LUẬN VĂN: Nền kinh tế nước ta là một bộ
phận của nền kinh tế thế giới Lời nói đầu Việc nghiên cứu xây dựng nền kinh tế thị trường là vấn đề rất quan trọng được
tiến hành hầu hết trên mọi quốc gia trong thời đại ngày nay. Trong đó có Việt Nam.
Việt Nam là đất nước đang phát triển, đâng trong thời kì quá độ lên CNXH. Cho
nên việc đi sâu tìm hiểu nền kinh tế thị trường không còn là vấn đề mới mẻ. Nó là
điều kiên quyết để đưa Việt Nam qua thời kì quá độ lên CHXN.
Nước ta còn là một nước công nghiệp lạc hậu, phải gánh nhiều hậu quả của
chiến tranh để lại. Với những dư âm của xã hội và nền kinh tế quan liêu bao cấp.
Cho nên để khắc phục những khó khăn này, đưa đất nước Việy Nam ra khỏi khủng
hoảng, ổn định nền kinh tế-xã hội, tạo điều kiện vững chắc cho đất nước phát triển
khác nhau. Chẳng hạn, phạm trù triết học Mac-xít về vật chất, vân đong, không
gian, thời gian vv…
2/ Mối quan hệ biên chứng giữa cái riêng-cái chung
2. 1/ Quan điểm của một số nhà triết học về mối quan hệ giữa cái chung-cái
riêng
Trong lịch sử triết học tồn tại hai quan điể trái ngược nhau về mối quan hệ
giữa cái riêng và cái chung của phái duy thực và phaí duy danh.
Phái duy thực: Cho rằng, chỉ có cái chung mới tồn tại khách quan, độc lập với
ý thức con người, không phụ thuộc vào cái riêng, sinh ra cái riêng.
Phái duy danh: Cho rằng, chỉ cái riêng mới tồn tại khách quan, cái chung chỉ
là những từ trống rỗng, do tư tưởng của con người sáng tạo ra.
2. 2/ Triết học Mác khẳng định
Cả cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ
biện chứng hữu cơ với nhau. Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu
hiện sự rồn tại của mình. Tức là cái chung không tồn tại thuần tuý bên ngoài cái
riêng, mà nó phải thông qua cái riêng.
Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung. Tức là không
có cái riêng nào tồn tại độc lập, mà cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái
chung.
Như vậy sự vật hiện tượng nào cũng có hai mặt là cái riêng và cái chung, hai
mặt này đều tồn tại khách quan. Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung.
Còn cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Cái riêng
phong phú hơn cái chung bởi ngoài những cái ra nhập với cái chung, nó còn có
những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có. Cái chung là cái sâu sắc hơn cái riêng,
bởi vì nó phản ánh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ bên trong, tất
nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại. Vì vậy cái chung là cái
gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của sự vật.
KTTT đi ngược lại tiến bộ xã hội, phản nhân đạo. KTTT đi sâu, xâm nhập vào từng
quóc gia, đưa các nước đó phá triển và dẫn tới sự phát triển đồng bộ nền KTTT trên
toàn thế giới.
ở Việt Nam KTTT được hình thành và phát triển từ sau đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI ( 1986 ) được phát triển theo định hướng XHCN.
Kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới. Cho nên chúng có
mối quan hệ hữu cơ với nhau.
2/ Khái niệm về KTTT
KTTT là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Mà phát triển nền KTTT là điều kện tất yếu để có sự đồng nhất hoá toàn cầu.
Để có sự lớn mạnh chung của thế giới, để đưa nền kinh tế của mỗi quốc gia tiến bộ
và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, là cầu nối hữu hình giữa nền kinh tế các quốc
gia. Nền KTTT đã phát triển lâu nay, mầm mống của nó tồn tại ngay trong nền kinh
tế hàng hoá. Xu hướng chung của thế giới hiện nay là phát triển KTTT. III/ vận dụng cặp phạm trù cái riêng cái chung vào việc xây dựng nền KTTT
định hướng XHCN ở việt nam
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển. Với nền kinh tế còn non yếu Đảng
và nhà nước đã quyết định xu hướng phát triển nền KTTT nhưng theo định hướng
XHCN.
1/ Đặc trưng chung của nền KTTT
Do KTTT là sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá và mọi yếu tố của sản
xuất đều được thị trường hoá cho nên KTTT có những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự bù
đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh của
mình, tự do liên kết, tự do liên doanh theo luật định. Kinh tế hàng hoá không bao
dung hành vi bao cấp. Nó đối lập với bao cấp và đồng nghĩa với tự chủ năng động.
Hai là, hàng hoá trên thị trường rất phong phú phản ánh trình độ cao của năng
suất lao động, trình độ phân công lao động xã hội, sự phát triển của sản xuất và thị
doanh và tự chủ );b) Các phạm trù kinh tế vốn có của KTTT như hàng hoá, tiền tệ,
thị trường, cạnh tranh, cung cầu, giá trị thị trường, giá cả thị trường và lợi nhuận; c)
các quy luật kinh tế của KTTT ( Quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật
cạnh tranh và quy luật cung cầu; d) Cơ chế vận hành nền KTTT-cơ chế thị trường
có sự quản lí của nhà nước.
Thứ hai: Với tư cách là cái đặc thù-định hướng XHCN-trong quá trình kết
hợp đòi hỏi phải tuân theo các mục tiêu các đăc trưng của CNXH mà nước ta cần
xây dựng. Định hướng XHCN ở nước ta là một sự lựa chọn tất yếu, một khái niệm
khoa học. Tuy vậy vẫn có một số cách hiểu khác nhau, thậm chí không phải không
có tư tưởng hoài nghi về tính hiện của định hướng XHCN mà Đảng, nhà nước và
nhân dân ta đã chọn.
Thứ ba: Trong mối quan hệ giữa cái chung-KTTT với cái đặc thù-định hướng
XHCN, không thể lấy KTTT làm chủ đạo. Đây là nguyên tắc cơ bản trong mối quan
hệ kết hợp giữa cái chung và cái đặc thù, vì chúng ta không chủ trương xây dựng mô hình KTTT bất kì, trừu tượng, càng không chủ trương xây dựng mô hình KTTT
tư bản chủ nghĩa, mà chủ trương xây dựng mô hình KTTT định hướng XHCN làm
chủ đạo.
Vấn đề ta cần xét ở đây là môí quan hệ giữa cái chung và cái riêng diễn ra như
thế nào? theo quan điểm của Mác- Lênin: thì cái chung và cái riêng tồn tại khách
quan và chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại của mình. ở đây cái chung là nền KTTT trong xu hướng, đặc điểm phát hiên
chung là nền kinh tế mở cửa nhưng nó được đưa vào ứng dụng tạ môi trường và
hoàn cảnh Việt Nam chúng ta thì nó tồn tại trong nền kinh tế nước nhà đi theo định
hướng XHCN. Thông qua môi trường hoàn cảnh xu hướng của nền kinh tế Việt
Nam hoà nền KTTT có những đặc điểm chung, nhưng khi nó đuiược đưa vào nền
kinh tế nước ta theo định hướng XHCN thì ngoài những đặc điểm chung nó còn
mang những đặc thù riêng mà chỉ thông qua cái đặc thù riêng đó nó biểu hiện sự tồn
Đảng đã đề ra.
Trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng này, không thể lấy các chung
làm cái chủ đạo, cũng như không thể lấy nền KTTT làm cái quyết định mà nhất
thiết phải lấy định hướng XHCN làm chủ đạo. Đây là nguyên tắc cơ bản trong mối
quan hệ cái chung-KTTT với cái đặc thù-định hướng XHCN.
4/ KTTT định hướng XHCN
KTTT định hướng XHCN là một kiểu tổ chức, một kiểu vận hành kinh tế mà
một mặt tuân theo những qui luật của KTTT, mặt khác, dựa trên cơ sở bản chất của
và nguyên tắc của CNXH.
Từ kiểu tổ chức kinh tế đến kiểu vận hành kinh tế nó đều có những đặc trưng
riêng. Nền KTTT là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá. Tức là với
phạm trù nền KTTT ở đây nói lên: là một nền kinh tế tự do, tụ chủ. Mọi thành vien
tham gia đều có quyền tự quyết. Đây là môi trường đấu tranh gay gắt. Các chủ thể
kinh tế luôn có những phương châm kế hoạch để vượt lên nhau, thạm chí cả thủ
đoạn để loại bỏ nhau. Nền kinh tế này nó mang đậm phong cách tư bản chủ nghĩa.
Đó là cạnh tranh gay gắt, đàn áp và bóc lột lẫn nhau ( bóc lột giá trị thặng dư…). Đó là những đặc điểm chung của KTTT. Nhung khi nền KTTT được ứng dụng tại
Viẹt Nam chúng ta thì nó bị biến đổi chuyển hoá dần theo hưoứng mà Đảng và nhan
dân đề ra. Đó là một nền KTTT hoàn toàn mới- nền KTTT định hướng XHCN.
5/ Định hướng XHCN của KTTT ở Việt Nam
Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế kết hợp hai mặt kinh
tế-xã hội ngay trong từng bước phát triển. Phát triển nền kinh tế tức là phát triển về
mặt vật chất nhưng đồng thời phát triển xã hội ổn định và đáp ứng về mặt tinh thần
của xã hội.
Nền KTTT định hướng XHCN ở Viêt Nam là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Đại hội VI đã đề ra để nền
kinh tế ổn định thoát khỏi cuộc khủng hoảng thì phải phát triẻn nên kinh tế nhiều
thành phần phát triẻn trên mọi lĩnh vực với sự định hướng của nền kinh tế quốc dân.
Giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam còn nặng về quan liêu bao cấp. Quản lí
theo phương thức bảo thủ trì trệ, tàn dư của xã hội cũ rất nhiều. Toàn bộ dân tộc vừa
thống nhất đi lên XHCN ( 1975 ). Hậu quả của chiến tranh năng nề, thiệt hại về cả
vật chất lẫn tinh thần. Nền kinh tế Việt Nam đi lrrn từ hai bàn tay trắng, từ hoang
tàn đổ nát, bắt đầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Nền ngân sách thì eo hẹp, công nghệ
thấp kém, quản lí trì trệ. Có chăng thì trong nền kinh tế nước nhà mới chỉ có những
mầm mống tự phát sơ nguyên của KTTT.
Giai đoạn từ năm 1986 đến 1991
Tại đại hội VI Đảng và Nhà nước quyết định Nhà nước Việt Nam là nhà nước
đang phát triển, đang trong thời kì quá độ đi lên XHCN. Để khắc phục nền kinh tế
nghèo nàn lạc hậu thì buộc phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nền KTTT.
Tự vận động, cạnh tranh và điều tiết theo quy luật của KTTT với sự định hướng và
quản lí vĩ mô của Nhà nước.
ở giai đoạn này là giai đoạn mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của nền
KTTT. Cơ cấu quản lí thay đổi hoàn toàn. Chống quan liêu bao cấp, chông bảo thủ trì trệ. Phát triển một nền kinh tế mở
cửa thâm nhập dần vào thị trường thế giới. Tuy nhiên ở giai đoạn này mới chỉ là là
sự bắt đầu. Một sự bắt đầu với vô vàn khó khăn… trong tình trạng chưa có một nền
móng ổn định những kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, 5 năm, 10 năm được đề ra và thực
hiện.
Hơn nữa trong giai đoạn này CNXH đông âu đi vào lũng đoạn và tự sụp đổ.
Khiến hệ thống XHCN trên toàn thế giới gặp những khó khăn và khủng hoảng
manh, gay gắt, Nhưng dẫu khó khăn chồng chất thì toàn dân chung lòng cùng Đảng
đã từng bước và khắc phục dần dần. Nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính trị dần
dần ổ định thu hút đầu tư nước ngoài, mở cửa lưu thông liên minh đoàn kết với các
quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Tuy hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Nhung CNXH Việt Nam đã
Sự phân hoá giàu nghèo, bất công trong xã hội tăng nhanh
Tuy nhiên thế giới luôn vận động và luôn tồn tại những mặt đối lập, chúng sẽ
đấu tranh và loại trừ lẫn nhau. Mở cửa du nhập nền KTTT thì ngoài những tích cực
những khoa học công nghệ tiên tiến thì không tránh khỏi tiêu cực. Đó là điều tất yếu
mà mỗi quốc gia tự phải biết điều chỉnh và khắc phục sao cho thu được kết quả tốt
đẹp.
3/ Mục tiêu KTTT định hướng XHCN
Mục tiêu đề ra là phát triển kinh tế để đạt một xã hội giàu mạnh công bằng dân
chủ văn minh. Tức là ngoài phát triển KTTT ta phải được những mục tiêu riêng đặt
ra cho nước nhà.
Nếu như nếu như nền KTTT tự do TBCN phục vụ lợi ích các nhà tưn bản, xây
dựng cơ sở kinh tế theo CNTB thì KTTT định hướng XHCN lấy lợi ích và phúc lợi
toàn dân làm mục tiêu; phát triển KTTT để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH, nâng cao đời sống nhân dân. KTTT, bản thân nó
là nội lực tự thúc đẩy tiến trình kinh tế – xã hội. Đến lượt mình, chúng ta dùng cơ chế kinh tế đó để kích thích sản xuất, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo
của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy CHN-HĐH, xây dựng một
nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tưừng bước thực hiện lí tưởng XHCN.
4/ Để hiện thực hoá mô hình KTTT định hướng XHCN, cần thực hiện tốt
những đièu kiện và giải pháp sau đây
4. 1/ Tạo lập duy trì và phát triển tự do hoá kinh tế
Đây là một điều kiện có tầm quan trọng đến sự hình thành, tồn tại và phát triển
KTTT ở nước ta. Tự do hoá kinh tế là một điều kiện tất yếu để sản sinh và nuôi
dưỡng tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh và tự chủ, rất cần thiết cho các chủ thể
doanh nghiệp với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ.
Tương ứng với điều kiên này, các giải pháp cần có là:
Tiếp tục thực hiên nhất quán và lâu dài chính sách nền kinh tế đa dạng hoá về
hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.
tộc; trong sạch về phẩm chất đạo đức; cần kiệm liêm chính công vô tư; có năng lực
chuyên môn, có uy tín đối với chủ doanh nghiệp và nhân dân trong viẹc thực hiện
tốt các chức năng quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với KTTT.
IV/ Nền KTTT định hướng XHCN dưới cái nhìn của quan điểm toàn diện
Nền KTTT định hướng XHCN ở Viẹt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với nền
kinh tế thế giới. Nước ta là nước XHCN cho nên tăng trưởng kinh tế gắn với công
bằng xã hội thì mơí thúc đẩy được KTTT phát triển.
Không được nhìn KTTT dưới một góc độ, một mặt mà phải xem nó trong mối
liên hệ vời nhiều yếu tố khác. Đất nước ta theo định hướng đã chọn của Đảng, của nhân dân là xây dựng một
nhà nước CNXH cho nên phải ổn định nền kinh tế để tiến đến phát triển toàn diện
nền kinh tế dất nước.
Dưới cái nhìn của quan điểm toàn diện thì nền KTTT nói chung nói lên môi
trường cạnh tranh quyết liẹt tuân theo quy luật đào thải, kẻ mạnh thì thắng như một
môi trường đấu tranh cam go. Nhưng nền KTTT được ứng dụng vào Việt Nam thì
nó không hẳn mất đi nhũng đặc tính của nó, mà nó chỉ bị biến đổi một cách phù hợp
theo định hướng XHCN mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Tức là giữa cái riêng và cái
chung có sự biến đổi, sự tác động và chuyển hoá lẫn nhau trong đó lấy cái riêng-
định hướngXHCN làm chủ đạo, chúng dần dând đan xen, thâm nhập, quy định và
thống nhất đẻ rồi nó tạo thành cái mới phù hợp với hoàn cảnh. Đó là nền KTTT
Việt Nam, là kết quả của mối quan hệ tương tác, sự kết hợp hài hoà của nền KTTT
và nền kinh tế định hướng XHCN nước nhà.
Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, nền KTTT phát triển để tiến lên XHCN.
Hiện nay tuy số quốc gia đi lên xây dựng CNXH không nhiều. Nhưng không phải vì
thế mà làm ý chí lung lạc. Chúng ta luôn ổn định và quyết tâm đi theo con đường đã
chọn, dẫu rằng sẽ còn vất phải quá nhièu những cản trở, khó khăn, sự chống đối của
lực lượng thù địch, bọn phản động trông và ngoài nước.
Vì đường lối, xu hướng đã chọn nên nền KTTT nước ta mang những đặc tính
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Triết học
2. Tạp chí Kinh tế
3. Giáo trình Kinh tế chính trị
4. Tạp chí Cộng sản
5. Lênin toàn tập.
Mục lục
Lời nói đầu 1
Nội dung 3
I/ cặp phạm trù cái riêng-cái chung là phạm trù cơ bản của triết học 3
1/ Định nghĩa cái chung – cái riêng 3
2/ Mối quan hệ biên chứng giữa cái riêng-cái chung 3
3/ ý nghĩa phương pháp luận 4
II/ kinh tế thị trường( KTTT ) 5
1/ Khái quát chung về kinh tế thị trường 5
2/ Khái niệm về KTTT 5
III/ vận dụng cặp phạm trù cái riêng cái chung vào việc xây dựng nền KTTT
định hướng XHCN ở việt nam 6
1/ Đặc trưng chung của nền KTTT 6
2/ Bản chất của nền KTTT định hướng XHCN 7
3/ Nguyên tắc hình thành 8