Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
DANH MỤC VIẾT TẮT
PTI Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu điện
AVI Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
HĐ Hợp đồng
Techcombank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kĩ thương Việt Nam
Maritimebank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng hải Việt Nam
Lienvietbank Ngân hàng Liên Việt
VAMA Hiệp hội sản xuất ô tô Việt Nam
TNGT Tai nạn giao thông
Vnpost Bưu cục
MIC Công ty cổ phần bảo hiểm quân đội
PVI Tổng công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam
PJCO Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
SVIC Công ty cổ phần bảo hiểm SHB- VINACOMIN
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
MỤC LỤC
Lời mở đầu...............................................................................................................4
Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới......................6
1.1 Một số khái niệm và vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới..........................6
1.1.1 Một số khái niệm của bảo hiểm vật chất xe cơ giới........................................6
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới..........................................................6
1.2 Nội dung của bảo hiểm vật chất xe cơ giới..........................................................8
1.2.1 Đối tượng bảo hiểm.........................................................................................8
1.2.2 Phạm vi bảo hiểm............................................................................................8
1.2.3 Số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.............................................................10
1.2.4 Phí bảo hiểm..................................................................................................11
1.2.5 Giám định và bồi thường...............................................................................12
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe
vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại PTI...............................................................53
3.1 Giải pháp nhằm triển khai tốt hơn nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới....53
3.1.1 Giải pháp đối với công tác khai thác..............................................................53
3.1.2 Giải pháp đối với công tác đề phòng và hạn chế tổn thất...............................55
3.1.3 Giải pháp đối với công tác giám định.............................................................56
3.1.4 Giải pháp đối với công tác bồi thường...........................................................57
3.1.5 Giải pháp hạn chế tình trạng trục lợi bảo hiểm vật chất xe cơ giới................59
3.2 Khuyến nghị.........................................................................................................62
3.2.1 Đối với Bộ Tài chính......................................................................................62
3.2.2 Đối với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam.............................................................63
Kết luận..................................................................................................................65
Tài liệu tham khảo.................................................................................................66
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Xe cơ giới là một phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại ngày
nay của con người. Nó vừa là phương tiện đi lại vừa là công cụ để kinh doanh.
Cuộc sống ngày càng phát triển, đời sống của người dân càng nâng cao thì nhu cầu
về phương tiện này lại càng lớn. Hiện nay, số lượng xe máy và số lượng ô tô ở việt
Nam tăng lên nhanh chóng. Với khí hậu mưa nhiều, bão lũ, úng ngập xảy ra liên
tục như ở Việt Nam, giao thông phức tạp, chuyện hỏng xe, chết máy, xước sơn vỏ
xe, tai nạn giao thông xảy ra là điều không hiếm. Điều này gây thiệt hại không nhỏ
về kinh tế cho chủ nhân của chiếc xe máy hay xe ô tô.
Để giúp đỡ phần nào mọi người thoát khỏi tình trạng khó khăn, giảm thiểu
chi phí sửa chữa xe, bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời. Có rất nhiều doanh nghiệp
cung cấp loại nghiệp vụ này, trong đó có công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện. Đây
là loại nghiệp vụ không chỉ đem lại lợi ích cho chủ nhân mỗi chiếc xe khi có tổn
thất xảy ra mà còn đem lại nguồn doanh thu lớn cho PTI. Dù có kinh nghiệm nhiều
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành tổng hợp và phân tích số liệu theo các chỉ tiêu để làm rõ tình hình
thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty.
5. Nội dung chính của khóa luận
Khóa luận gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Chương II: Tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở
Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
Chương III: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm triển khai tốt hơn nghiệp
vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
Vì kiến thức lí luận và thực tế có hạn nên bài viết không thể tránh được
những sai sót, khiếm khuyết. Vì vậy, rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô
và các bạn. Xin chân thành cảm ơn cô Ths.Nguyễn Thị Hữu Ái đã giúp đỡ em hoàn
thành bài viết này.
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI
1.1 Một số khái niệm và vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1 Một số khái niệm về bảo hiểm vật chất xe cơ giới
1.1.1.1 Khái niệm xe cơ giới
Xe cơ giới là xe chạy trên đường bộ, bằng động cơ của chính nó và có ít nhất
một chỗ ngồi. Xe cơ giới bao gồm rất nhiều loại xe khác nhau: xe mô tô hai bánh,
ba bánh, xe ô tô chở người, chở hàng hóa, vừa chở người vừa chở hành hóa và các
loại xe chuyên dụng khác. Xe cơ giới được cấu tạo từ nhiều chi tiết, bộ phận máy
móc thiết bị khác nhau như động cơ, hệ thống nhiên liệu, hệ thống điện, hệ thống
truyền lực, hệ thống lái, hệ thống phanh và hộp số, bộ phận thân vỏ.
1.1.1.2 Khái niệm bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình Bảo hiểm tài sản và nó được thể hiện
những khó khăn về mặt tài chính, giúp họ ổn định cuộc sống và sản xuất kinh
doanh của mình. Đây cũng là tác dụng đặc trưng của bảo hiểm.
1.1.2.2 Góp phần ngăn ngừa và đề phòng hạn chế tổn thất
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình mà khách hàng chỉ có thể nhận
được khi gặp rủi ro dẫn đến tổn thất. Nếu rủi ro xảy ra dẫn đến tổn thất thuộc phạm
vi bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ bồi thường cho khách hàng. Mục tiêu lớn nhất của
hoạt động kinh doanh bảo hiểm là tạo ra lợi nhuận. Theo đó, các doanh nghiệp bảo
hiểm muốn có lợi nhuận cao thì chi phí phải giảm, mà khoản chi cho bồi thường là
khoản chi lớn nhất của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó các doanh nghiệp đã đề ra
các biện pháp nhằm giúp cho khách hàng của mình đề phòng và hạn chế tổn thất có
thể xảy ra. Các doanh nghiệp bảo hiểm phối hợp với các cơ quan chức năng tăng
cường giáo dục cho nhân dân ý thức chấp hành luật lệ giao thông, tham gia vào các
hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về an toàn giao thông đến từng
người dân. Ngoài ra các doanh nghiệp bảo hiểm còn dùng quỹ nhàn rỗi của mình
vào việc xây dựng, cải tạo hệ thống đường xá, lắp đặt các hệ thống đèn tín hiệu, dải
phân cách nhằm hạn chế các tai nạn giao thông đáng tiếc có thể xảy ra.
1.1.2.3 Góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước và tạo thêm việc làm cho người
lao động
Như chúng ta đã biết, người tham gia bảo hiểm đóng một khoản phí bảo
hiểm tạo thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn, ngoài việc chi trả, bồi thường nguồn quỹ
này còn là một nguồn vốn lớn đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Ở một số nước
phát triển như Mỹ, nguồn vốn mà các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào nền kinh
tế thường cao, đứng thứ hai chỉ sau các ngân hàng thương mại và cung cấp khoảng
10% tổng quỹ đầu tư của thị trường tiền tệ và vốn. Từ đó bảo hiểm đã góp phần
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
tăng thu cho ngân sách nhà nước và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao
động, giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội.
1.1.2.4 Góp phần huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế xã hội
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
8
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
Trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, chủ xe cơ giới sẽ được bồi thường thiệt
hại vật chất xe xảy ra do tai nạn bất ngờ, ngoài sự kiểm soát của chủ xe, lái xe trong
những trường hợp sau đây:
- Đâm, va, lật, đổ
- Hỏa hoạn, cháy, nổ
- Những tai nạn bất khả kháng do thiên nhiên: bão, lũ, sét đánh,
động đất, mưa đá, sụt lở.
- Vật thể từ bên ngoài tác động lên xe.
- Mất cắp, mất cướp toàn bộ xe
- Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác
Ngoài ra các công ty bảo hiểm còn thanh toán những chi phí cần thiết và hợp
lý nhằm:
- Ngăn ngừa, hạn chế tổn thất phát sinh thêm
- Chi phí đưa xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất
- Chi phí giám định tổn thất
Trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm (bao
gồm cả các chi phí) không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên giấy chứng nhận
bảo hiểm.
Đồng thời các công ty sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường trong những
trường hợp sau:
Thứ nhất: Đối với những thiệt hại vật chất của xe gây ra do các nguyên nhân:
- Hao mòn tự nhiên phát sinh từ hoạt động bình thường của chiếc xe gây ra.
- Hư hỏng do khuyết tật, ẩn tỳ, mất giá trị, giảm dần chất lượng cho dù có
Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ.
- Hư hỏng hoặc tổn thất thêm do quá trình sửa chữa và do vật thể trong xe tác
động lên mà không phải do xe đâm va lật đổ
+ Xe chở chất cháy, nổ trái phép
+ Xe dùng để tập lái, đua thể thao, chạy thử sau khi sửa chữa
Trong thời hạn bảo hiểm nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu cho chủ xe khác
thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực với chủ xe mới, nếu chủ xe không chuyển
quyền lợi bảo hiểm sang chủ xe mới thì Công ty bảo hiểm sẽ hoàn trả lại phí.
1.2.3 Số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm
1.2.3.1 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền người tham gia bảo hiểm chấp nhận tham gia
hoặc người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm xác định dựa trên giá
trị bảo hiểm và sự phân tích chủ quan của người tham gia hoặc người bảo hiểm.
Nguyên tắc của bảo hiểm là số tiền bảo hiểm không vượt quá giá trị bảo hiểm.
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
10
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
Người tham gia bảo hiểm vô tình hoặc cố ý vi phạm các công ty bảo hiểm sẽ có
những chế tác phù hợp tùy vào mức độ thực tế.
1.2.3.2 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế của xe trên thị trường tại thời
điểm tham gia bảo hiểm. Xác định giá trị thực tế của xe thực chất là xác định giá
bán của nó trên thị trường vào thời điểm tham gia bảo hiểm. Việc xác định đúng
giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường
chính xác thiệt hại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Để có thể đánh giá chính
xác giá trị bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải kiểm tra xe trước khi
nhận bảo hiểm sau đó sẽ đánh giá giá trị thực tế của chiếc xe tham gia bảo hiểm.
1.2.4 Phí bảo hiểm
1.2.4.1 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là nhân tố đầu tiên quyết định đến sự lựa chọn của khách hàng.
Vì vậy việc xác định chính xác phí bảo hiểm sẽ đảm bảo cho hoạt động của công
ty, đồng thời làm tăng tính cạnh tranh cho công ty trên thị trường bảo hiểm.
1.2.4.2 Phương pháp tính phí bảo hiểm
giữa xe mô tô và ô tô, giữa cách thức bảo hiểm cho toàn bộ xe và bộ phận xe. Tỷ lệ
phí còn được mở rộng cho những trường hợp mở rộng phạm vi bảo hiểm (ví dụ cho
rủi ro xe mất cắp bộ phận, bảo hiểm không trừ khấu hao..); trường hợp áp dụng
mức miễn thường tăng lên và số năm xe đã qua sử dụng.
1.2.5 Giám định và bồi thường
1.2.5.1 Vai trò của giám định, bồi thường
Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dễ bắt chước, do vậy những chiến lược cạnh
tranh thông thường như giá cả, dịch vụ rất khó mang lại tính đột biến. Trên cơ sở
đó, chiến lược sản phẩm trở nên có ưu thế hơn cả. Chất lượng của sản phẩm bảo
hiểm được thể hiện tại khâu giám định, bồi thường. Đây là khâu rõ nét nhất trong
đặc tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm. Với vai trò thể hiện chất lượng sản phẩm
bảo hiểm, khâu giám định bồi thường là khâu trực tiếp quyết định tính hấp dẫn của
sản phẩm bảo hiểm, mang lại uy tín của công ty, đồng thời quyết định sự lỗ lãi
trong nghiệp vụ bảo hiểm.
Bên cạnh đó, giám định bồi thường còn mang vai trò hòa giải khi có sự xung
đột về lợi ích của các bên liên quan. Với vai trò quan trọng như vậy, giám định bồi
thường được pháp luật và các tổ chức bảo hiểm rất quan tâm và đề ra những
nguyên tắc nhất định.
Trong những năm gần đây, các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới đã phát triển
mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đòi hỏi công tác giám định bồi thường ngày
một phải được củng cố, nâng cao và phải đảm bảo các nguyên tắc:
1.2.5.2 Nguyên tắc giám định
+ Phải được tiến hành sớm nhất sau khi nhận được thông tin tai nạn (theo
quy định chung là 5 ngày). Nếu không tiến hành sớm được thì lý do chậm chễ phải
được thể hiện trong biên bản giám định
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
+ Tất cả các thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm về vật chất, tài sản đều
phải tiến hành giám đinh.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
thực tế. Trường hợp này gọi là “Giá trị thay thế mới”, chủ xe phải đóng phí bảo
hiểm khá cao theo các chính sách điều kiện bảo hiểm chặt chẽ
+ Trong trường hợp tổn thất bộ phận:
Khi tổn thất bộ phận xảy ra, chủ xe sẽ được giải quyết bồi thường theo một
trong hai nguyên tắc trên. Tuy nhiên các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức bồi
thường đối với tổn thất bộ phận bằng tỷ lệ giá trị tổng thành xe.
+ Trong trường hợp tổn thất toàn bộ
Xe được coi là tổn thất toàn bộ khi mất cắp, mất tích hoặc bị thiệt hại nặng
đến mức không thể sửa chữa hoặc nếu có thì chi phí sửa chữa, phục hồi bằng hoặc
lớn hơn giá trị thực tế của xe. Nếu xe tham gia bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị
thực tế của xe tại thời điểm tham gia bảo hiểm thì bồi thường toàn bộ số tiền ghi
trên giấy chứng nhận bảo hiểm. Nếu xe tham gia bảo hiểm cao hơn giá trị thực tế
của xe tại thời điểm tham gia bảo hiểm thì bồi thường bằng giá trị thực tế của xe
khi xảy ra tai nạn.
Các tổ chức bảo hiểm thường quy định khi giá trị thiệt hại so với giá trị thực
tế của xe đạt tới hoặc vượt qua một tỷ lệ giới hạn nhất định nào đó thì được coi như
tổn thất toàn bộ ước tính.
Ngoài những nguyên tắc trên, khi tính toán và chi trả bồi thường, các tổ chức
bảo hiểm còn phải chú ý các nguyên tắc sau:
- Tạm ứng bồi thường: Phải được dựa trên cơ sở:
+ Chủ xe có đơn yêu cầu bảo hiểm
+ Thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm và phải ước tính giá trị thiệt hại
thuộc phạm vi bảo hiểm
- Căn cứ vào đó để đề xuất tạm ứng theo quy định bằng văn bản, khi xét bồi
thường phải đối trừ hoặc thu hồi tạm ứng.
Những bộ phận thay thế mới, thì khi bồi thường phải trừ khấu hao đã sử
dụng hoặc chỉ tính giá trị của bộ phận được thay thế ngay trước lúc xảy ra tai nạn.
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra có liên quan đến trách nhiệm của người thứ
ba, công ty bồi thường cho chủ xe và yêu cầu chủ xe bảo lưu quyền khiếu nại và
Sản phẩm bảo hiểm tuy là sản phẩm vô hình nhưng nó luôn được các doanh
nghiệp phân phối rộng rãi giống như các sản phẩm hữu hình khác. Rủi ro không chỉ
tồn tài ở một nơi, nó luôn tiềm ẩn ở mọi nơi. Bảo hiểm là sản phẩm kinh doanh dựa
trên việc nhận rủi ro về mình. Việc phân bố hệ thống các chi nhánh và mạng lưới
các đại lí với số lượng tăng và được phân bố hợp lí ở từng khu dân cư, từng vùng
trong cả nước sẽ thu hút số lượng người mua có nhu cầu nhiều hơn, thuận lợi hơn
khi giải quyết bồi thường và giám định. Vì một chiếc xe không chỉ đi quanh quẩn
xung quanh nơi mình kí hợp đồng mà còn đi đến nhiều vùng khác trong cả nước
nhất là đối với những xe dùng để kinh doanh. Nếu như tổn thất xảy ra thì sẽ có bộ
phận giám định kịp thời đến giám định đến làm việc.
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
15
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
1.3.1.3 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố tiên quyết mà khách hàng lựa
chọn để mua sản phẩm. Dù sản phẩm đó có đắt nhưng chất lượng tốt thì khách
hàng vẫn mua sản phẩm đó. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp cùng kinh doanh một sản phẩm vô cùng gay gắt. Để hấp dẫn khách
hàng, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Với sản
phẩm bảo hiểm, chất lượng được thể hiện qua thái độ phục vụ của các nhân viên
khai thác, giám định, hiệu quả của giám định, bồi thường có nhanh có chuẩn xác
không, các hoạt động chăm sóc khách hàng. Giả sử, nhân viên khai thác có thái độ
không hay, thường xuyên quên chăm sóc khách hàng của mình trong các ngày lễ,
việc tái tục hợp đồng sẽ khó khăn, tạo cho khách hàng những hình ảnh xấu về
doanh nghiệp mình. Bản thân sản phẩm bảo hiểm vật chất xe cơ giới nếu có thêm
các điều khoản bổ sung, như các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận chi trả thêm chi
phí cho việc cẩu kéo xe bị thiệt hại đến nơi sửa chữa, khách hàng không phải thanh
toán tiền mặt cho các gara mà các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trực tiếp thanh toán.
Đây là điều tạo nên sự hấp dẫn cho khách hàng. Vì cùng một sản phẩm, với số tiền
đó nhưng họ lại được hưởng nhiều quyền lợi hơn. Chất lượng tốt sẽ khiến khách
Bảo hiểm là sản phẩm không phải ai cũng hiểu được hình thức kinh doanh
của nó, nhất là việc bán hàng qua các đại lí trung gian. Bảo hiểm là sản phẩm vô
hình nên không ai có thể cảm nhận ngay được chất lượng, công năng của nó như
thế nào. Vì thế, khách hàng không thấy ngay được lợi ích của sản phẩm này. Rất
nhiều người đã có những quan niệm không đúng đắn, có cái nhìn không mấy thiện
cảm về về việc kinh doanh này. Vì thế, đây là một yếu tố hạn chế gặp nhiều khó
khăn khi mà các doanh nghiệp triển khai các loại hình bảo hiểm ở nước ta. Nhưng,
trong vài năm gần đây, dân trí tăng cao, kết hợp với việc nhiều người đã tự mua
cho mình được những chiếc ô tô. Họ thấy được lợi ích từ sản phẩm vật chất xe cơ
giới, trong khi chiếc xe của mình lại là sản phẩm đắt tiền, nên họ đã không ngần
ngại chi một số tiền không nhỏ để đổi lấy sự an tâm về tinh thần, giảm bớt phần
nào chi phí sửa chữa tốn kém cho chiếc xe.
1.4 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá tình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe
cơ giới tại PTI
1.4.1 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh theo các khâu công việc
Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm khi triển khai thường phải trải qua một số khâu
công việc cụ thể như khâu khai thác, khâu giám định và bồi thường, khâu đề phòng
và hạn chế tổn thất... Để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao
hiệu quả từng khâu công việc. Điều đó có nghĩa là phải xác định hiệu quả từng
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
khâu, sau đó so sánh và đánh giá xem khâu nào chưa mang lại hiệu quả để tìm ra
nguyên nhân và hướng khắc phục.
1.4.1.1 Trong khâu khai thác
Kết quả khai thác trong kì
Hiệu quả khai thác =
bảo hiểm Chi phí khai thác trong kì
Kết quả khai thác trong kì có thể là doanh thu phí bảo hiểm, cũng có thể là số
lượng hợp đồng, số đơn bảo hiểm cấp trong kì... Chi phí khai thác có thể là tổng chi
Tỷ lệ chi phí đề phòng
và hạn chế tổn thất so = x 100%
với chi phí bồi thường Chi phí chi cho bồi thường
1.4.3 Các chỉ tiêu phân tích tình hình giám định
+ Tỷ lệ giải quyết giám định:
Số vụ giám định đã giải quyết trong kì
Tỷ lệ giải quyết = x 100%
giám định Số vụ giám định phát sinh trong kì
+ Tỷ lệ số vụ giám định còn tồn đọng:
Số vụ giám định còn tồn đọng trong kì
Tỷ lệ số vụ giám định = x 100%
còn tồn đọng Số vụ giám định phát sinh trong kì
+ Tỷ lệ chi phí giám định so với doanh thu:
Chi phí chi cho giám định trong kì
Tỷ lệ chi phí giám định = x 100%
so với doanh thu Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm trong kì
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
+ Tỷ lệ chi phí giám định so với chi phí bồi thường:
Chi phí chi cho giám định trong kì
Tỷ lệ chi phí giám định so = x 100%
với chi phí bồi thường Chi phí chi bồi thường trong kì
1.4.4 Các chỉ tiêu phân tích tình hình bồi thường
+ Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường trong kì
+ Số vụ khiếu nại đã được giải quyết bồi thường trong kì
+ Số vụ khiếu nại còn tồn đọng chưa giải quyết bồi thường trong kì
+ Tỷ lệ giải quyết bồi thường:
Số vụ khiếu nại đã được giải quyết
bồi thường trong kì
bồi thường trong kì
+ Số tiền bị thất thoát do bồi thường sai sót trong kì:
+ Tỷ lệ số tiền bồi thường bị thất thoát:
Số tiền bị thất thoát do
bồi thường sai sót trong kì
Tỷ lệ số tiền bồi = x 100%
thường bị thất thoát Tổng số tiền đã giải quyết
bồi thường trong kì
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
CHƯƠNG 2
TÌNH HÌNH KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ
GIỚI Ở TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
2.1 Khái quát về công ty và tình hình kinh doanh bảo hiểm
2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của PTI
2.1.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của PTI
THÔNG TIN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP
• Tên đầy đủ tiếng Việt: Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
• Tên giao dịch: Bảo hiểm Bưu điện
• Tên tiếng Anh: Post - Telecommunication Joint - Stock Insurance
Corporation
• Tên viết tắt: PTI
• Địa chỉ: Tầng 8, số 4A, Láng Hạ, Quận Ba Đình, TP. Hà Nội
• Điện thoại: 04.37724466 FAX 04.37724460
• Email: [email protected]
• Web: www.pti.com.vn
Hội sở giao dịch: Công ty bảo hiểm bưu điện Thăng Long
Địa chỉ: 100 Thái Thịnh, quận Đống Đa, Hà Nội
Trong năm 2010 Công ty đã hoàn thành tăng vốn điều lệ lên 450 tỷ đồng và
được Bộ Tài chính cấp Giấy phép điều chỉnh số 41A/GPĐC2/KDBH ngày 30 tháng
03 năm 2010 sửa đổi vốn điều lệ của Công ty là 450 tỷ đồng.
PTI hoạt động theo Luật Kinh doanh Bảo hiểm và Điều lệ hoạt động đã được
Đại Hội đồng Cổ đông thông qua. Doanh nghiệp được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành
phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 055051 ngày 12 tháng 8
năm 1998 và Đăng ký kinh doanh thay đổi lần 1 ngày 17 tháng 03 năm 2004. PTI là
công ty cổ phần bảo hiểm do các tổng công ty lớn như Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam, Tổng Công ty Cổ phần Tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam
(VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội
(HACC), Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam
(VINACONEX), Ngân hàng thưowng mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB), Công
ty cổ phần Thương mại Bưu chính Viễn thông (COKYVINA) góp vốn thành lập.
Sinh viên: Trần Thị Vân Lớp: Đ3BH2
23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hữu Ái
PTI có sự hợp tác với các công ty giám định độc lập, uy tín trong và ngoài
nước như Cunningham Linshey, McLauren… để giải quyết những vụ tổn thất lớn,
phức tạp.
Để đảm bảo an toàn tài chính của Tổng công ty, khả năng bồi thường cho
khách hàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, PTI có quan hệ
hợp tác lâu dài, tốt đẹp và đã ký kết những hợp đồng tái bảo hiểm cố định với các
công ty, tập đoàn tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như: Swiss Re,
Munich Re, CCR, Mitsui Sumitomo, Tokio Marine, Hannover Re, Vinare… và các
công ty môi giới hàng đầu như: Marsh, Aon, Willis, Arthur J. Gallagher.
Hiện nay, hoạt động kinh doanh của PTI gồm Kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ, tái bảo hiểm, giám định tổn thất và đầu tư tài chính.
Sau 12 năm hoạt động, PTI đã từng bước ổn định và phát triển, bước đầu
Công ty đã khẳng định được vị thế của mình với gần 4% thị phần Bảo hiểm phi
nhân thọ. Hiện PTI là doanh nghiệp đứng thứ năm trên thị trường bảo hiểm Việt