Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục Lục
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. TLBH Trục lợi bảo hiểm
2. ATGT An toàn giao thông
3. TNDS Trách nhiệm dân sự
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam..........................7
Bảng 2 : Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông từ năm 1995 – 2005...........9
Bảng 3: Biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới.................................................22
Bảng 4: Biểu phí ngắn hạn theo quy định của Bộ Tài Chính.........................22
Bảng 5: Biểu phí dài hạn theo quy định của Bộ Tài Chính............................23
Bảng 6: Kết quả kinh doanh của văn phòng bảo hiểm quận Cầu Giấy........46
(giai đoạn 2003 – 2007)......................................................................................46
Bảng 7: Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới của phòng
bảo hiểm Cầu Giấy giai đoạn 2003 – 2007.......................................................50
Bảng 8 : Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác nghiệp vụ bảo hiểm vật
chất xe cơ giới của phòng bảo hiểm Cầu Giấy giai đoạn 2003-2007..............53
Bảng 9: Tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới so với tổng doanh
thu phí của phòng bảo hiểm Cầu Giấy giai đoạn 2003-2007..........................54
Bảng 10: Hiệu quả khai thác của phòng Cầu Giấy.........................................57
Bảng 11: Kết quả giám định thiệt hại vật chất xe cơ giới tại phòng bảo hiểm
Cầu Giấy giai đoạn 2003-2007..........................................................................60
Bảng 12: Tình hình bồi thường của phòng bảo hiểm Cầu Giấy....................62
giai đoạn 2003-2007...........................................................................................62
nghiệp vụ bảo hiểm có tiềm năng rất lớn ở nước ta hiện nay và trong tương
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
1
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
lai. Chính vì lý do đó mà em quyết định chọn đề tài: : “Thực trạng và giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất
xe cơ giới tại phòng bảo hiểm Cầu Giấy, công ty bảo hiểm Hà Nội” với
mong muốn được đóng góp một số ý kiến để hoạt động này ngày càng được
nâng cao, tạo niềm tin cho khách hàng vào công ty.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của cô giáo
Th.s Tô Thiên Hương, các anh chị ở văn phòng bảo hiểm Cầu Giấy để em có
thể hoàn thành được chuyên đề thực tập của mình. Trong quá trình hoàn thành
chuyên đề, do thời gian và sự hiểu biết còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót nhất định, em rất mong được sự góp ý của các Thầy, Cô giáo
và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
2
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Chương 1. Khái quát chung về bảo hiểm vật chất xe cơ
giới.
I. Sự cần thiết khách quan phải có bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
1.Lịch sử hình thành bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
1.1. Vai trò của ngành giao thông vận tải trong nền kinh tế.
Giao thông vận tải là một ngành dịch vụ, tham gia vào việc cung ứng
vật tư kỹ thuật, nguyên liệu, năng lượng cho các cơ sở sản xuất và đưa sản
phẩm đến thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất xã hội diễn ra
liên tục và bình thường. Trong nền kinh tế quốc dân, giao thông và vận tải
từ ngân sách Nhà Nước và sự hỗ trợ từ nguồn vốn vay của các chính phủ nước
ngoài, nguồn vốn này đã được sử dụng cho việc làm mới và nâng cấp nhiều
con đường quan trọng, có ý nghĩa chiến lược để đáp ứng nhu cầu đi lại của
nhân dân và các hoạt động kinh tế xã hội khác. Bên cạnh đó thời tiết khí hậu
nước ta luôn có những diễn biến bất thường, mưa lớn lũ lụt xảy ra hàng năm
làm xuống cấp nghiêm trọng nhiều đoạn đường, có đoạn còn bị phá hủy hoàn
toàn.
Xe cơ giới là phương tiện phổ biến nhất của giao thông đường bộ với các
tính năng linh hoạt, vận hành tốt ở các loại địa hình, thuận tiện trong việc
chuyên chở hành khách và hàng hóa, đồng thời nó có tốc độ vận chuyển
nhanh, lưu lượng xe lớn, chi phí rẻ hơn so với các loại hình vận chuyển khác
cho nên rất được ưa chuộng. Hơn nữa, cùng với nhịp tăng trưởng nhanh, nhu
cầu vận chuyển lưu thông hàng hóa giữa các vùng tăng nhanh, do đó sự gia
tăng nhanh chóng của phương tiện xe cơ giới là điều tất yếu.
1.2. Nguyên nhân và hậu quả của tai nạn xe cơ giới.
1.2.1. Nguyên nhân.
Xe cơ giới là phương tiện rất tiện ích trong giao thông vận tải đường bộ.
Tuy nhiên mặt trái của hình thức vận chuyển này là vấn đề an toàn trong vận
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
4
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
hành, là mức độ nguy hiểm lớn, khả năng gây tai nạn cao do số lượng đầu xe
quá dày đặc, đa dạng về chủng loại lại bất cập về chất lượng. Theo thống kê
của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia thì có tới hơn 80% các vụ tai nạn giao
thông là do hoạt động giao thông đường bộ gây ra và đều liên quan đến điều
khiển xe cơ giới.Vậy nguyên nhân nào gây nên những vụ tai nạn này?
Có rất nhiều nguyên nhân gây nên những vụ tai nạn xe cơ giới, nhưng
chúng ta có thể gộp thành 3 nguyên nhân chính sau:
- Do người điều khiển xe khi tham gia giao thông.
233.831 vụ TNGTĐB, làm chết 114.906 người, làm bị thương 244.550 người.
Tính trung bình mỗi ngày xảy ra 54 vụ TNGTĐB, làm chết 27 người và làm
bị thương 56 người. Riêng thiệt hại về tài sản, vật chất (cả hữu hình và vô
hình) là rất lớn, khó mà tính ra con số chính xác được. Theo ước tính trung
bình mỗi năm Việt Nam tốn khoảng 900 USD cho vấn đề tai nạn giao thông.
Hệ lụy của TNGTĐB là một gánh nặng của xã hội. Phần lớn tổn thất về
người (tính mạng, sức khoẻ) của loại tai nạn này nhằm vào những người có
sức khoẻ, năng động và là lao động chính của nhiều gia đình. Sau khi vụ, việc
giao thông đường bộ xảy ra, có thiệt hại về người và tài sản, nếu có: người
điều khiển phương tiện vi phạm các qui định về an toàn giao thông bị kết án tù
– xã hội phải lo; người chết do tai nạn – xã hội phải lo; người bị thương tích,
tàn phế - xã hội phải lo điều trị và nuôi dưỡng; tài sản, công trình, phương tiện
hư hỏng do tai nạn gây ra – xã hội phải lo sửa chữa, khắc phục…và còn rất
nhiều tổn thất khác có liên quan – xã hội cũng phải lo với biết bao nỗi niềm
xót thương, bức xúc, trăn trở.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Bảng 1 : Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam
(giai đoạn 1996-2007).
Năm
Số vụ tai
nạn
(vụ)
Số người bị
chết (người)
Số người bị
thương
(người)
2. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
2.1. Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Tai nạn, rủi ro là điều mà không một cá nhân, tổ chức nào mong muốn.
Nhưng trên thực tế thì tai nạn, rủi ro lại hàng ngày, hàng giờ vẫn luôn xảy ra
đe dọa đến tính mạng, sự an toàn của mọi người với các mức độ khác nhau.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người cũng phần nào kiểm soát
và hạn chế được một số rủi ro, song cũng chính bàn tay con người lại làm cho
các rủi ro khác hoành hành giữ dội hơn.
Sự phát triển nhanh chóng của phương tiện cơ giới một mặt đem lại cho
con người một hình thức vận chuyển thuận tiện, kịp thời, rẻ và đặc biệt phù
hợp với nhu cầu của đại đa số dân cư Việt Nam hiện nay. Nhưng chính do tính
cơ động cao nên nguy cơ gây ra rủi ro tai nạn của xe cơ giới là rất lớn.
Riêng ở Việt Nam, theo Ủy ban an toàn giao thông (ATGT) Quốc gia,
trong vòng 12 năm từ năm 1995 đến năm 2007 số lượng phương tiện xe cơ giới
tăng 26,83 lần từ 3.918.935 chiếc lên 24.650.681 chiếc, bình quân hàng năm
tăng 16,8%. Trong đó ô tô tăng từ 340.779 chiếc đến 1.485.915 chiếc (tăng4,36
lần), mô tô tăng 6,47 lần từ 3.578.156 chiếc lên 23.164.766 chiếc. Qua bảng
trên ta thấy, số lượng xe cơ giới tăng rất nhanh qua các năm đặc biệt là trong
giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2001, ô tô tăng 15,12 % từ 483.917 chiếc đến
557.092 chiếc, xe mô tô tăng 34,60 % từ 625.823 chiếc đến 2.148.219 chiếc.
Tính đến hết năm 2007, tổng số lượng xe cơ giới của cả nước là 24.650.681 xe
trong đó 1.485.915 ô tô và 23.164.766 mô tô. Mặc dù tốc độ gia tăng các loại
phương tiện xe cơ giới cao như vậy nhưng tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng
ngành giao thông vận tải đường bộ còn hạn chế, còn nhiều vấn đề tồn tại cần
giải quyết. Số liệu thống kê cho thấy, năm 2007 cả nước có khoảng 254.523 km
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
8
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
đường bộ thì chỉ có khoảng trên 50% được rải nhựa nhưng chất lượng kém và
luôn chiếm tỷ lệ cao trong các loại hình giao thông vân tải, chiếm 93,7 % về
số vụ, 94,13 % số người chết và 98,8% về số người bị thương, và tỷ lệ này
luôn ở mức ổn định, không thay đổi nhiều qua các năm.
Tai nạn giao thông là vấn đề mang tính xã hội và chỉ có thể hạn chế một
phần nào đó mà không thể kiểm soát một cách tuyệt đối được. Các nước đều
phải đối mặt với tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng, phải đối mặt với
những thiệt hại không nhỏ về người và của mà chủ phương tiện gây ra. Tuy
nhiên trên thực tế có những chủ phương tiện lại trốn tránh không thực thi, có
khi gây tai nạn rồi bỏ trốn. Bởi thế việc giải quyết bồi thường trở nên khó
khăn, lợi ích của người bị nạn không được đảm bảo, gây ảnh hưởng tiêu cực
trong dư luận xã hội.
Làm thế nào để sẵn sàng có nguồn tài chính cho việc giải quyết bồi thường
hậu quả các vụ tai nạn, bảo vệ quyền lợi của người bị hại? Đây là mối quan
tâm không chỉ của Nhà Nước mà còn của các chủ xe và bản thân người bị
thiệt hại. Nhiều biện pháp được áp dụng khi có tai nạn giao thông xảy ra như
chủ phương tiện lập quỹ dự trữ, đi vay… nhưng các giải pháp này chỉ mang
tính tạm thời, thụ động. Do vậy, các chủ phương tiện phải tìm kiếm các giải
pháp hiệu quả hơn và bảo hiểm chính là giải pháp mang lại hiệu quả cao trong
việc xử lý rủi ro do tai nạn giao thông gây ra. Quỹ bảo hiểm được lập dựa trên
sự đóng góp một khoản tiền nhỏ của các chủ xe cho các công ty bảo hiểm để
bồi thường những thiệt hại khi phương tiện của họ hoạt động gây ra tai nạn.
Xuất phát từ vấn đề đó, bảo hiểm vật chất xe cơ giới đã ra đời đáp ứng kịp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
10
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
thời nhu cầu khách quan này của xã hội và cũng là điều mong muốn của các
chủ xe, chủ phương tiện.
2.2.Vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới.
Góp phần ổn định tài chính, khắc phục khó khăn cho chủ xe và lái xe khi
vậy ngân sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên khi
không may họ gặp rủi ro. Mặt khác, hoạt động bảo hiểm này là bảo hiểm
thương mại nên có trách nhiệm đóng góp vào ngân sách Nhà nước thông qua
các loại thuế, dẫn đến tăng thu cho ngân sách.Ngoài ra, từ một phần số tiền
không phải chi trả bồi thường, nhà bảo hiểm có thể sử dụng để đầu tư tăng
trưởng vốn, cùng với Nhà Nước đầu tư trở lại xây dựng hệ thống đường xá
giao thông, cầu đường…nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng, đảm bảo an toàn cho
nhân dân và từ đó có điều kiện phát triển kinh tế hơn.
Góp phần ngăn ngừa tai nạn giao thông, hạn chế tổn thất.
Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này luôn đi cùng công tác tuyên
truyền, quảng cáo giúp mọi người nhận thức được vai trò của bảo hiểm vật
chất xe cơ giới và những rủi ro thiệt hại có thể xảy ra đối với phương tiện của
mình. Do vậy họ sẽ tự giác chấp hành luật lệ an toàn giao thông vì lợi ích
trước hết của chính bản thân họ. Bên cạnh đó, việc triển khai nghiệp vụ bảo
hiểm vật chất xe cơ giới cũng đi liền với việc giúp các cá nhân, tổ chức tăng
cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, giảm thiểu rủi ro xuống mức
thấp nhất có thể. Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp một cách tích cực để
thực hiện biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp
phòng tránh tai nạn, cùng ngành giao thông làm các biển báo nhắc nhở mọi
người phải kiểm soát được tốc độ khi điều khiển phương tiện trên những đoạn
đường nguy hiểm, những đoạn đường hay xảy ra tai nạn giao thông, đường
lánh nạn…Còn đối với các chủ xe, lái xe là những người trực tiếp điều khiển
các phương tiện giao thông, việc tham gia nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ
giới có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiện của chủ xe, thúc đẩy họ phải
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
12
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
thực hiện các biện pháp an toàn khi lái xe và luôn chăm lo giữ gìn xe của
chính mình.
dân. Với thực tế nền kinh tế nước ta hiện nay, việc đi lại, vận chuyển bằng xe
cơ giới là hình thức chủ yếu và phổ biến, được sử dụng rộng rãi trong nền
kinh tế quốc dân.
Đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá
trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia. Để xác định là xe cơ giới,
người ta thường dùng các tiêu thức sau:
Xe cơ giới phải được gắn động cơ (khác với xe không có động cơ như
xe đạp, xe do gia súc kéo…).
Xe cơ giới di chuyển trên đất liền không cần đường dẫn bằng chính
động cơ gắn trên nó (khác với tàu hỏa, xe điện…).
Xe cơ giới phải có tối thiểu một chỗ ngồi cho người điều khiển.
Xe cơ giới được cấu thành từ nhiều bộ phận (khối động cơ,hệ thống nhiên
liệu, hệ thống điện, hệ thống truyền lực, hệ thống lái, hệ thống phanh và hộp số,
bộ phận thân vỏ). Các bộ phận này được lắp ráp ăn khớp với nhau theo một
nguyên lý nhất định, mỗi cái có một chức năng nhất định. Hệ thống nhiên liệu
sẽ chuyển hóa nhiên liệu thành cơ năng, cơ năng này được chuyền qua các bộ
phận đến bánh xe - bộ phận duy nhất tiếp xúc với mặt đất để đẩy xe đi dưới sự
điều khiển của con người.
Xe cơ giới được coi là nguồn nguy hiểm nên để trở thành đối tượng bảo
hiểm, xe cơ giới phải đảm bảo những tiêu chuẩn về mặt kỹ thuật và các điều
kiện pháp lý nhất định - phải được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký
xe, biển kiểm soát, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi
trường, giấy lưu hành xe.
Trên phương diện kỹ thuật bảo hiểm, người ta thường phân chia xe cơ giới
thành các tổng thành. Trên cơ sở phân chia đó, bên bảo hiểm có thể bảo hiểm
toàn bộ xe hoặc bảo hiểm từng bộ phận xe. Trong các tổng thành, thân vỏ xe
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
chất lượng đường xá cho đến những yếu tố chủ quan từ phía chủ xe, lái xe như
tình trạng quản lý, bảo dưỡng của chủ xe; ý thức, kỹ năng, kinh nghiệm của
người lái xe…
Trước hàng loạt rủi ro, tai nạn, việc xác định phạm vi bảo hiểm và quy
định loại trừ trong những mẫu đơn bảo hiểm của các công ty bảo hiểm rất cần
thiết, để đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật và pháp lý trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm.
2.1. Rủi ro được bảo hiểm.
Người bảo hiểm bồi thường cho Chủ xe tham gia bảo hiểm những thiệt hại
vật chất xảy ra do những tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của lái xe, chủ
xe, đó là:
- Những rủi ro thông thường gắn liền với hoạt động của xe: Đâm va, lật
đổ…
- Những rủi ro bất thường dễ phát sinh khác (cháy, nổ…).
- Những rủi ro khách quan có nguồn gốc tự nhiên (bão, lũ lụt, sét đánh,
động đất, mưa đá…).
- Rủi ro khách quan có nguồn gốc xã hội (mất cắp, mất cướp toàn bộ, đập
phá…).
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới có phạm vi thời gian bảo hiểm 24/24 giờ,
trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm (điều này được ghi
trong giấy chứng nhận bảo hiểm).
Thông thường hợp đồng vật chất xe cơ giới có hiệu lực trên toàn lãnh thổ
quốc gia. Trong hợp đồng mở rộng phạm vi bảo hiểm ra ngoài lãnh thổ quốc
gia theo yêu cầu của người được bảo hiểm thì phải được sự chấp thuận bằng
văn bản của người bảo hiểm.
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, người bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ xe:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
16
- Hao mòn tự nhiên, hỏng hóc do sử dụng, lão hóa, mất giá, giảm dần chất
lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa, trong quá trình
sửa chữa (bao gồm cả chạy thử).
- Hư hỏng về điện hoặc động cơ do xe hoạt động trong vùng bị ngập nước.
- Tổn thất đối với săm lốp trừ trường hợp tổn thất này xảy ra do cùng
nguyên nhân và đồng thời với các bộ phận khác của xe trong cùng một vụ tai
nạn.
- Hành động cố ý phá hoại của chủ xe, lái xe.
Loại trừ những trường hợp vi phạm pháp luật và/hoặc độ trầm trọng của
rủi ro tăng lên, đó là những tai nạn xảy ra khi:
- Lái xe không có bằng lái hoặc có nhưng không hợp lệ.
- Lái xe say rượu bia, có sử dụng ma túy, hoặc các chất kích thích khác
trong khi điều khiển xe.
- Xe vận chuyển chất cháy nổ trái phép (không có giấy phép vận chuyển
hoặc vận chuyển trái với quy định trong giấy phép vận chuyển).
- Xe chở quá trọng tải hoặc quá số hành khách theo quy định.
- Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi
trường phương tiện cơ giới đường bộ.
- Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn.
- Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, chạy thử.
Loại trừ rủi ro có tính “xã hội” với hậu quả lan rộng như: chiến tranh, bạo
loạn…
Những quy định loại trừ khác như:
- Loại trừ những thiệt hại có tính chất hậu quả gián tiếp như: Giảm giá trị
thương mại; ngừng sản xuất, sử dụng, khai thác.
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam (trừ trường hợp có thỏa thuận riêng).
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
18
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
trong thực tế thì các bên không đủ chi phí và thời gian để làm như vậy với
hàng trăm chiếc xe tham gia bảo hiểm. Do đó trước khi tham gia bảo hiểm các
công ty bảo hiểm và các chủ xe sẽ tiến hành thỏa thuận đánh giá giá trị thực tế
của xe theo cách sau:
Đánh giá giá trị thực tế của xe theo thị trường: Doanh nghiệp bảo hiểm
sẽ cùng chủ xe thỏa thuận xác định giá trị thực tế của xe trên thị trường kết hợp
với giám định tình trạng thực tế của xe trong quá trình sử dụng. Việc xác định
giá trị thực tế của xe trên thị trường căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Giá mua ban đầu của xe.
+ Giá mới của xe cùng loại trên thị trường vào thời điểm hiện tại có
tham khảo bảng giá trị xe mới do doanh nghiệp bảo hiểm ban hành hàng năm
và giá xe tại các hãng xe ô tô trên cơ sở sự biến động về giá cả xe mới trên thị
trường.
+ Xu hướng tiêu dùng các loại xe của thị trường, tình hình sản xuất
trong nước hoặc nhập khẩu của các xe cùng loại hay các phụ tùng thay thế.
+ Tình trạng hao mòn thực tế của xe: Có thể dựa vào các căn cứ sau
để đánh giá:
Số km đã khai thác trên thực tế.
Số năm đã sử dụng xe, mục đích sử dụng xe.
Tần suất sử dụng xe hay hệ số khai thác.
Đặc điểm địa hình hoặc điều kiện đường xá của vùng
hay tuyến mà xe thường xuyên hoạt động.
Tình trạng kỹ thuật và hình thức bên ngoài của xe trên
thực tế.
Giá mua bán trên thị trường của các xe tương đối cùng loại.
Với các căn cứ và cách đánh giá trên, chủ xe và doanh nghiệp bảo hiểm có
thể thỏa thuận đi đến thống nhất một giá trị xe tham gia bảo hiểm hợp lý. Nói
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Lớp Bảo Hiểm 46b
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Tô Thiên Hương
Căn cứ vào STBH, mức phí của hợp đồng bảo hiểm thiệt hại vật chất xe
cơ giới được xác định bằng tỷ lệ phí bảo hiểm nhân với STBH.
P = S
b
* R
Trong đó: S
b
: Số tiền bảo hiểm.
R : Tỷ lệ phí bảo hiểm.
Tỷ lệ phí ở công thức này do Bộ Tài Chính quy định và nó phụ thuộc vào
các yếu tố sau:
Xác suất thống kê những vụ tai nạn giao thông xảy ra (nói chung).
Thiệt hại bình quân mỗi vụ tai nạn giao thông xảy ra (nói chung).
Thời hạn bảo hiểm (ngắn hạn hoặc dài hạn).
Bảng 3: Biểu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới
(không tính khấu hao hay thay mới).
Giá trị thực tế
Tỷ lệ phí bảo hiểm cơ bản trên số tiền
bảo hiểm
Xe ô tô
Xe mô tô,
xe máy
Bảo hiểm
toàn bộ
Bảo hiểm bộ
phận
Xe sử dụng dưới 3 năm hoặc giá trị