THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM - Pdf 76

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT
XE CƠ GIỚI TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
2.1. Khái quát về thị trường bảo hiểm Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1. Bối cảnh ra đời
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam bắt đầu cùng với sự ra đời của
Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) vào năm 1965 theo Quyết định số
179/CP ngày 17/12/1964 của hội đồng Chính phủ. Nghiệp vụ kinh doanh lúc
bấy giờ chỉ bao gồm bảo hiểm tàu biển và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
đường biển. Phạm vi địa bàn kinh doanh chỉ tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng. Từ
sau khi miền Nam được giải phóng, địa bàn kinh doanh bảo hiểm được mở rộng
dần trên phạm vi cả nước. Bắt đầu từ năm 1978, hoạt động bảo hiểm thương
mại ở Việt Nam mở rộng ra các nghiệp vụ bảo hiểm khác như bảo hiểm dàn
khoan, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm trộm cắp, hoả hoạn, bảo hiểm hành khách
… Tuy vậy, lĩnh vực kinh doanh ở giai đoạn này vẫn chỉ là bảo hiểm phi nhân
thọ. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tính chất “ một mình một chợ” ở nước
ta kéo dài khoảng 30 năm. Có thể nói, trong giai đoạn này, sự phát triển của
hoạt động bảo hiểm thương mại ở Việt Nam gắn liền với quá trình trưởng thành
và phát triển của Công ty Bảo hiểm Việt Nam (được đổi tên thành tổng công ty
Bảo hiểm Việt Nam vào năm 1989).
Vào cuối năm 1993, nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính
phủ được ban hành, tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng và phát triển bảo hiểm
thương mại ở nước ta. Từ cuối năm 1994 cho đến nay, các doanh nghiệp bảo
hiểm thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đã lần lượt ra đời như Bảo Minh,
PJICO, PVI, PTI, Bảo long, VIA, UIC, … Hoạt động bảo hiểm thương mại ở
Việt Nam từ lúc này mới được coi là thực sự theo cơ chế thị trường có sự canh
tranh và đa dạng hoá. Sản phẩm bảo hiểm ngày càng được cải tiến hơn, đa dạng
hơn, đáp ứng với nhu cầu ngày càng nhiều của khách hang. Năm 1996, bảo
hiểm thương mại Việt Nam ghi nhận thêm một mốc mới, đó là mở rộng phạm vi
kinh doanh sang lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm nhân thọ lần lượt ra đời, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và

Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo
hiểm. Bảo Việt có trách nhiệm khai thác và thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ sự
đóng góp tham gia của những đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ và những
thành viên trong xã hội nhằm bồi thường cho những người tham gia bảo hiểm
không may bị thiên tai, tai nạn bất ngờ, đồng thời giúp cho các tổ chức cá nhân
đó mau chóng phục hồi và ổn định sản xuất cũng như đời sống. Là một công ty
quốc gia, Bảo Việt hoàn toàn tự chủ về mặt tài chính, có quỹ dự trữ lớn để bồi
thường những thiệt hại và tổn thất cho khách hàng.
Trong thời kỳ mới thành lập (từ năm 1965 đến 1975). Bảo Việt chỉ tiến
hành các hoạt động bảo hiểm đối ngoại, cụ thể là:
- Bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu
- Bảo hiểm tàu biển
- Tái bảo hiểm
Khi Nhà nước ta còn chưa có chủ trương mở cửa nền kinh tế, các nghiệp
vụ bảo hiểm trên, nhất là bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu và bảo hiểm tàu biển chủ
yếu là phục vụ cho việc phát triển trao đổi thương mại với những nước XHCN.
Năm 1965, khi mới thành lập, do đội ngũ cán bộ và trình độ nghiệp vụ còn hạn
chế nên Bảo Việt chỉ nhận bảo hiểm thân tàu cho các đội tàu Việt Nam, rồi sau
đó tái nhượng lại cho bảo hiểm Trung Quốc. Sang năm 1966 nước ta mới độc
lập bước đầu trong bảo hiểm thân tàu và đến năm 1967 mới tiến hành bảo hiểm
trách nhiệm dân sự đồng thời cũng đạt được những tiến bộ đáng kể. Năm 1979,
Bảo Việt hình thành văn bản thoả thuận về một số quy định trong việc thực hiện
hợp đồng bảo hiểm thân tàu, quy định cụ thể về vận dụng nội dung điều khoản
bảo hiểm ITC vào nước ta. Năm 1981, bản thoả thuận trên lại được sửa đổi bổ
sung thêm và rất được các chủ tàu hoan nghênh. Đến năm 1987, Bảo Việt đã
bảo hiểm cho 436 tàu của 45 đội tàu biển trong nước.
Đối với bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, chỉ sau năm 1975 – tức sau
khi đất nước ta giành lại được hoà bình thống nhất, Bảo Việt mới giành lại được
quyền bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc. Đồng thời kim ngạch bảo
hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại cũng phát triển rất nhiều. Bên cạnh

phương trở thành các công ty trực thuộc Tổng công ty. Về tổ chức, có thể coi
Bảo Việt là một tập đoàn bảo hiểm có tiềm năng lớn về mặt tài chính. Việc chỉ
đạo được tiến hành tập trung, hạch toán thống nhất toàn ngành. Các nghiệp vụ
bảo hiểm đã mở rộng và phát triển, không chỉ dừng lại ở con số 3 nhỏ bé thuở
đầu mà tăng lên hàng chục nghiệp vụ khác nhau với số lượng và chất lượng
ngày càng phát triển không ngừng.
Chúng ta cũng có thể nhìn thấy sự phát triển của Bảo Việt qua các số liệu
thống kê về doanh thu như sau: Trong 20 năm đầu, từ 1965 đến 1985, tổng
doanh thu toàn ngành chỉ dừng ở con số 1136,4 triệu VND. Năm 1987, tổng
doanh thu xấp xỉ 1 tỷ VND, năm 1989 là gần 94 tỷ. Đặc biệt từ năm 1989 năm
1994, tốc độ gia tăng của doanh thu đạt tới 35-40%/ năm.
• Một số hạn chế của chế độ độc quyền bảo hiểm:
Sự phát triển mở rộng của chế độ độc quyền bảo hiểm Việt Nam qua
nhiều thời kỳ là điều không thể phủ nhận. Kể từ khi thành lập đến trước nghị
định 100/CP Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần vào công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách
khách quan rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được, những hạn chế còn tồn tại
của ngành trong giai đoạn này không phải là nhỏ, kết quả của sự độc quyền.
Trong suốt gần 30 năm tồn tại, Bảo Việt giữ vị trí độc nhất trong cả nước. Mọi
công ty, tổ chức, cá nhân muốn được bảo hiểm chỉ có thể tìm đến một địa chỉ
duy nhất: Bảo Việt
Nguyên nhân chính tạo nên sự độc quyền trong một thời gian dài như vậy
là do cơ chế cũ: nền kinh tế hành chính mệnh lệnh. Thực tế, các doanh nghiệp
không có quyền tự quyết mà chỉ có nhiệm vụ thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh
do cấp trên đưa xuống. Những chỉ tiêu pháp lệnh này đôi khi cũng được xây
dựng một cách lý thuyết mà không dựa trên tình hình cung cầu thực tế. Bảo
hiểm tất nhiên cũng không thể nằm ngoài khuôn khổ đó.
Đồng thời việc vận động, tuyên truyền hướng dẫn bảo hiểm cũng chưa
được chú trọng trong thời gian này. Người dân chưa thấy được mặt lợi khi tham
gia bảo hiểm nên bảo hiểm chưa trở thành nhu cầu thiết yếu của họ.

vốn đầu tư nước ngoài, phục vụ cho đầu tư phát triển, nhằm thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế trong giai đoạn 1991-2000 của đất nước. Đây là một yêu
cầu mang tính cấp bách. Để đáp ứng một cách kịp thời, Nghị định 100/ CP về
kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã được ban hành ngày 18/12/1993, đánh
dấu một bước ngoặt mới cho sự hình thành và phát triển của thị trường bảo
hiểm Việt Nam. Theo nghị định này, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã chính
thức được hình thành. Sự độc quyền của Bảo Việt – Tổng công ty Bảo hiểm
Việt Nam đã hoàn toàn bị phá vỡ với sự cho phép khả năng xuất hiện của các
loại hình công ty bảo hiểm khác. Theo quy định tại điều 2 của Nghị định số 100/
CP, các doanh nghiệp bảo hiểm là đơn vị hạch toán kinh tế, tự chủ về tài chính,
chịu trách nhiệm vật chất về kết quả kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối
với Nhà nước Việt Nam theo luật định và bao gồm 6 loại sau đây:
- Doanh nghiệp Nhà nước bảo hiểm
- Công ty cổ phần bảo hiểm
- Công ty bảo hiểm tương hỗ
- Doanh nghiệp liên doanh
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Doanh nghiệp tư nhân
Ngoài ra còn có các tổ chức môi giới bảo hiểm. Điều 2 của Nghị định
100/CP cũng quy định Công ty bảo hiểm Quốc gia Việt Nam là doanh nghiệp
Nhà nước, có tư cách pháp nhân, có chức năng chuyên hoạt động kinh doanh tái
bảo hiểm. Tổ chức môi giới bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty liên
doanh môi giới bảo hiểm, chi nhánh của tổ chức môi giới bảo hiểm nước ngoài,
công ty môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm
được phép kinh doanh theo nghị định này:
- Bảo hiểm nhân thọ
- Bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo hiểm tai nạn con người
- Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
- Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường

tỷ đồng, tăng trưởng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó thị phần chủ
yếu tập trung vào các doanh nghiệp bảo hiểm lớn: Bảo Việt, PVI, Bảo Minh,
Pjco.
Bảng 2.1: Tăng trưởng phí bảo hiểm gốc và thị phần của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ 6 tháng đầu năm 2009
(Đơn vị : 1 000 000 VNĐ)
T
T
Doanh nghiệp
Doanh thu phí bảo hiểm gốc
Thị
phần(%)
Kỳ báo cáo
Cùng kỳ
năm trước
% tăng
giảm
1 ACE Insurance 8,213 1,733 373.92% 0.13%
2 AIG VIET NAM 58,728 55,707 5.42% 0.91%
3 Bảo Long 151,280 120,106 25.96% 2.35%
4 Bảo Minh 909,362 997,248 -8.81% 14.12%
5 Bảo Ngân 20,910 11,711 78.55% 0.32%
6 ABIC 130,747 75,876 72.32% 2.03%
7 BẢO TÍN 9,038 2,600 247.62% 0.14%
8 Bảo Việt 1,677,005 1,668,080 0.54% 26.03%
9 BIC 125,169 92,268 35.66% 1.94%
10 Công ty AAA 131,927 92,428 42.73% 2.05%
11 UIC 75,598 81,683 -7.45% 1.17%
12 FUBON 13,060 0 0.20%
13 Groupama 3,121 2,075 50.41% 0.05%

nước, Bảo Việt là doanh nghiệp duy nhất tại Việt Nam kinh doanh cả 2 loại
hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Bảo Việt đã được công nhận là một
trong số 25 doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam; là doanh nghiệp bảo hiểm lâu
đời, được tin cậy đối với đông đảo các tầng lớp dân cư, cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp.
Ngày 31/5/2007 đánh dấu một sự kiện, một mốc lịch sử quan trọng của
Bảo Việt, đó là việc Bảo Việt bán cổ phần lần đầu ra công chúng chính thức trở
thành công ty cổ phần kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Ngày 15/10/2007, Tập
đoàn Bảo Việt đã hoàn thành Đăng ký kinh doanh công ty cổ phần có sự tham
gia của đối tác chiến lược là các tập đoàn kinh tế hàng đầu trong nước
(Vinashin) và nước ngoài (HSBC Insurance (Asia - Pacific) Holdings Limited);
hình thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, Bảo Việt đã vinh
dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc Lập Hạng Ba, Chính
phủ xếp hạng Doanh nghiệp Nhà nước hạng Đặc biệt và nhiều danh hiệu, giải
thưởng do các tổ chức uy tín của trong và ngoài nước trao tặng. Bảo Việt được
tổ chức BVQI (Vương quốc Anh) cấp chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 từ tháng 8/2001.
Về hoạt động kinh doanh, trong quá trình phát triển, Bảo Việt liên tục đạt
được những thành tích vượt trội, doanh thu, lợi nhuận và các khoản đóng góp
ngân sách Nhà nước liên tục tăng, doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân trên
20% trong 5 năm qua. Theo báo cáo của Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo
Việt (Bảo Việt) mức lợi nhuận sau thuế năm 2008 đạt 485 tỷ đồng. Tổng thu
kinh doanh toàn hệ thống đạt 9.182 tỷ đồng, tăng trưởng 10,7% so với năm
2007, hoàn thành vượt mức 5,11% so với kế hoạch đặt ra. Trong đó, doanh thu
từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm ước 6.957 tỷ đồng, tăng trưởng 12,9%, hoàn
thành vượt mức 1,7% so với kế hoạch; doanh thu từ hoạt động tài chính đạt
2.197 tỷ đồng, ɴăng trưởng 3,5%, hoàn thành vượt mức 18%.
Năm 2009, Bảo Việt đặt mục tiêu đạt doanh tlu 9.192 tỷ đồng, lợi nhuận
sau thuế 508 tỷ đồng.

Việt;
- Các công ty liên kết do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư vốn.
Lĩnh vực hoạt động:
Với tiềm lực tài chính hùng mạnh (vốn điều lệ hiện lên tới 5.730 tỷ đồng),
Tập đoàn Bảo Việt đã, đang và sẽ không ngừng mở rộng các loại hình kinh
doanh dịch vụ:
- Bảo hiểm nhân thọ (với hơn 40 sản phẩm)
- Bảo hiểm phi nhân thọ (với hơn 80 sản phẩm)
- Tái bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ
- Đầu tư tài chính
- Quản lý quỹ đầu tư
- Chứng khoán
- Ngân hàng
- Kinh doanh bất động sản
- Các lĩnh vực kinh doanh khác theo quy định của pháp luật
Bảo Việt đã thiết lập quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm và môi giới tái
bảo hiểm hàng đầu trên thế giới như Munich Re, Swiss Re, CCR, Hannover RE,
AON, Athur Gallagher, Marsh… Mối quan hệ hợp tác quốc tế rộng lớn của Bảo
Việt vừa giúp Tập đoàn tăng cường khả năng hợp tác, vừa giúp phân tán rủi ro,
tăng khả năng thanh toán.
Với hoạt động kinh doanh đa ngành, với mô hình tổ chức, cơ chế quản lý
kinh doanh mới, với thế và lực mới, Bảo Việt luôn là sự lựa chọn đúng đắn, là
người bạn đồng hành tin cậy của các cá nhân và tổ chức.
2.1.2.2. Bảo hiểm dầu khí
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) - thành viên Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, được thành lập năm 1996. Sau hơn 12 năm
hoạt động, PVI đã có những bước phát triển vượt bậc, với vốn điều lệ đạt 1.035
tỷ đồng, doanh thu năm 2008 đạt 2.694 tỷ đồng, hiện đứng thứ hai về thị phần
trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và tiếp tục giữ vững vị trí đứng
đầu lĩnh vực bảo hiểm công nghiệp trong nước.

đạt 1.300 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 102 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 62 tỷ
đồng…
Tháng 9/2006, Bộ Công nghiệp và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
đã có Quyết định cổ phần hóa PVI với mục tiêu tăng cường năng lực cạnh tranh
và xây dựng PVI trở thành một Tổng công ty cổ phần mạnh trong định chế Bảo
hiểm - Tài chính của Tập đoàn. Ngày 12/4/2007 là ngày Tổng công ty cổ phần
Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam chính thức ra mắt, đánh dấu sự chuyển mình cho
những thành công rực rỡ tiếp theo.
Nãm 2007 là nãm đầu tiên PVI chuyển đổi hoạt động từ doanh nghiệp nhà
nước sang mô hình Tổng công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
Tuy nhiên PVI đã thể hiện bản lĩnh vững vàng thể hiện qua việc thích ứng
nhanh chóng với cơ chế quản lý mới, doanh thu đạt 2000 tỷ đồng, lợi nhuận đạt
250 tỷ đồng .
Nãm 2008, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới, tuy nhiên bằng nhiệt huyết và sự sáng
tạo, PVI đã vượt qua khó khăn với mức doanh thu đạt 2.694 tỷ đồng làm tiền đề
cho mốc ấn tượng 3000 tỷ đồng vào tháng 12/2009.
Chiến lược phát triển PVI đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 trở
thành Tổng công ty Bảo hiểm - Tài chính hàng đầu thông qua việc chiếm lĩnh
thị trường trong nước, phát triển ra thị trường quốc tế đối với mảng kinh doanh
bảo hiểm và triển khai mạnh các hoạt động đầu tư Tài chính.
2.1.2.3. Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (Pjico)
Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn. Những thành tựu quan trọng đó đã tạo điều kiện thuận
lợi cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng. Cùng với
xu thế đó, nghành bảo hiểm ngày càng trở nên cần thiết và đáp ứng thực tế
khách quan đặt ra. Ngày 18/12/1993, Chinh phủ ban hành Nghị định 100/CP
cho phép các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài đáp ứng đủ điều
kiện cần thiết được phép thành lập công ty kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

đường sứt Vịêt Nam.
Qua hơn 10 năm hoạt động, với phương châm phục vụ tận nơi, đáp ứng nhu
cầu bảo hiểm ngay tại chổ, công ty đã xây dựng đội ngũ gần 1.000 cán bộ, nhân
viên nămg động, được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn tốt làm việc tại
Hà Nội và trên 50 chi nhánh tại các tỉnh thành từ Bắc vào Nam; ngoài ra còn có
gần 5.000 đại lý, cộng tác viên bảo hiểm trong toàn quốc.
Với số vốn góp ban đầu là 55 tỷ đồng, hiện nay đã lên tới 340 tỷ đồng và
hiện nay đã tăng vốn lên 500 tỷ đồng vào năm 2008, Pjico đã nhanh chóng triển
khai rộng rãi gần 70 loại hình bảo hiểm trong các lĩnh vực tới hang vạn đối
tượng khách hàng trong nước và nước ngoài.
Hoạt động kinh doanh cảu công ty ngày càng phát triển, nghiệp vụ bảo
hiểm được mở rộng phù hợp với nhu cầu thị trường và xu hướng phát triển của
nền kinh tế. Bên cạnh đó, Công ty cũng hết sức quan tâm phát triển trình độ
nghiệp vụ, nâng cao chất lượng phục vụ của cán bộ nhân viên. Kết quả nỗ lực
đó đem đến cho Pjico uy tín cao và được nhiều khách hang biết đến. Nhiều dự
án, nhà máy có giá trị lớn, các công trình lien doanh với nước ngoài tham gia
bảo hiểm tại Công ty như: dự án xây dựng cầu Cần Thơ, Thanh Trì, Bãi Cháy
…; Các dự án thuỷ, nhiệt điện Sông Hinh, Đại Ninh, Sesan 3, Pleikrong, Quảng
Trị, Tuyên Quang, Cao Ngạn, Buụn kuốp …; Các nhà máy xi măng lớn nhất
Việt Nam đã triển khai như Bút Sơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, Hải Phòng …; Các
toàn cao ốc, khách sạn lớn ở Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh như Hà Nội Daewoo,
Vietcombank Tower, Sheraton Hanoi Hotel, Hanoi Melia, Saigon Diamon Plaza
…; Các hang tầu lớn Vosco, Vinalines ... và hệ thống kho bể, trạm xăng dầu
Petrolimex trên toàn quốc và đông đảo khách hang của Đường sắt Việt Nam …
2.1.2.4. Công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh
Thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ thật sự khởi động sau ngày
18/12/1993 khi Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm.
Theo đó, Chính phủ khuyến khích thành lập thêm một số công ty bảo hiểm
thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Tình trạng độc quyền trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm đã bị xóa bỏ. Từ đây, hoạt động kinh doanh bảo hiểm Việt

quả để thực hiện cổ phần hoá là một vinh dự to lớn đối với Bảo Minh, cho thấy
Bảo Minh có một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển chung của thị
trường bảo hiểm Việt Nam.
Hiện tại, thành phần các cổ đông của Bảo Minh tương đối đa dạng và
hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, bao gồm Nhà Nước,
10 tổng công ty 90 và 91, được coi là các cổ đông sáng lập của Bảo Minh.
Ngoài ra còn có các cổ đông là cán bộ , viên chức của Bảo Minh và một số nhà
đầu tư tự do trong đó có cả nhà đầu tư là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam như công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential, công ty TNHH
VinaCapital Corporate Finance Việt Nam. Điều này thể hiện mối quan tâm đặc
biệt và sự tin tưởng của các cổ đông vào tương lai phát triển của Bảo Minh.
2.1.3. Những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại:
Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng, số lượng sản phẩm bảo hiểm
ngày càng nhiều, tốc độ tăng trưởng cao, năng lực tài chính, và mức độ đầu tư
vào nền kinh tế quốc dân của các doanh nghiệp tăng mạnh, đi đầu trong hội
nhập quốc tế và mở cửa thị trường,… Đó là những thành tựu mà ngành bảo
hiểm đã đạt được trong bước đường hoạt động.
Quy mô thị trường ngày càng được mở rộng: từ chỗ chỉ có một DNBH là
Bảo Việt đến nay đã có 28 DNBH Phi nhân thọ, 11 DNBH Nhân thọ, 10 DN
môi giới BH hoạt động cùng nhau tranh tài cung cấp sản phẩm bảo hiểm để
khách hàng có quyền lựa chọn một cách tích cực. Trong số đó, BH PNT có 7
DN 100% vốn nước ngoài, 4 DN liên doanh, BHNT có 10 DN 100% vốn nước
ngoài, môi giới BH có 4 DN 100% vốn nước ngoài. Mạng lưới hoạt động của
ngành BH được mở rộng bằng các chi nhánh, công ty thành viên, văn phòng
giao dịch của các DNBH đến tận các tỉnh, thành, quận huyện, các vùng cao,
vùng sâu, biên giới, hải đảo. Đối tượng khách hàng ngày càng đa dạng, phong
phú. Không có một DN sản xuất, một ngành nghề nào là không được DNBH
tiếp cận tuyên truyền giới thiệu sản phẩm và vận động tham gia BH.
Số lượng sản phẩm BH ngày càng nhiều, đa dạng, phong phú cơ bản đáp
ứng nhu cầu và tạo được sự lựa chọn mang tính cạnh tranh cho khách hàng.

Prudential 13.059 tỉ đồng. Vốn chủ sở hữu và dự phòng nghiệp vụ tăng mạnh
làm cho năng lực BH của từng DNBH nâng lên rõ rệt, tăng khả năng nhận tái
BH trong nước và giảm dần phần tái bảo hiểm nước ngoài.
Năng lực quản lý điều hành và chất lượng cán bộ BH ngày càng chuyên
nghiệp. Năm 1993, ngành BH mới có 500 cán bộ, công nhân viên, đến nay, toàn
ngành đã có tới 14.000 cán bộ, công nhân viên và 140.000 đại lý BH, trong đó
có 90.000 đại lý BH NT chuyên nghiệp. Lãnh đạo DNBH, các Trưởng phòng,
Giám đốc chi nhánh đều được trải qua các khóa đào tạo trong và ngoài nước đạt
tiêu chuẩn qui định của Bộ Tài chính. Sự ra đời các công ty BH có vốn nước
ngoài đã là tấm gương cho các DNBH học tập kinh nghiệm, phương thức quản
lý điều hành DNBH, nghiên cứu, phát triển sản phẩm BH, phát triển kênh phân
phối qua khâu trung gian BH là môi giới BH, đại lý BH. Toàn ngành có trên
90% cán bộ BH có trình độ đại học, trong đó, 5% có trình độ trên đại học, có
trên 1.000 cán bộ tốt nghiệp các khóa đào tạo BH nước ngoài có trình độ đại
học và sau đại học. Gần đây, trong quá trình cổ phần hóa, các DNBH đã hướng
tới chọn đối tác chiến lược là các công ty BH hàng đầu quốc tế để tiếp thu
phương pháp, kinh nghiệm, công nghệ quản lý, điều hành của họ.
Đầu tư vào nền kinh tế quốc dân của các DNBH tăng mạnh. Năm 1993,
đầu tư vào nền kinh tế quốc dân mới ở mức 300 tỉ đồng. Năm 2008, đầu tư vào
nền kinh tế quốc dân ước đạt 50.896 tỉ đồng, trong đó, BH NT là 36.012 tỉ đồng,
BH PNT là 14.884 tỉ đồng. Các khoản đầu tư của DNBH đều đảm bảo an toàn,
hiệu quả, chủ yếu là đầu tư vào trái phiếu chính phủ, tiền gửi ngân hàng và các
khoản đầu tư có đảm bảo. Tiền lãi đầu tư đã tạo điều kiện cho các DNBH trả
bảo tức ngày một tốt hơn cho khách hàng, một phần để bù đắp chi phí hoạt
động, một phần đem lại cổ tức cho các cổ đông. Các khoản đầu tư của DNBH là
nguồn vốn trung và dài hạn cho các công trình, các dự án phát triển nền kinh tế
xã hội. Năm 1993, ngành BH nộp ngân sách nhà nước 68 tỉ đồng, năm 2008, đạt
450 tỉ đồng. Ngoài ra, ngành BH tạo nguồn thu thuế VAT gần 1.000 tỉ đồng,
thuế thu nhập cá nhân của nhân viên và đại lý BH gần 1.000 tỉ đồng. Các
DNBH đã tài trợ cho các hoạt động thể thao, văn hóa, xã hội, từ thiện hàng trăm

PNT có 11 DNBH có vốn nước ngoài (4 liên doanh), NT có 10 DNBH 100%
vốn nước ngoài, Môi giới BH có 4 DN 100% vốn nước ngoài. Quá trình mở cửa
thị trường BHVN không làm suy giảm năng lực cạnh tranh của DNBH trong
nước mà còn là yếu tố buộc các DNBH trong nước nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình để tồn tại và phát triển. Hoạt động KDBH luôn liên quan đến tái
BH và các sản phẩm BH dễ dàng bắt chước sao chụp nên yếu tố hội nhập của
ngành BH mang tính tất yếu đối với từng DNBH.
HHBHVN góp phần không nhỏ cho sự phát triển thị trường BHVN. Cuối
năm 1999, HHBHVN được ra đời như là một tất yếu của thị trường BH.
HHBHVN đã xứng đáng là ngôi nhà chung, mang tiếng nói chung và đã phát
huy được vai trò tự quản của các DNBH. HHBHVN đã làm tốt vai trò tuyên
truyền về BH, đóng góp, xây dựng cơ chế chính sách pháp luật liên quan đến
BH, xây dựng và phản biện một số sản phẩm BH, tổ chức Hội thảo, đào tạo
nghiệp vụ, cung cấp thông tin, đánh giá, định hướng thị trường BH và tranh thủ
sự ủng hộ của các tổ chức trong và ngoài nước với ngành BHVN.
Có thể nói 15 năm qua là chặng đường dài ngành BH đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn, vượt qua thử thách, mở cửa và hội nhập quốc tế để phục vụ cho công
cuộc xây dựng đất nước, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển đầu tư trong
nước, ổn định đời sống nhân dân trước những thiên tai, hiểm họa xảy ra.
Nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được, thị trường BHVN đã bộc lộ
một số yếu kém, đó là tình trạng cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng hạ phí BH
thấp hơn cả phí tái BH ra nước ngoài hoặc tỉ lệ bồi thường chung của thị trường;
trích lập dự phòng chưa đủ, hồ sơ bồi thường còn tồn đọng nhiều. Năm 2009,
nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế VN nói riêng, trong đó có ngành
BH sẽ còn đối mặt với nhiều khó khăn, hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn
cầu.
Trước tình hình trên đòi hỏi các DNBH cần phải tiếp tục nâng cao năng lực
cạnh tranh, đầu tư phát triển công nghệ mới, phát triển sản phẩm, đào tạo nguồn
nhân lực, nâng cao năng lực điều hành DN, hợp tác chia sẻ thông tin, rủi ro để
phát triển lành mạnh. Ngành BH phát huy hơn nữa thành tựu đã đạt được trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status