đổi của dung lượng thị trường. Các nhân tố trong nhóm này rất đa dạng,
chúng ảnh hưởng đến sự biến đổi của dung lượng thị trường hàng hoá trong một
thời gian tương đối dài như tiến bộ KHKT, các biện pháp chế độ chính sách của
nhà nước, thị trường và tập quán của người tiêu dùng, ảnh hưởng của các hàng hoá
thay thế
Nhóm nhân tố thứ ba: Là nhóm các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với
dung lượng thị trường. Trong nhóm nhân tố này có thể kể ra các nhân tố về rủi ro
14
Chuyên đề thực tập
như thiên tai, bão lụt, hạn hán hay như hiện tượng đầu cơ tích trữ trên thị
trường. Các nhân tố này chỉ có ảnh hưởng tới thị trường trong một thời hạn nhất
định. Tuy nhiên chúng cũng có thể làm thay đổi cả một kế hoạch XNK, nhóm
nhân tố này thường mang tính bất ngờ, do đó mặc dù chỉ ảnh hưởng trong một
khoảng thời gian nhất định nhưng chúng có thể gây ra những đột biến của dung
lượng thị trường trong khoảng thời gian ấy.
Trên đây là những nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi dung lượng thị
trường, như ta thấy chúng rất nhiều và đa dạng do đó đòi hỏi các nhà kinh doanh
XNK khi nghiên cứu thị trường hàng hoá khác nhau phải căn cứ vào đặc điểm của
chúng để đánh giá đúng ảnh hưởng của các nhân tố. Điều quan trọng khi phân tích
giá khác nhau, thậm chí cho cùng một loại hàng hoá. Khi cung vượt cầu thì tổ
chức lũng đoạn khống chế cả sản xuất và tiêu dùng, họ không giảm giá mà thi
hành biện pháp thu hẹp sản xuất để giảm cung.
- Nhân tố cung cầu: Là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng cung
cấp hoặc khối lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường do vậy ảnh hưởng
lớn tới giá cả.
- Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa người bán với người
bán, người mua với người mua. Trong thực tế, cạnh tranh thường làm cho giá
cả hàng hoá rẻ hơn.
- Nhân tố lạm phát: Trong nền kinh tế hiện đại, lạm phát là căn bệnh mãn tính
của tất cả các quốc gia. Sự xuất hiện của lạm phát làm cho đồng tiền mất giá
dẫn đến giá cả tăng và biến động rất lớn.
Ngoài những nhân tố chủ yếu trên, giá cả của hàng hoá còn chịu tác động
của các nhân tố khác như: chính sách của chính phủ, tình hình an ninh chính trị
của các quốc gia.
Việc nghiên cứu và tính toán một cách chính xác giá cả của hàng hoá nhập
khẩu là một công việc khó khăn đòi hỏi phải được xem xét trên nhiều khía cạnh,
nhưng đó lại là một nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả của hợp đồng kinh
doanh trong thương mại Quốc tế.
16
Chuyên đề thực tập
1.3.2 Công tác chuẩn bị ký kết hợp đồng:
Việc ký kết hợp đồng là một trong những khâu quan trọng trong kinh doanh
XNK. Trước khi bắt tay vào việc ký kết hợp đồng doanh nghiệp phải thực hiện các
nội dung sau:
- Nghiên cứu tình hình thị trường các nước và khu vực cũng như thị trường của
mặt hàng định XNK, đây là một công việc mang tính thường xuyên của doanh
nghiệp kinh doanh XNK để có thể đề ra những biện pháp thích hợp và kịp thời
tại bất cứ thời điểm nào.
Kiên nhẫn theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư liên tiếp và quan hệ trong thời
gian dài. Kinh nghiệm cho thấy rằng, khi lựa chọn những khách hàng quen biết, có
giao dịch thư từ trước đó, được ưu tiên hơn những khách hàng mới xuất hiện lần
đầu. Tuy nhiên việc đàm phám bằng thư tín vẫn là lịch sự và trang trọng nhất.
b. Đàm phán qua điện thoại
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch tiến hành
đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần thiết. Nhưng phí tổn điện
thoại giữa các nước rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại thường phải hạn chế
về mặt thời gian, các bên không thể trình bày chi tiết, mặt khác trao đổi qua điện
thoại là trao đổi bằng miệng, không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận,
quyết định trong trao đổi bởi vậy điện thoại chỉ được dùng trong những trường
hợp cần thiết, thật khẩn trương, sợ lỡ thời cơ, hoặc trong những trường hợp mà
mọi điều kiện đã thảo luận xong, chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết … Khi phải
sử dụng điện thoại, cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề
được nêu lên một cách chính xác. sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác
nhận nội dung đã đàm phán thoả thuận.
c. Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp
Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi mọi điều kiện buôn bán là
một hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi
vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín,
điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả. Hình thức đàm phán này
18
Chuyên đề thực tập
thường được dùng khi có nhiều điều cần phải giải thích cặn kẽ để thuyết phục
nhanh, hoặc về những hợp đồng lớn phức tạp. Đàm phán trực tiếp đòi hỏi người
tiến hành đàm phán phải chắc chắn về nghiệp vụ, tự chủ, phản ứng nhanh nhạy
để có thể tỉnh táo, bình tĩnh nhận xét, nắm được ý đồ, sách lược của đối phương,
nhanh chóng có biện pháp đối phó trong những trường hợp cần thiết hoặc quyết
định ngay tại chỗ khi thấy thời cơ ký kết đã chín muồi.
- Hoàn giá: Khi một bên nhận được chào hàng (hoặc đặt hàng) mà không chấp
nhận hoàn toàn với chào hàng (hoặc đặt hàng) đó, người ta đưa ra một đề nghị
mới thì đề nghị này gọi là hoàn giá. Khi có hoàn giá, chào hàng trước đó coi
như huỷ bỏ. Trong buôn bán quốc tế, mỗi lần giao dịch thường trải qua nhiều
lần hoàn giá mới đi đến kết thúc.
- Chấp nhận: Chấp nhận là sự đồng ý vô điều kiện của chào hàng (hoặc đặt
hàng) của người bán hoặc người mua mà bên kia đưa ra. Điều đó có nghĩa là
người nhận giá đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng (đặt
hàng) trong thời hạn hiệu lực của chúng và sự đồng ý vô điều kiện này được
truyền đạt tới người phát ra đề nghị. Khi đó, một hợp đồng sẽ được xác lập.
- Xác nhận: Xác nhận là một văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận thống nhất
giữa người mua và người bán. Thông thường nó được thành lập hai bản, bên
xác nhận ký trước rồi chuyển cho bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản và
gửi trả lại một bản. Sau khi nhận được thư chào hàng hay đặt hàng và có sự trả
lời từ phía bên kia, hai bên tổ chức thương lượng để đi đến một thoả thuận
chung về điều kiện mua bán. Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các
điều kiện mua bán giữa các nhà kinh doanh để đi đến thống nhất ký kết hợp
đồng.
1.3.4 Ký kết hợp đồng:
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng
xuất nhập khẩu. Hợp đồng xuất nhập khẩu là hợp đồng kinh tế đặc biệt mà người
bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và người mua
có nghĩa vụ trả một khoản tiền theo trị giá hợp đồng cho người bán.
20
Chuyên đề thực tập
Hình thức hợp đồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các
đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu ở nước ta. Các điều khoản trong hợp đồng do
bên mua và bên bán tự nguyện thoả thuận một cách chi tiết. Mặc dù trước đó đã có
đơn hàng hoặc chào hàng, nhưng hai bên vẫn phải thiết lập một văn bản hợp đồng
vào trong hợp đồng; Nhóm điều khoản tuỳ ý là các thoả thuận khác mà hai bên
thấy cần thiết phải có trong hợp đồng.
Thông thường nội dung của một hợp đồng xuất nhập khẩu bao gồm những
điều khoản chính sau đây:
(1) Tên hàng
Tên hàng là một điều khoản quan trọng của hợp đồng kinh doanh xuất
nhập khẩu. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Vì vậy người ta luôn
tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng.
Có nhiều cách để ghi tên hàng, thông thường người ta ghi tên của hàng hoá
và kèm theo nó một hoặc một số đặc tính. Các đặc tính đó có thể là: Tên thông
thường, tên khoa học, tên thương mại, địa phương sản xuất, hãng sản xuất, quy
cách chính của hàng hoá, nhãn hiệu của hàng hoá, công dụng của hàng hoá, số
hiệu hạng mục của hàng hoá trong danh mục hàng hoá thống nhất.
(2) Số lượng và cách xác định
Đây là điều khoản nói nên mặt lượng của hàng hoá giao dịch. Điều khoản
này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng, phương pháp quy định trọng
lượng và phương pháp xác định trọng lượng.
Về đơn vị tính số lượng (trọng lượng): Hàng hoá phải được quy định
thống nhất ở một đơn vị đo cụ thể, bởi vì trong buôn bán quốc tế, ngoài hệ đo
lường mét, người ta áp dụng nhiều hệ thống đo lường khác mà nhiều đơn vị có
cùng tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có nội dung khác nhau.
Về phương pháp quy định số lượng: Hai bên có thể quy định chính xác số
lượng hàng hoá giao dịch (đối với hàng hoá có thể) hoặc quy định phỏng chừng số
lượng hàng hoá (đối với hàng hoá có khối lượng lớn, khó cân đong, đo đếm chính
xác được)
22
Chuyên đề thực tập
(3) Quy cách phẩm chất và cách xác định
Phẩm chất là điều khoản nói lên mặt chất của hàng hoá mua bán, nghĩa là
(5) Điều kiện cơ sở giao hàng
Điều kiện cơ sở giao hàng là điều kiện cơ bản trong hợp đồng thương mại
Quốc tế. Nó phản ánh mối quan hệ hàng hoá với điều kiện giao hàng (như địa
điểm giao hàng và các yếu tố cấu thành giá)
Điều kiện cơ sở giao hàng quy định những cơ sở có tính nguyên tắc của
việc giao nhận hàng hoá giữa bên bán và bên mua về sự phân chia trách nhiệm
trong việc giao nhận hàng, sự phân chia về chi phí và sự di chuyển rủi ro, tổn thất
về hàng hoá từ người bán sang người mua.
Tuỳ theo khả năng thuê tàu của các bên mà có thể quy định những điều
kiện cơ sở giao hàng khác nhau cho từng nhóm hàng khác nhau. Có khi thiết bị
được giao theo điều kiện FOB (cảng bên bán) còn phụ tùng vật liệu được giao theo
điều kiện CIF (cảng bên mua), cũng có khi cả đối tượng mua và bán đều được giao
theo một điều kiện cơ sở giao hàng.
Ở Việt nam, do đội tàu chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu về vận
chuyển, do vậy phía ta thường nhường quyền thuê tàu cho bên bán và nhập khẩu
theo điều kiện CIF.
(6) Giá cả
Giá cả là một điều kiện quan trọng, quyết định tính hiệu quả của hoạt động
nhập khẩu. Điều khoản này cần xác định được đồng tiền tính giá, mức giá, phương
pháp xác định giá cả, cơ sở của giá và việc giảm giá.
Giá cả hàng hoá trong thương mại quốc tế có thể được tính bằng đồng tiền
của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba. Việc lựa chọn đồng
tiền tính giá thường tuân theo tập quán buôn bán hiện hành. Song quan trọng hơn
là thị trường thuộc về ai và người đó muốn dùng đồng tiền nào để tính giá. Người
xuất khẩu thì muốn chọn đồng tiền tương đối ổn định, còn người nhập khẩu thì lại
muốn chọn đồng tiền đang có xu hướng mất giá. Tuy vậy đồng tiền tính giá phải là
đồng tiền mạnh có khả năng chuyển đổi.
24
Chuyên đề thực tập
25