Tài liệu LUẬN VĂN: Hoạt động hiệu quả để đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước doc - Pdf 10

LUẬN VĂN:

Hoạt động hiệu quả để đẩy mạnh
tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước

A - Lời nói đầu

Lý thuyết tuần hoàn và chu chuyển tư bản của K.Marx là một trong những lý
luận quan trọng hàng đầu và nó có giá trị rất lớn đối với hệ thống lý luận của ông. Việc
chúng ta nghiên cứu nó để vận dụng là một công việc hết sức cần thiết và đòi hỏi sự tỉ
mỉ và sáng suốt cao. Cần đứng trên một cái nhìn khách quan mà không phải là một
cách hiểu áp đặt và tuỳ tiện. Bởi sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất biện chứng
giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, giữa quá trình tạo ra giá trị thặng dư và
quá trình thực hiện giá trị thặng dư. Vì vậy sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất, cần
nghiên cứu quá trình lưu thông cùng những quan hệ bóc lột của tư bản, giải thích được
đầy đủ những biểu hiện bên ngoài của chủ nghĩa tư bản.
Theo nghĩa hẹp: lưu thông tư bản là quá trình biến tư bản từ hình thái tiền tệ sang
hình thái hàng hoá và từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ diễn ra trên thị

+ Giai đoạn thứ ba: Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán, thực
hiện hành vi H’ - T’
a. Giai đoạn thứ nhất (T - H)
Mới thoạt nhìn thì hành vi T-H cũng là một sự mua bán thông thường. Tiền tệ ở
đây được sử dụng làm phương tiện mua như mọi tiền tệ khác trong lưu thông. Nhưng
nếu xét kỹ các loại hàng hoá mà nhà tư bản đã mua thì tiền tệ đã đóng một vai trò khác
hẳn. Hàng hoá mua ở đây là tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là của những nhân tố
vật chất và người của sản xuất hàng hoá. Dĩ nhiên là đặc tính của các nhân tố này phải
phù hợp với nhân tố cần chế tạo, ngoài sự phù hợp về tính chất ra sức lao động và tư
liệu sản xuất phải bảo đảm đầy đủ cho việc sử dụng triệt để toàn bộ thời gian lao động
tất yếu là lao động thặng dư của sức lao động.
Quá trình này có thể trình bày theo công thức: Rõ ràng trong quá trình này, hành vi T - SLĐ (việc mua sức lao động), là yếu tố
đặc trưng khiến tiền xuất hiện là tư bản. Hành vi T - SLĐ chỉ cần thiết cho sức lao
động đã mua có thể hoạt động được. Song T - SLĐ được coi là nét đặc trưng của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là vì tính chất tiền tệ của mối quan
hệ đó. Tiền đã xuất hiện rất sớm để mua cái gọi là những sự phục vụ, nhưng mặc dầu
thế, tiền lúc ấy vẫn không biến thành tư bản tiền tệ, nét đặc trưng ở đây không phải là
ở chỗ người ta có thể mua được sức lao động bằng tiền mà là ở chỗ sức lao động thành
hàng hoá. Đây là một việc mua bán, một quan hệ tiền tệ, nhưng trong đó, người mua là
nhà tư bản, kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất và người bán là người lao động làm thuê đã
tách rời hoàn toàn với tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt. Vậy không phải bản chất
của tiền tệ đề ra mối quan hệ tư bản chủ nghĩa, trái lại, chính sự tồn tại của mối quan
hệ đó mới làm cho chức năng đơn giản của tiền biến thành chức năng của tư bản. Do
đó chính trên cơ sở của tư liệu sản xuất và sức lao động hoàn toàn tách rời nhau, quan

ứng tiển của họ ra để thực hiện sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì vậy, trở thành hình
thái của giá trị tư bản ứng trước, chúng phân thành những yếu tố khác nhau của tư bản
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong khi làm chức năng của mình, tư bản sản xuất tiêu
dùng các thành phần của bản thân nó để biến thành các thành phần ấy thành một sản
phẩm có giá trị lớn hơn. Kết quả là một hàng hoá mới tạo ra, khác về giá trị so với các
hàng hoá cấu thành tư bản sản xuất.
Hàng hoá mới này là hàng hoá đã mang giá trị thặng dư nó đã trở thành hàng hoá
H’ có giá trị bằng sản xuất + m tức là bằng giá trị của tư bản sản xuất hao phí để chế
tạo ra nó, cộng với giá trị thặng dư (m) do tư bản sản xuất ấy đẻ ra. Như vậy kết quả
của giai đoạn hai là tư bản sản xuất biến thành tư bản hàng hoá.
c. Giai đoạn thứ ba (H’ - T’)
Sản xuất ra hàng hoá rồi, tư bản chưa thể ngừng sự vận động của nó lại được. Tư
bản bây giờ tồn tại dưới hình thái hàng hoá nên cần phải đem bán hàng hoá để thu tiền
về thì mới tiếp tục được công việc kinh doanh.
Quá trình này có thể trình bày bằng công thức: H’ - T’. Hàng hoá - tư bản ném
vào lưu thông cũng không có gì phân biệt với hàng hoá thông thường, nó cũng chỉ
thực hiện chức năng vốn có của hàng hoá là trao đổi để lấy tiền. Nhưng sở dĩ nó là tư
bản hàng hoá vì ngay sau quá trình sản xuất, nó đã là H’, đã mang trong mình giá trị
của tư bản ứng trước và giá trị thặng dư. Vì vậy, chỉ cần tiến hành trao đổi theo đúng
quy luật như các hàng hoá thông thường và nếu bán được toàn bộ thì H’, đảm bảo thu
H
TLSX
SLĐ
SX
-

H ’

TLSX

SLĐ
SX H

-

T’
nghĩa. Sở dĩ như vậy là tư bản công nghiệp là hình thái tồn tại duy nhất của tư bản, mà
chức năng của nó không phải chỉ chiếm lấy giá trị thặng dư.
Do đó, tư bản tiền tệ, tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất đều không phải là tư
bản độc lập. ở đây, các tư bản ấy chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư bản
công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi ngành sản xuất kinh doanh phương thức tư bản
chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy là vì tư bản hình thái tồn tại duy nhất của tư bản, mà chức
năng của nó không phải là chiếm lấy giá trị thặng dư mà còn tạo ra giá trị thặng dư.
Do đó, tư bản tiền tệ và tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất đều không phải loại
tư bản độc lập. ở đây, các tư bản ấy chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư
bản công nghiệp. Tư bản này lần lượt mang ba hình thái ấy, và nếu xét trong quá trình
vận động liên tục thì mỗi hình thái đều xem là điểm xuất phát đồng thời là điểm hồi
quy của nó. Tuần hoàn của tư bản công nghiệp, tuần hoàn của tư bản tiền tệ hoặc dạng
tuần hoàn của tư bản sản xuất, hoặc cũng có thể là dạng tuần hoàn của tư bản hàng
hoá.
a. Tuần hoàn của tư bản tiền tệ.
Tuần hoàn của tư bản tiền tệ có công thức T - H SX H’ - T’, với điểm xuất
phát là T và điểm kết thúc là T’, đã biểu thị một cách rõ rệt nhất động cơ, mục đích
vận động của tư bản là giá trị tăng thêm giá trị, tiền đẻ ra tiền và tích luỹ tiền. Trong
tuần hoàn này, T là phương tiện được ứng ra trong lưu thông, nên hình như lưu thông

bản chủ nghĩa, nên từ đầu nó đã bao gồm tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
Hai là, kết thúc bằng H’, chưa chuyển hoá trở lại thành tiền đã tăng thêm giá trị
(T’), nó là hình thái chưa hoàn thành và còn phải tiếp tục tiến hành, vì vậy nó đã bao
hàm tái sản xuất.
Ba là, nó là hình thái làm nổi bật lên sự liên tục của lưu thông. H’ điểm bắt đầu
tuần hoàn và H’ của lưu thông đều biểu hiện một khối lượng giá trị sử dụng được sản
xuất ra để bán. Do đó nếu H’ điểm bắt đầu tuần hoàn đòi hỏi lưu thông thì điểm kết
thúc H’ cũng đòi hỏi ngay một quá trình lưu thông mới.
Bốn là, hình thái tuần hoàn này còn trực tiếp bộc lộ mối quan hệ giữa những
người sản xuất hàng hoá với nhau. Mỗi nhà tư bản đều ném H’ vào lưu thông và dùng
T’ đã thu được để mua các hàng hoá để tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Cả hai loại hàng hoá này đều nằm trong lưu thông và cũng là do các nhà tư bản công
nghiệp cung cấp cho nhau. Do đó hình thái tuần hoàn này không phải chỉ là một hình
thái vận động chung cho mọi nhà tư bản công nghiệp cá biệt - mà đồng thời còn hình
thái vận động của tổng số những tư bản cá biệt, tức là hình thái vận động của tổng tư
bản của giai cấp tư bản, là một vận động trong đó vận động của mỗi một tư bản công
nghiệp chỉ biểu hiện thành vận động bộ phận, chằng chịt với những bộ phận, chằng
chịt với những vận động của các tư bản khác và bị chế ước với những vận động này.
Như vậy là hình thái tuần hoàn H’ - H’ đã vạch rõ rằng sự thực hiện hàng hoá là điều
kiện thường xuyên của các quá trình sản xuất và tái sản xuất, song nó cũng quá nhấn
mạnh tính liên tục của lưu thông hàng hoá, nên người ta có ấn tượng rằng tất cả mọi
yếu tố của quá trình sản xuất đều là do lưu thông hàng hoá mà ra và chỉ gồm có hàng
hoá thôi.
Tóm lại, nếu xét riêng từng hình thái tuần hoàn thì mỗi hình thái chỉ phản ánh
hiện thực tư bản chủ nghĩa một cách phiến diện: mỗi hình thái đều làm nổi mặt bản
chất này và lại che dấu mặt bản chất khác của sự vận động của tư bản công nghiệp. Do
đó phải xem xét đồng thời cả ba hình thái tuần hoàn mới nhận thức đầy đủ sự vận động
thực tế của tư bản, mới hiểu biết đúng đắn bản chất của mối quan hệ mà giai cấp mà tư

của tư bản. Mác nói: “Tuần hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ
không phải là một chương trình cô lập, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản”
(1)
.
* Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi nhà tư bản ứng
tư bản ra dưới một hình thái nào đó cho đến khi thu về cũng dưới hình thái ấy có kèm
theo giá trị thặng dư. Chu chuyển của tư bản chỉ là tuần hoàn tư bản xét trong một quá
trình định kỳ nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng là tổng số thời gian lưu thông
và giai đoạn sản xuất trong quá trình tuần hoàn tức là bằng tổng số thời gian lưu thông
và thời gian sản xuất.
Thời gian sản xuất của tư bản là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất.
Thời gian sản xuất lại bao gồm:
- Thời gian lao động, tức là thời gian mà người lao động sử dụng tư liệu lao động
tác động vào tư liệu lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian duy nhất để tạo ra
giá trị và giá trị thặng dư của nhà tư bản.

(1)
C.Mác - Tư bản, quyển II, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội 1961, trang 134
(1)
Sách đã dẫn , trang 203 - Thời gian gián đoạn lao động, tức là thời gian để đối tượng lao động hoặc bán
thành phẩm chịu tác động của tự nhiên mà không cần lao động của con người góp sức.
Đó là những trường hợp thóc giống đã gieo, rượu để cho lên men, gỗ, gạch để phơi
khô, chẳng hạn.
- Thời gian dự trữ sản xuất, tức là thời gian mà tư bản sản xuất sẵn sàng làm điều
kiện cho quá trình sản xuất, nhưng chưa phải là yếu tố hình thành sản phẩm, cũng chưa
phải là yếu tố hình thành giá trị. Bộ phận tư bản này là tư bản ở hàng hoá, nhưng tình
trạng ở hàng hoá này không ngừng quá trình sản xuất.

tính toán và so sánh với nhau được thì phải có một đơn vị đo lường thống nhất, đơn vị
đó là năm. Dùng năm làm tốc độ đo lường chu chuyển của tư bản, có nghĩa là muốn
xác định tư bản quay được mấy vòng trong một năm. Lấy n là số lần chu chuyển; C
H

năm đơn vị đo lường, và c
h
là thời gian chu chuyển một vòng của tư bản thì sẽ có công
thức tính số vòng chu chuyển của tư bản như sau:
n = Error!
Ví dụ: một tư bản chu chuyển một vòng mất 6 tháng thì số vòng chu chuyển sẽ
là:
n = Error! = 2 vòng
- Một tư bản khác chu chuyển một vòng hết 24 tháng thì số vòng chu chuyển là:
n = Error! = 0,5 vòng
2. Tư bản cố định và tư bản lưu động.
Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm toàn bộ thời gian chu chuyển của các
bộ phận tư bản phải ứng ra để tiến hành sản xuất. Nhưng phương thức chu chuyển của
các bộ phận tư bản không giống nhau, do đó vòng chu chuyển của chúng cũng rất khác
nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau, người ta phân chia các bộ phận
tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
a. Tư bản cố định: là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất,
nhưng giá trị của nó chuyển từng phần vào sản phẩm, được xếp vào tư bản cố định
trước hết là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động (máy móc, thiết bị,
nhà xưởng, ) đang được sử dụng trong quá trình sản xuất, hình thái giá trị sử dụng của bộ phận tư bản này luôn luôn được duy trì, tồn tại như khi nó mới gia nhập vào
quá trình lao động. Chức năng tư liệu lao động trong quá trình sản xuất giữ chúng lại
đó, do đó bộ phận giá trị tư bản ứng ra được cố định lại dưới hình thái ấy. Bộ phận tư

nó cũng giảm dần do đã chuyển từng phần một sang sản phẩm, đó là mặt hao mòn về
giá trị, những sự hao mòn đó được gọi là hao mòn hữu hình, những hao mòn này là do
sử dụng vào sản xuất, do sức phá hoại của thiên nhiên gây ra, (ví dụ máy móc bị
gỉ, ).
Ngoài hao mòn hữu hình, tư bản cố định còn có hao mòn vô hình. Hao mòn vô
hình là sự hao mòn về mặt giá trị, trong khi giá trị sử dụng mới hao mòn một phần
hoặc còn nguyên vẹn. Hao mòn vô hình xảy ra do các nguyên nhân sau đây:
Năng suất lao động tăng lên, do đó làm giảm giá trị của những chiếc máy cũ, tuy
giá trị sử dụng của những chiếc máy này còn nguyên vẹn hoặc mới hao mòn một phần.
- Kỹ thuật cải tiến nên người ta sản xuất được những máy móc tuy có giá trị bằng
giá trị của máy cũ (hoặc cao hơn chút ít) nhưng lại có công xuất vượt xa công suất của
máy cũ. Tình hình này làm cho những chiếc máy cũ tuy giá trị sử dụng vẫn nguyên
vẹn, giá trị đã giảm sút đi nhiều.
Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình bình quân của tư bản cố định được tính
chuyển giá trị vào sản phẩm, lưu thông cùng sản phẩm, chuyển hoá thành tiền và trở
thành quỹ dự trữ tiền tệ để đổi mới, tư bản cố định khi đến kỳ tái tạo ra tư bản đó dưới
hình thái hiện vật, đó là quỹ khấu hao tư bản. Để phát huy hiệu quả của tư bản, bộ
phận quỹ khấu hao này có thể được đưa ra sử dụng để mở rộng doanh nghiệp (tăng
quy mô theo chiều rộng) hoặc cải tiến máy móc làm cho máy móc tăng thêm hiệu suất
(tăng quy mô theo chiều sâu). Vậy là có thể thực hiện được tái sản xuất mở rộng mà
không cần có sự tích luỹ tư bản thực sự.
Để tránh những hao mòn bất thường và bảo đảm phát huy hiệu quả cao, tư bản cố
định đòi hỏi những chi phí bảo quản đặc biệt. Việc bảo quản ấy được thực hiện một
phần ở bản thân quá trình lao động sử dụng nó, bảo tồn nó và chuyển giá trị của nó vào
sản phẩm. Việc bảo quản này là một cống hiến tự nhiên không mất tiền của lao động
sống. Nhưng để bảo quản tốt, tư bản cố định còn đòi hỏi phải chi phí thực sự sức lao
động nữa. Máy móc yêu cầu thỉnh thoảng phải được lau chùi. Đấy là công việc phụ,
nhưng nếu không làm thì máy móc sẽ hỏng. Ngoài việc cần được bảo quản, tư bản cố
Như vậy là do mâu thuẫn đối kháng của bản thân chủ nghĩa tư bản, việc rút ngắn
thời gian lưu thông của chủ nghĩa tư bản và thời gian sản xuất, do đó việc tăng tốc độ
chu chuyển của chủ nghĩa tư bản đã vấp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại. Tình trạng
năng lực sản xuất thường xuyên không được sử dụng hết ở các nước đế quốc hùng
mạnh, mức độ cạnh tranh, giành giật gay gắt thị trường giữa các nước này hiện nay
càng xác minh rõ điều đó.
Tăng tốc độ chu chuyển tư bản và tìm mọi biện pháp để tăng tốc độ chu chuyển
vốn là yêu cầu chung của mọi nền sản xuất.
C. Sự vận dụng lý thuyết đó vào quản lý các doanh nghiệp nước ta trong nền
kinh tế thị trường.
1. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp và xu hướng cổ phần hoá
doanh nghiệp.
a. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp.
Để huy động tối đa tiềm năng kinh tế cho sự phát triển của đất nước. Từ chủ
trương của Đảng, Nhà nước ta đã có những chính sách đa dạng hoá loại hình sở hữu -
đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp. Nhằm tranh thủ vốn, trình độ quản lý, kỹ thuật,
công nghệ của mọi tầng lớp nhân dân của nước ngoài. Để đẩy nhanh tiến độ của quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, rút ngắn sự tụt hậu của nước ta với khu
vực và thế giới. ở nước ta, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta là
doanh nghiệp của Đảng - doanh nghiệp Nhà nước phải là những doanh nghiệp chiếm
đa số và những doanh nghiệp vững mạnh trong nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo và là
xương sống - trụ cột của nền kinh tế, là chỗ dựa cho các thành phần kinh tế khác.
Trong những năm đầu của thời kỳ cách mạng XHCN - các doanh nghiệp Nhà nước đã
thống trị toàn bộ nền kinh tế và nó đã thể hiện sức mạnh của kinh tế Nhà nước. Nhưng
các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn hầu hết là thua lỗ hoặc không có lãi. Nhà nước
phải bù lỗ trong kinh doanh và đã làm cho doanh nghiệp Nhà nước suy yếu. Sản lượng
và giá trị của DNNN giảm hăn và dần nhường vị trí cho kinh tế tư nhân trong những
năm đổi mới nền kinh tế và tổng sản lượng của doanh nghiệp tư nhân bắt đầu tăng
nhanh, vượt quá của kinh tế Nhà nước. Từ đó Nhà nước ta lại phải chọn hướng đi mới


chắc cho sự phát triển, cuộc cải cách kinh tế cho thấy khu vực kinh tế Nhà nước càng
quan trọng. Trước năm 1986 khu vực quốc doanh chỉ đạt 38% GDP đến năm 1988 chiếm 40,2% GDP, tốc độ tăng bình quân của khu vực quốc doanh trong những năm
này là 10,5% trong khi khu vực ngoài quốc doanh chỉ tăng 6,1%. Khi bắt đầu chuyển
sang cơ chế hoạt động mới phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước thiếu vốn, kỹ thuật,
lúng túng trong phương pháp hoạt động. Chính vì vậy, một trong những nội dung cơ
bản trong cải cách khu vực quốc doanh là phải cơ cấu lại và sắp xếp lại các doanh
nghiệp nhằm khắc phục dàn trải, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Nhà nước. Một số biện pháp như đăng ký lại doanh nghiệp, giải thể các đơn vị hoạt
động yếu kém, cổ phần hoá các doanh nghiệp, tổ chức các tổng công ty, nhưng nhìn
chung các biện pháp thực hiện có những kết quả nhất định, cải cách DNNN được tiến
hành qua những bước sau:
Giai đoạn 1: trước năm 1990, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng
hoá và thị trường, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được phên phán triệt để, chuyển
hẳn sang hạch toán kinh doanh. Trong thời gian này doanh nghiệp được thành lập trên
diện rộng, kể cả ở cấp quận, huyện. Không có sự liên kết chặt chẽ doanh nghiệp trung
ương và địa phương. Đến cuối năm 1989 cả nước có 12.296 DNNN, đặc trưng cơ bản
của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là quy mô nhỏ vốn ít và công nghệ lạc hậu. Sự
dàn trải của các doanh nghiệp làm cho nguồn vốn đầu tư của Nhà nước không thể tập
trung để phát triển cho các ngành trọng điểm dẫn đến sự thiếu hụt vốn thường xuyên,
hơn nữa với cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ít phát huy tính sáng tạo, hoạt động một
cách thụ động. Từ sau Đại hội Đảng lần VI, nền kinh tế Việt Nam bước sang cơ chế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước. Bên cạnh DNNN còn có các thành phần kinh tế
khác được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp.
Giai đoạn 2: (1990 - 1994) chủ yếu hướng vào việc tổ chức lại các doanh nghiệp,
giải thể các doanh nghiệp yếu kém, củng cố các doanh nghiệp có khả năng hoạt động.
Chính phủ đã ban hành Nghị định 388/HĐBT, quyết định 315/HĐBT và Chỉ thị
500/TTg nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước làm giảm bớt đáng kể các

triển chính là vai trò cơ bản của kinh tế hợp tác xã.
Thực tế 10 năm đổi mới đường lối kinh tế của Đảng cho thấy, kinh tế HTX có
vai trò to lớn trong nhiều hệ thống sản xuất, trong đó có nhiều sự tham gia của nhiều
cá thể nhỏ bé về kinh tế, yếu kém về nghiệp vụ, non nớt trên thương trường, Thông
qua HTX, năng lực sở trường của họ được phát huy, được HTX bảo vệ quyền lợi chính
đáng, hỗ trợ vốn và năng lực sản xuất, vì vậy họ có nhu cầu tham gia HTX để cùng
hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Sự công bằng trong hợp tác xã là đặc điểm cơ bản mà trong loại hình doanh nghiệp. Một tổ chức được hình thành từ sự tự nguyện cho nên,
HTX là nơi mà các xã viên có thể tham gia phân công lao động xã hội mà HTX mang
lại trực tiếp bằng lợi nhuận sản xuất - kinh doanh của HTX, bằng việc ảnh hưởng các
chế độ mà Nhà nước giành cho hợp tác xã.
Đặc điểm cơ bản thứ ba của kinh tế HTX là tính chất xã hội cao bởi phát triển
kinh tế HTX thường gắn với phát triển cộng đồng. Chính đặc điểm này mà môi trường
kinh tế HTX làm cho các ngành nghề truyền thống xích lại gần nhau, họ trao đổi cho
nhau những kinh nghiệm từ gia tộc và đặc biệt là đào tạo ra những lao động có tay
nghề cao không phải trong tộc hay dòng họ. HTX có những hướng đi thiết thực hơn.
Tăng cường giám sát thực hiện luật tại địa phương, cần khẩn trương sửa đổi
những vướng mắc trong quá trình thực hiện luật đó là những điểm mà luật chưa dự
đoán hết trong quá trình phát triển rất nhanh của cơ chế thị trường cho nên một vài
điểm trở thành lực cản cho việc phát triển kinh tế HTX.
Tiếp tục khuyến khích bằng các chính sách ưu đãi với việc phát triển kinh tế hộ
và nông trại sản xuất hàng tiêu dùng.
Kinh tế trang trại đã là một mô hình phát triển mạnh của nhiều quốc gia, Việt
Nam có đủ điều kiện phát triển loại hình này thông qua HTX để điều tiết vốn, kỹ thuật
vật tư cây giống. Nhà nước không đủ sức cung cấp tiền hoặc các yêu cầu vật tư thiết bị
khác cho HTX, ngược lại các HTX không có gì cần về vốn, kỹ thuật họ cần Nhà nước
cho là cơ chế. Sau luật HTX, Chính phủ đã ban hành một loạt Nghị định về chính sách
của cơ chế hoạt động đặc thù của HTX. Các giải pháp cho sự phát triển mô hình HTX.

hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề mà
chưa kích thích cho sự tiến hành cổ phần hoá. Tỷ lệ doanh nghiệp Nhà nước cổ phần
hoá với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá rất thấp, tốc độ cổ phần hoá diễn ra rất chậm
chạp. Và nói chung vấn đề cổ phần hoá đang là con đường nhiều trở ngại ở nước ta
nhằm tăng thêm tốc độ chu chuyển đồng vốn trong sản xuất kinh doanh, Nhà nước quy
định những chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp như sau:
Mệnh giá cổ phiếu và đối tượng mua cổ phiếu: Mệnh giá cổ phiếu được đem bán sẽ quyết định khả năng thu hồi phần vốn Nhà
nước. Việc quyết định mệnh giá và số lượng cổ phiếu đem bán có quan hệ mật thiết
với giá trị doanh nghiệp, đến các yếu tố lợi thế và tình thế liên quan đến tương lai của
doanh nghiệp được cổ phần hoá.
Mệnh giá (giá trị cổ phiếu) được tính theo công thức:
Mệnh giá cổ phiếu = Số cổ phiếu phát hành
Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định số lượng cổ phiếu phát hành khó hơn là
xác định giá trị cổ phiếu, do đó người ta tính đảo ngược.
Số cổ phiếu phát hành = Error!
Mức ưu đãi đối với người lao động trong doanh nghiệp trong việc mua cổ phiếu
theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP như sau: mỗi năm làm việc cho Nhà nước được mua
10 cổ phiếu (mỗi cổ phần giá 100.000đ).
Về việc bán cổ phần hoá cho nhà đầu tư nước ngoài.
Ngày 28/6/1999 Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 145/1999/QĐ-TTg về
quy chế ban hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Các DNNN đã thực hiện cổ
phần hoá, các công ty cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác đã có quyết định
phát hành cổ phiếu của cấp có thẩm quyền thì được bán cổ phần cho nhà đầu tư nước
ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ thì tổ chức bán đấu giá.
Phát triển hệ thống NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, đưa nhanh thị
trường chứng khoán vào hoạt động là những công cụ đắc lực giúp đẩy nhanh tiến độ

hưu trí, các công ty đầu tư, Hệ thống này phải là những nhân tố tích cực kích thích
tiết kiệm và huy động tối đa nguồn vốn trong nước. Muốn vậy cần khẩn trương mở
rộng hoạt động của các tổ chức nói trên, đa dạng hoá việc huy động vốn thông qua mở
rộng và phát triển nhiều hình thức khác nhau nữa. Cải thiện hoạt động của các tổ chức
trung gian tài chính bằng cách đa dạng hoá, hiện đại hoá các công cụ thanh toán đảm
bảo tính tiện lợi nhanh chóng, bí mật an toàn cho người có vốn, thực hiện chế độ bảo
toàn các loại tiền gửi. Trước hết là tiền gửi có kỳ hạn của nhân dân tại NHTM.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn qua ngân sách, đổi mới các sắc thuế, tổng kết thí
điểm và triển khai rộng rãi việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nếu xét thấy không cần phải giữa lại 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước. Đổi mới cơ chế quản lý
ngân sách và các hoạt động chi tiêu.
+ Thu hút vốn nước ngoài:
Để phát triển nhanh nền kinh tế phải có “cú huých” từ bên ngoài tác động tới nền
kinh tế. Muốn vậy phải hoàn thiện môi trường đầu tư nước ta. Cần phải chủ động lập
các dự án để giới thiệu và gọi vốn đầu tư nước ngoài, các dự án phải có tính khả thi
cao, mở rộng các hình thức đầu tư trong cả nước.
Bên cạnh đó, tìm nguồn vốn từ việc vay các tổ chức tài chính, ngân hàng thế
giới, nguồn viện trợ nước ngoài để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
b. Quản lý và việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trong mối quan hệ nhân quả của nó, để huy động mạnh mẽ các nguồn vốn, đòi
hỏi phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được.
+ Lựa chọn hướng đầu tư: để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giải pháp quan
trọng trước tiên là lựa chọn đúng hướng đầu tư việc lựa chọn này theo kinh nghiệm
các nước, không thể thoát ly chiến lược công nghiệp hoá trong từng thời kỳ và không
thể xa rời yêu cầu sử dụng và có hiệu quả trong khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của
đất nước.
Trong những năm gần đây, nhiều nước còn sử dụng phương pháp lượng hoá

việc “khởi nguồn” cho các thành phần kinh tế có điều kiện để phát triển.
Một trong những thành phần đó là kinh tế HTX, chúng ta phải khôi phục thành
phần kinh tế này, phải có chính sách khuyến khích như ưu tiên về thuế cho sản phẩm
của HTX, phải đổi mới phương pháp quản lý trong HTX - nâng cao hiệu quả làm việc,
tuyển dụng lao động tay nghề - có tinh thần trách nhiệm cao.
Nước ta đang còn nghèo - ở một số địa phương ngành thủ công mỹ nghệ khá phát
triển, để tăng sản lượng kinh tế, thu hút việc làm. Nhà nước phải giúp các đơn vị tìm
đơn đặt hàng, hỗ trợ thêm nguồn vốn cho họ có vốn để nhập nguyên nhiên liệu - trả
lương cho lao động, đặc biệt là hỗ trợ để các đơn vị kinh tế này bồi dưỡng nâng cao
tay nghề cho đội ngũ lao động của họ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu chất lượng
mẫu mã ngày càng đẹp hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status