LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế nước ta, trong những năm gần đây
nhu cầu về vận chuyển hàng hóa, hành khách ngày càng gia tăng đã kéo theo sự gia
tăng đáng kể về số lượng các phương tiện vận tải. Tuy nhiên, do điều kiện về cơ sở
hạ tầng giao thông nước ta còn nhiều bất cập, trong khi đó ý thức chấp hành luật lệ an
toàn giao thông của người dân chưa cao đã dẫn đến phát sinh nhiều hệ lụy, đặc biệt là
vấn đề tai nạn giao thông đã trở thành vấn nạn của xã hội. Mặc dù chính phủ, các cấp,
các ngành đã và đang thực hiện nhiều biện pháp tích cực nhưng tình trạng tai nạn
giao thông không những không được kiềm chế mà còn diễn biến hết sức phức tạp.
Hàng năm có đến hàng vạn người chết và bị thương, thiệt hại về vật chất là vô cùng
to lớn và trở thành nỗi ám ảnh của mọi người, nhất là đối với chủ nhân có các
phương tiện tham gia giao thông.
Trước thực trạng đó, nhu cầu về bảo hiểm xe cơ giới ngày càng được các chủ xe
quan tâm và xem đây là một trong những biện pháp tích cực để khắc phục những hậu
quả khôn lường do tai nạn giao thông gây ra, qua đó giúp họ ổn định về mặt tài chính
và an tâm hơn trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình khi đã chuyển giao rủi
ro cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Trong số những nghiệp vụ mà các công ty bảo hiểm phi nhân thọ triển khai, bảo
hiểm kết hợp xe cơ giới (chủ yếu là bảo hiểm vật chất và bảo hiểm trách nhiệm dân
sự (TNDS) của chủ xe cơ giới với người thứ ba) là một nghiệp vụ chủ yếu. Ở Công
ty Cổ phần bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội (ABIC- Hà Nội), nghiệp vụ
này luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng doanh thu. Tuy nhiên, công tác giám
định và bồi thường nghiệp vụ này ở ABIC- Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Với mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả, ABIC- Hà Nội không thể không chú
trọng đến công tác nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán hàng vì chỉ có giải quyết tốt
nhu cầu khách hàng, doanh nghiệp mới có đủ uy tín để tồn tại trong một môi trường
cạnh tranh đầy năng động như hiện nay.
1
Vì lý do trên, em đã chọn đề tài “ Thực trạng công tác giám định, bồi thường và
đề phòng hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Cổ phần Bảo
hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội (ABIC- Hà Nội) để nghiên cứu.
thông, sử dụng các thiết bị an toàn trên phương tiện, xây dựng hệ thống đường giao
thông hoàn thiện…Đồng thời, nhằm bù đắp những tổn thất về người và tài sản do
những rủi ro này gây ra, công cụ bảo hiểm ra đời và trở thành biện pháp hữu hiệu
nhất hiện nay.
Khi những rủi ro bất ngờ xảy ra với người điều khiển phương tiện xe cơ giới,
không chỉ gây ra những thiệt hại về người và của cho bản thân người đó mà còn có
thể phát sinh trách nhiệm của họ đối với tài sản và người mà phương tiện mình gây ra
cho người thứ ba. Do vậy, bảo hiểm phương tiện xe cơ giới gồm hai loại bảo hiểm
vật chất cho chính phương tiện đó ( được gọi là bảo hiểm vật chất xe cơ giới) và bảo
hiểm trách nhiệm với người thứ ba có thể phát sinh khi xe đó gặp rủi ro ( còn gọi là
bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3).
Xe cơ giới được hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng
động cơ của chính nó như: ô tô, xe gắn máy, mô tô và để đối phó với các rủi ro tai
nạn bất ngờ có thể xảy ra gây tổn thiệt hại về giá trị chiếc xe, các chủ phương tiện
này thường tham gia bảo hiểm một số hình thức bảo hiểm vật chất xe khác nhau. Ví
dụ:
+ Đối với xe máy hoặc xe mô tô, chủ phương tiện tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân
sự, tại nạn người ngồi…
+ Đối với xe ô tô, chủ phương tiện có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ hoặc cũng có
thể bảo hiểm từng bộ phận của xe như: tổng thành thân vỏ, tổng thành động cơ, tổng
thành hộp số…
Trong hợp đồng bảo hiểm xe, các rủi ro được bảo hiểm hay phạm vi bảo hiểm thông
thường bao gồm:
3
+ Tai nạn do đâm va, lật đổ.
+ Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá...
+ Mất cắp toàn bộ xe ( với ô tô nếu mất cắp một bộ phận sẽ không được bồi thường)
+ Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên.
Ngoài ra, công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi
phí cần thiết và hợp lý nhằm:
những thiệt hại của người thứ ba
+ Chủ xe ( lái xe) phải là người có lỗi.
Bên thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:
+ Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe
+ Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái..
+ Hành khách, những người có mặt trên xe...
+ Tài sản, hành lý, tư trang của những người nêu trên.
Cũng giống như bảo hiểm vật chất xe cơ giới, số tiền công ty bảo hiểm phải bồi
thường khi rủi ro đó thuộc phạm vi được bảo hiểm trong hợp đồng được giới hạn trên
bằng số tiền bảo hiểm thì trong bảo hiểm trách nhiệm dấn sự bắt buộc của chủ xe cơ
giới đối với người thứ ba được giới hạn bởi quy định của nhà nước cho từng loại
thiệt hại là thiệt hại về người và thiệt hại về tài sản ( hay được gọi là mức giới hạn
trách nhiệm). Mức giới hạn này được quy định cụ thể với từng quốc gia, từng khu
vực...Ngoài ra còn có bảo hiểm trách nhiệm dân sự tự nguyện. Đây thường là loại
hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự có hạn mức trách nhiệm cao hơn sơ với hạn mức
trách nhiệm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc. Mức giới hạn này do chủ xe
và doanh nghiệp bảo hiểm tự thỏa thuận...
b, Ở Việt Nam
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Việt Nam cũng
gặp phải những vấn đề bất cập: số lượng phương tiện tham gia giao thông đường bộ
ngày càng tăng, chất lượng công trình giao thông chưa đồng bộ, ý thức của người
5
tham gia giao thông còn nhiều hạn chế... Là những nguyên nhân làm cho tình hình tai
nạn giao thông ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Theo thống kê chưa đầy đủ, mấy năm trở lại đây, mỗi năm ở nước ta xảy ra trung
bình gần 15.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ, khiến trên 12.500 người tử vong và
cũng gần bằng ấy người bị thương tật.
Điều đáng quan tâm là đa số những người bị tử vong do tai nạn giao thông đường
bộ nằm trong lứa tuổi 15 – 45, độ tuổi làm ra nhiều của cải nhất cho xã hội, là trụ cột
đại lý, để phân phối sản phẩm bảo hiểm này đến người sử dụng xe. Điều này cũng
đồng nghĩa với việc đã có hàng ngàn người có thu nhập thêm từ việc cộng tác với các
doanh nghiệp bảo hiểm.
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2010, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.074 tỷ
đồng để bồi thường cho các đối tượng được bảo hiểm xe cơ giới không may bị tai
nạn. Đây là tỷ lệ tương đối cao nếu biết rằng trách nhiệm bồi thường của các doanh
nghiệp bảo hiểm cho các chủ xe mua bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2010 còn kéo dài tới
giữa năm 2011 và còn hàng ngàn hồ sơ tai nạn chưa được giải quyết do chưa hoàn
thiện thủ tục hay tai nạn mới xảy ra. Điều này giải thích tại sao các doanh nghiệp bảo
hiểm triển khai dịch vụ bảo hiểm này có khả năng sẽ không có lãi trong năm tài chính
2010.
Các doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới trên thị trường bảo
hiểm gặp rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ quan là do các công ty còn non trẻ,
khả năng quản lý và thi hành còn chưa chuyên nghiệp. ngoài ra còn có những nguyên
nhân khách quan rất đáng lo ngai như tần suất xảy ra tai nạn quá lớn, nhất là đối với
bảo hiểm vật chất xe. Không ít chủ xe ôtô con, chỉ trong một năm đã tới công ty bảo
hiểm 3 lần để đề nghị được thông báo tai nạn và yêu cầu bồi thường bảo hiểm do xe
bị nạn, nhỏ thì xước vỏ, vỡ kính, lớn thì méo bẹp…, số tiền mà doanh nghiệp bảo
hiểm phải bồi thường gấp nhiều lần số phí mà các chủ xe này đã nộp khi mua bảo
hiểm. Xe bị nạn là do tay lái của không ít người còn kém, tự gây hư hại xe ngay cả
khi đưa xe vào bến bãi. Nhưng đa phần, đáng buồn cho các doanh nghiệp bảo hiểm bị
7
“chi tiền oan”, là khi xe ôtô được bảo hiểm dừng chờ đèn tín hiệu giao thông, bị các
chủ xe máy cố len lách lao lên trước va quệt.
Số người thiệt mạng, số xe bị hư hại nặng do lái xe cố tình vi phạm luật lệ giao
thông, vượt đèn đỏ, vượt đường ngang đường dành cho tàu hỏa cũng gia tăng, với
mức độ trầm trọng hơn. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật, trong bảo hiểm
trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, việc bồi thường thiệt hại về con người đa
phần không tính tới lỗi của chủ xe, lái xe .
Hiện tượng trục lợi bảo hiểm từ phía chủ xe diễn ra ngày càng nhiều, khi xe bị tai
công ty phải bồi thường là bao nhiêu thì tất cả các công ty bảo hiểm đều phải thực
hiện công tác giám định. Sau đó là thực hiện chi trả, bồi thường cho khách hàng để
bù đắp toàn bộ hay một phần thiệt hại mà rủi ro gây ra đồng thời cũng là hoạt động
thực hiện nghĩa vụ của công ty bảo hiểm với khách hàng của mình. Để giảm thiểu
mức độ thiệt hại mà những rủi ro, biến cố bất ngờ phát sinh cho khách hàng và nhà
bảo hiểm thì công tác đề phòng hạn chế tổn thất trở thành vô cùng quan trọng. Trong
kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới thì vai trò của công tác này càng thể hiện
rõ nét. Do nó là vấn đề ảnh hưởng đến quyền lợi của hai bên nên luôn được chú trọng
và không ngừng hoàn thiện.
Nói đơn giản hơn, khi có thiệt hại xảy ra, chúng ta cần phải biết mức độ thiệt hại
là bao nhiêu? Thiệt hại đó có thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm không? Và sau khi
đã xác định được giá trị mà nhà bảo hiểm phải bồi thường cho khách hàng thì công ty
bảo hiểm cần có các biện pháp để thực hiện công việc này hiệu quả nhất nhằm thực
hiện quyền lợi mà khách hàng được hưởng đồng thời tránh những tranh chấp không
đáng có để ảnh hưởng đến danh tiếng của công ty bảo hiểm. Trong khi rủi ro chưa
xảy ra hoặc đã xảy ra, cả khách hàng cùng công ty bảo hiểm sẽ phải cùng có các biện
pháp nhằm hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại mà rủi ro đó gây ra vì vậy công tác đề
phòng hạn chế tổn thất không chỉ đươc thực hiện bởi nhà bảo hiểm mà cả với những
người tham gia bảo hiểm…
Theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra,
doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường hoặc chi trả tiền
9
bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Để được bồi thường hoặc chi trả,
bên tham gia bảo hiểm tiến hành khiếu nại đòi bồi thường hoặc chi trả đối với doanh
nghiệp bảo hiểm , văn bản khiếu nại thường là giấy yêu cầu đòi bồi thường hoặc chi
trả. Đồng thời giải quyết khiếu nại một cách chủ động, nhanh chóng, chính xác, hợp
lý là sự biểu hiện cụ thể trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm đối với
khách hàng của mình. Để xác định chính xác được số tiền bảo hiểm doanh nghiệp
phải thanh toán cho khách hàng trước hết doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành giám
định tổn thất.
người đại diện hợp pháp nhằm xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại. Chỉ trong
trường hợp hai bên không đi đến thống nhất thì lúc này mới chỉ định giám định viên
độc lập. Khi xác định được rủi ro xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo
hiểm sẽ tiến hành các bước giám định như sau:
- Chuẩn bị giám định: trước khi tiến hành giám định phải chuẩn bị đầy đủ các loại
giấy tờ có liên quan như: Đơn bảo hiểm hoặc giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng kê chi tiết
các loại tài sản được bảo hiểm, giấy ra viện, các hóa đơn chứng từ, hóa đơn sửa chữa,
thay thế… Ngoài ra còn phải chuẩn bị hiện trường giám định nếu cần, tổ chức mời
các bên liên quan tham gia chứng kiến trong quá trình tiến hành giám định như cơ
quan công an, chính quyền địa phương, y bác sĩ, các chuyên gia…
- Tiến hành giám định: Công tác giám định phải được tiến hành khẩn trương và ý
kiến của giám định viên đưa ra phải chính xác, hợp lý và nhất quán. Trong quá trình
giám định phải tập trung vào một số công việc như: Kiểm tra đối tượng giám định,
phân loại tổn thất, xác định mức độ tổn thất, mức độ lỗi của các bên….
- Lập biên bản giám định: đây sẽ là tài liệu ghi nhận kết quả của quá trình làm giám
định và là cơ sở chủ yếu để xét duyệt bồi thường hoặc chi trả bảo hiểm và khiếu nại
người thứ ba ( nếu có). Nội dung của biên bản cần đảm bảo tính trung thực, chính
xác, rõ ràng, cụ thể. Các số liệu phải phù hợp với thực tế và không có mâu thuẫn với
các giấy tờ khác có liên quan….
1.2.2.2. Công tác bồi thường tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới
11
Khi đã có kết quả giám định, công ty bảo hiểm sẽ thực hiện bồi thường cho
khách hàng của mình nhằm đảm bảo những cam kết trong hợp đồng và để bù đắp
toàn bộ hoặc một phần những thiệt hại mà khách hàng của mình phải gánh chịu. Bồi
thường là một trong các hoạt động chi lớn nhất đối với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy công đoạn này đòi hỏi phải chính xác, minh bạch đồng
thời cũng cần có tính hợp lý, kịp thời để quyền lợi của khách hàng được đảm bảo.
Khi thực hiện bồi thường là khi doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện cam kết của mình
đối với khách hàng sử dụng sản phầm của doanh nghiệp và có sự kiện bảo hiểm xảy
ra. Công tác này thể hiện rất nhiều uy tín của doanh nghiệp, thể hiện sự chuyên
đồng thời gây ra tâm lý khó chịu, thậm chí là xảy ra khiếu kiện cho khách hàng như:
- Số tiền thiệt hại phải bồi thường không thể xác định được ngay ( như: người bị
thương cần có thời gian để bình phục, thiệt hại đối với tài sản trên xe cần có thời gian
xác định chính xác…)
- Trách nhiệm, nguyên nhân gây ra tổn thất không thể xác định được ngay nên các
bên phải thỏa thuận và gây tranh chấp, buộc tòa án phải can thiệp.
- Có nhiều bên thụ hưởng tiền bồi thường, đòi hỏi phải tính toán, thời gian phân bổ
kéo dài.
- Người thứ ba cố tình gây khó dễ khi xác định mức độ thiệt hại liên quan đến họ,
việc xác định mức lỗi của mỗi bên khi tai nạn xảy ra cũng gặp nhiều khó khăn…
Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cố gắng giải quyết hợp lý, tránh các trường hợp có sự
can thiệp của tòa án vì điều đó ảnh hưởng không tốt đến uy tín của doanh nghiệp
đồng thời sẽ tăng các chi phí liên quan. Một vụ việc giải quyết bồi thường kéo dài
đến hàng năm là điều mà cả người tham gia bảo hiểm và nhà kinh doanh bảo hiểm
đều không mong muốn…
* Truy đòi người thứ ba: Đây là khâu cuối cùng trong công tác bồi thường tổn thất.
Thông thường, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn trả toàn bộ số tiền mà khách hàng
được hưởng sau đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện truy đòi người thứ ba nếu họ
có liên đới trách nhiệm. Thực hiện truy đòi yêu cầu phải nhanh chóng, chính xác
13
nhằm quản lý tốt các nghiệp vụ bảo hiểm mà kết quả của chúng có liên quan nhiều
đến kết quả truy đòi, đặc biệt là trong bảo hiểm xe cơ giới.
1.2.2.3. Nội dung công tác đề phòng hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ
giới.
Trong bảo hiểm xe cơ giới, đề phòng và hạn chế tổn thất đòi hỏi cả nhà bảo
hiểm và người tham gia bảo hiểm cùng thực hiện. Đối với nhà bảo hiểm, chi phí cho
hoạt động bồi thường hoặc chi trả tổn thất là hoạt động chi lớn nhất và quan trọng
nhất, để giảm chi phí này và các chi phí liên quan, công ty bảo hiểm thường đưa ra
một số biện pháp nhằm đề phòng tổn thất xảy ra như:
+ Đầu tư xây dựng hệ thống đèn tín hiệu, biển báo, biển chỉ dẫn đối với những
Ngày 08/08/2007, công ty chính thức đi vào hoạt động kinh doanh, tham gia vào thị
trường bảo hiểm và sẵn sàng phục vụ nhu cầu bảo hiểm phi nhân thọ của các đối
tượng khách hàng trên phạm vi cả nước.
Một vài nét khái quát về Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp:
• Tên Công ty: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp
• Tên tiếng anh: Agriculture Bank Insurance Joint- Stock Corporation
• Tên viết tắt tiếng việt: Bảo hiểm Agribank
• Tên viết tắt tiếng anh: ABIC
• Ngày hoạt động chính thức: Ngày 08/08/2007
• Trụ sở chính: 343 Đội Cấn- Ba Đình- Hà Nội- Việt Nam
• Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2007-2011
Chủ tịch : Tiến sỹ Nguyễn Hữu Lương
15
Ủy viên thường trực : Ông Nguyễn Văn Minh
Ủy viên : Ông Phạm Công Tứ
Ủy viên : Ông Nguyễn Văn Nghiệp
Ủy viên : Bà Bùi Minh Hường
• Ban điều hành:
Căn cứ Nghị quyết kỳ họp thứ 11 và Nghị quyết kỳ họp thứ 13 của Hội đồng
quản trị Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp;
-Căn cứ văn bản số 6212/BTC-QLBH ngày 17/5/2010 của Bộ Tài chính về việc phê
chuẩn chức danh Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Bảo hiểm Ngân
hàng Nông nghiệp.
1.Ông Đỗ Minh Hoàng thôi giữ chức Quyền Tổng Giám đốc Công ty để giữ chức
vụ Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp kể từ ngày
18/5/2010;
2.Ông Nguyễn Văn Minh - Nguyên Ủy viên trực HĐQT, Phó Tổng Giám đốc
thường trực được bầu làm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Bảo
hiểm Ngân hàng Nông nghiệp kể từ ngày 18/5/2010
• Lĩnh vực kinh doanh chính:
Phòng Thư ký
pháp chế
Chi nhánh Hà Nội
Phòng Kế toán
Phòng Bảo hiểm
hang hải
Các Phó tổng
giám đốc
Tổng Giám đốc
Phòng Bảo hiểm
Phi hang hải
Chi nhánh Nghệ
An
Chi nhánh Hồ
Chí Minh
Trụ sở chính Các Chi nhánh
Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội ( ABIC- Hà Nội) được thành lập ngày
01/02/2008 và hoạt động với:
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức CTCP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp – Chi
nhánh Hà Nội:
Sau hơn ba năm đi vào hoạt động, ABIC Hà Nội đã từng bước mở rộng mạng lưới
phục vụ khách hàng, phát triển đa dạng hóa dịch vụ và sản phầm bảo hiểm, góp phần
18
Giám đốc Chi
nhánh
Phó Giám đốc
Chi nhánh
Phòng Kinh
doanh 1 (Tài sản
Kỹ thuật)
Tổng số tiền bồi thường
( tỷ đồng)
Số vụ tổn thất
( vụ)
2008 20,782 6,3 207
2009 61,746 12,5 1.217
2010 65,858 28,5 1.895
(Nguồn: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Hà Nội)
Tiến một bước dài cùng sự sôi động của thị trường BHPNT Việt Nam năm 2009
( tổng doanh thu trên thị trường BHPNT là 13.643 tỷ đồng, tăng 25% so với năm
2008), tổng doanh thu phí bảo hiểm của ABIC- Hà Nội đã tăng từ 20,782 tỷ đồng
năm 2008 lên đến 61,746 tỷ đồng năm 2009 và đến năm 2010, tổng doanh thu tăng
nhẹ lên mức 65,858 tỷ đồng. Năm 2008 tổng số tiền bồi thường chiếm 30,31% so với
tổng doanh thu, con số này trong năm 2009 là 20,24% và cho đến năm 2010 là
43,27% đây là những con số đáng lo ngại đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thể
hiện tính rủi ro cao đồng thời doanh nghiệp BHPNT luôn phải đối mặt với sự cạnh
tranh trên thị trường BHPNT diễn ra ngày càng gay gắt trên cả 3 phương diện: tăng
chi phí bán hàng, mở rộng điều kiện và hạ phí BH. Đối mặt trước thực tế đó, nhằm
đảm bảo kinh doanh có lãi và giảm tỷ lệ tổn thất, ABIC- Hà Nội đã nâng cao chất
lượng giám định bồi thường. Đơn cử, việc sửa chữa tại các gara ô tô, doanh nghiệp
đã yêu cầu các đơn vị sửa chữa dự toán giá cho từng hạng mục để chi phí không tăng
quá cao so với dự kiến. Để đạt được kết quả kinh doanh tốt, ABIC- Hà Nội còn xây
dựng cơ chế tài chính phù hợp giúp đại lý làm ăn thuận lợi hơn và việc đưa ra những
sản phẩm BH phù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng là một trong những biện
pháp cạnh tranh, thu hút khách.
Mục tiêu chiến lược là đưa ABIC trở thành một doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín về
chất lượng và phong cách phục vụ khách hàng chuyên nghiệp, nhất là đạt uy tín hàng
19
đầu trong công tác giám định tổn thất, giải quyết khiếu nại, chi trả tiền bồi thường
thuận lợi, minh bạch, nhanh chóng và chính xác cho khách hàng…
chút so với năm 2009, vậy mà số vụ tổn thất tăng gấp 1,7 lần.
Bảng 2.3: Tỷ lệ bồi thường trong các năm:
Nội dung 2008 2009 2010
Doanh thu phí BHXCG (tỷ đ) 8,3 25,5 25,3
Số tiền bồi thường BHXCG (tr đ) 732 6.268 11.531
Tỷ lệ bồi thường (%) 9 25 46
(Nguồn: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh Hà Nội)
Cùng với thực tế chung trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, tỷ lệ bồi thường xe cơ
giới có xu hướng tăng lên ( đặc biệt trong năm 2009, do tác động của cơn bão số 9, tỷ
lệ bồi thường nghiệp vụ này của rất nhiều công ty lên tới 100%), theo thống kê của
hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, có rất ít công ty Bảo hiểm kinh doanh có lãi với nghiệp
vụ bảo hiểm xe cơ giới, chủ yếu chi phí được bù đắp bằng các hoạt động tài chính.
Với tỷ lệ bồi thường cao ( mức >30%) cùng với quy định của Bộ tài chính thì phí bảo
hiểm phải trừ đi 10% hoa hồng đại lý, 2% chi phí đề phòng hạn chế tổn thất và phải
trừ đi các khoản trích lập dự phòng, sau đấy, phần còn lại mới là quỹ bồi thường
trong năm (dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường dao động lớn, dự
phòng bồi thường), vì vậy nếu số tiền bồi thường nhỏ hơn doanh thu phí hay tỷ lệ bồi
thường thấp không có nghĩa là công ty kinh doanh nghiệp vụ này có lãi. Tuy nhiên,
thực tế tại Việt Nam hiện nay thì BHXCG vẫn là nghiệp vụ chủ chốt đối với các
Công ty Bảo hiểm Phi nhân thọ bởi nó là nghiệp vụ có tiềm năng khai thác lớn nhất
và để có được mạng lưới khách hàng rộng lớn thì khai thác nghiệp vụ này là một
chiến lược vô cùng quan trọng.
21
2.3. Thực trạng công tác giám định, bồi thường và đề phòng hạn chế tổn thất
nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông
nghiệp Hà Nội ( ABIC).
2.3.1. Công tác giám định.
Khi nhận được thông báo xảy ra tổn thất của khách hàng, công ty Bảo hiểm sẽ
xác định xem rủi ro biến cố mà khách hàng gặp phải có thuộc phạm vi bảo hiểm hay
không , sau đó công ty sẽ tiến hành công tác giám định. Giám định viên của công ty
nghĩa vụ và trách nhiệm của mình: nhanh chóng, chính xác, trung thực…sẽ giúp
khách hàng có một khoản thu, làm giảm bớt những thiệt hại mà họ phải gánh chịu
đồng thời giúp công ty bảo hiểm thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với khách hàng.
ABIC- Hà Nội đi vào hoạt động trên thị trường bảo hiểm khi ở Việt Nam đã có tới
gần 30 công ty tham gia kinh doanh lĩnh vực BHPNT, chính vì vậy, ABIC-Hà Nội đã
học hỏi được rất nhiều từ các nhà bảo hiểm ra đời sớm hơn, cùng với kinh nghiệm có
được sau 3 năm hoạt động, ABIC đã thực hiện công tác giám định với một quy trình
như sau:
A. QUY ĐỊNH CHUNG
A1. Mục đích
Quy định thống nhất tác nghiệp trong toàn hệ thống Công ty ABIC về việc
tiến hành giám định các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới.
A2. Phạm vi áp dụng
Quy trình này áp dụng cho việc giám định các vụ tổn thất thuộc các sản phẩm
bảo hiểm xe cơ giới được bảo hiểm tại ABIC bao gồm :
• Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới (Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với bên
thứ ba về tài sản).
• Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá trên xe.
• Bảo hiểm vật chất xe.
(Đối với các nghiệp vụ: BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 về
người; BHTNDS đối với hành khách chở trên xe; BH tai nạn người ngồi trên
xe và lái phụ xe, việc giám định thương tật căn cứ vào kết luận của cơ quan
chức năng chuyên môn).
23
A3. Tài liệu liên quan
Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật dân sự, các văn bản của Chính phủ và Bộ Tài
chính về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của Chủ xe cơ giới.
Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới do ABIC ban hành.
Quy định về tái bảo hiểm
A4. Các từ viết tắt
toàn giao thông đường bộ, Luật dân sự, có năng lực tổ chức thực hiện, có khả
năng thuyết phục, đàm phán khi có tranh chấp.
GĐV bảo hiểm xe cơ giới hoạt động độc lập trong quá trình giám định và chịu
trách nhiệm trực tiếp trước thủ trưởng đơn vị/ TGĐ Công ty và trước pháp luật về
những kết quả công việc được giao liên quan đến trách nhiệm giám định.
B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH
B1. Quy định về trực tai nạn 24/24
• Mục đích:
Tạo ra một dịch vụ tốt nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của khách hàng nhất là
trong tình huống xảy ra tai nạn để nâng cao uy tín và thương hiệu của ABIC.
24
Nắm bắt kịp thời các thông tin tai nạn để xử lý tốt nhất nhằm hạn chế tổn thất
phát sinh không đáng có đồng thời trong những tình huống cụ thể có thể giảm
thiểu nguy cơ trục lợi bảo hiểm.
• Tổ chức thực hiện
Phòng PHH Công ty :
- Là đầu mối tập hợp và thông báo số đường dây nóng của các đơn vị tới toàn
hệ thống ABIC.
- Kiểm tra việc thực hiện trực tại các đơn vị để có sự đánh giá đề xuất xử lý
đối với các đơn vị không thực hiện tốt công tác này.
- Tổ chức phân công trực tại khu vực Hà Nội (Có lịch cụ thể).
Các đơn vị thành viên:
- Có trách nhiệm thông báo số đường dây nóng của đơn vị mình về phòng
PHH (kể cả các số tại các địa bàn mà đơn vị có đại diện). Thông báo các số
mới khi mở rộng phạm vi, địa bàn kinh doanh, hoặc các số có sự thay đổi do
tình hình thực tế tại đơn vị (đối với số ĐTDĐ đường dây nóng của đơn vị nên
được thuê bao để đảm bảo tính ổn định và lâu dài).
- Tổ chức phân công trực tại đơn vị 24/24 giờ (Có lịch cụ thể).
Và một số quy định khác…
B2. Giám định hộ