1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined.
MỤC LỤC BIỂU BẢNG Error! Bookmark not defined.
LỜI MỞ ĐẦU 3 U
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CPH DNNN 6
1.1 Một số vấn đề về DNNN 6
1.1.1 Khái niệm DNNN 6
1.1.2 Tình hình hoạt động của các DNNN. 6
1.2 Khái niệm và đặc điểm công ty cổ phần 10
1.2.1 Khái niệm công ty cổ phần 10
1.2.2 Đặc điểm công ty cổ phần 10
1.3 Cơ sở lý luận về CPH DNNN 11
1.3.1 Khái niệm CPH DNNN 11
1.3.2 CPH DNNN là một xu thế tất yếu 12
1.3.4 Mục tiêu CPH DNNN 14
1.4 Kinh nghiệm thực tiễn CPH ở một số quốc gia trên thế giới. 16
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN CPH
TẠI TP CẦN THƠ 21
2.1 Thực trạng tình hình CPH DNNN ở Việt Nam 21
2.1.1 Những kết quả đạt được của tiến trình CPH DNNN 23
2.1.2 Những tồn tại yếu kém của tiến trình CPH DNNN Việt Nam 24
2.2 Khái quát về tình hình KT-XH Thành phố Cần Thơ 26
2.3 Thực trạng CPH ở TP. Cần Thơ 30
2.3.1 Theo số liệu thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Cần Thơ 30
2.3.2 Theo số liệu điều tra năm 2004 31
2.3.2.1 Cơ cấu ngành nghề và qui mô của các DNNN đã được CPH 32
2.3.2.2 Tiến trình CPH 33
3.2.6 Quan tâm hơn nữa tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần 53
KẾT LUẬN 55
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
3
LỜI MỞ ĐẦU
DNNN được xem là xương sống của nền kinh tế Việt Nam. Nhìn chung,
DNNN đang chiếm tới 70% tài sản quốc gia, 50% vốn đầu tư toàn xã hội. Chính vì
vậy, DNNN hiện nay đang giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và có nhiều
đóng góp rất lớn vào các nguồn thu của NSNN. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích
cực thì khu vực kinh tế này vẫn bộc lộ rất nhiều mặt yếu kém. Trong nền kinh tế ở
nước ta, có nhiều khu vực hoạt động tương đối kém hiệu quả và khu vực DNNN là
một trong những khu vực điển hình. Chỉ có khoảng 77,2% số DNNN hiện hoạt
động có lãi, số còn lại bị lỗ hoặc hoà vốn.
Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ
trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của
DNNN. Đây được xem như là một việc làm mang tính tất yếu khách quan. Để đổi
mới cách quản lý, huy động vốn đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, nâng
cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, giữ vững vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân thì việc thực hiện CPH các DNNN là con đường
đúng đắn và phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay.
CPH DNNN là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động
thêm nguồn vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ
và cơ chế quản lý năng động để sử dụng có hiệu quả vốn và tài sản của Nhà nước
cũng như của toàn xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp trong quá
tích và đánh giá tác động của CPH đến hiệu quả hoạt động của các DNNN trước và
sau khi tiến hành CPH diễn ra trên địa bàn Thành phố Cần Thơ. Trên cơ sở đó, tác
giả đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện thành công và có hiệu quả công
cuộc CPH DNNN ở TP. Cần Thơ.
Với phạm vi nêu trên, đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ đề tài cấp Bộ của thạc
sỹ Trương Đông Lộc về CPH ở Việt Nam, Niên giám thống kê, Ban đổi mới doanh
nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Cần Thơ, internet, sách báo, tạp chí và các Nghị
định, các văn bản có liên quan của Chính phủ về CPH DNNN. Để làm nổi bật các
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
5
mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng
dựa trên các biểu bảng thống kê.
Nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương chính. Sau lời mở đầu,
chương 1 trình bày một số cơ sở lý luận và thực tiễn CPH các DNNN. Chương 2
phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNNN CPH tại TP. Cần thơ. Trước
khi kết luận, chương 3 đề ra một số giải pháp thích hợp cho tiến trình CPH ở TP.
Cần Thơ.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CPH
DNNN
1.1 Một số vấn đề về DNNN.
1.1.1 Khái niệm DNNN
Về hiệu quả hoạt động kinh doanh: Năm 2003, tổng số vốn nhà nước tại
doanh nghiệp quốc doanh là 189.293 tỷ đồng. Trong số 4.800 DNNN có 77,2%
doanh nghiệp kinh doanh có lãi, trong đó khoảng 40% doanh nghiệp có lãi cao hơn
lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tổng lợi nhuận trước thuế là
20.428 tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sau thuế đạt 7,34%.
Về công nghiệp: DNNN đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và
sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, nhất là trong các ngành như công nghiệp, vận
tải, bưu chính viễn thông Năm 2003, DNNN đóng góp 38,7% giá trị sản xuất
công nghiệp.
Về xuất nhập khẩu: Tỷ trọng DNNN chiếm khá cao. Bình quân tốc độ tăng
kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 20%/năm, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu năm 2003
đã đóng góp khoảng 40% (không kể dầu thô) và các công trình hợp tác đầu tư với
nước ngoài. Với tỷ trọng chiếm trên 98% tổng dự án liên doanh với nước ngoài,
DNNN cũng đã tạo ra nguồn thu tương đối lớn.
Về thu ngân sách: DNNN phát triển tương đối ổn định có vai trò vị trí vô
cùng quan trọng trong việc đóng góp làm tăng nguồn thu cho NSNN. Tỷ lệ nộp
ngân sách trên vốn nhà nước tăng tương ứng từ 14,7% năm 1991 lên 27,89% năm
1997 và đến năm 2003 đóng góp trên 39% tổng thu NSNN.
Những kết quả có được bên cạnh nhờ vào đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng và Nhà nước đã đề ra mà còn dựa vào sự đóng góp đáng kể của các DNNN
như tính chủ động sáng tạo, trình độ quản lý; các đội ngũ cán bộ quản lý và đông
đảo người lao động đã có sự nỗ lực, cố gắng vượt khó trong cơ chế thị trường mới.
Bên cạnh những mặt tích cực, DNNN cũng còn tồn tại những mặt hạn
chế, yếu kém như:
Các DNNN có hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, còn trông chờ vào
nguồn ngân sách do Nhà nước cấp, khi vay vốn được hưởng chế độ lãi suất ưu đãi
nhiều hơn các doanh nghiệp khác (được vay trên 85% vốn tín dụng với lãi suất ưu
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
8
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
9
- Mở cửa nền kinh tế một mặt giúp cho việc tăng trưởng nền kinh tế, mặt khác
phải chịu ảnh hưởng của những tác động tiêu cực nên ngoài như suy thoái kinh tế,
diễn biến bất thường của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới.
- Hệ thống kế toán, kiểm toán yếu kém; hiệu lực của luật pháp thấp dẫn đến
không quản lý được một cách hữu hiệu và không đánh giá được một cách đúng đắn
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Điều này dễ dẫn đến tình trạng tham nhũng,
trốn lậu thuế, gian lận thương mại xảy ra phổ biến; không tạo ra một “luật chơi”
bình đẳng, rõ ràng cho các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh.
- Máy móc, trang thiết bị, công nghệ còn quá cũ và lạc hậu ảnh hưởng rất lớn
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các DNNN hiện nay đang thiếu vốn rất nghiêm
trọng nên buộc họ phải vay ngắn hạn để kinh doanh. Với tình trạng như thế này,
càng vay vốn khả năng trả nợ lại gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến mất khả
năng thanh toán ở nhiều doanh nghiệp.
- Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa
phù hợp với kinh tế thị trường, đặc biệt là cơ chế tài chính mặc dù có tiến bộ nhưng
chưa tạo động lực mạnh mẽ cho các DNNN phát triển, chưa thúc đẩy cán bộ và
người lao động trong doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả
kinh doanh. Các DNNN công ích có quá nhiều chính sách ưu đãi.
- Cơ chế theo dõi, tuyển chọn và đào tạo đội ngũ Ban giám đốc chưa được đổi
mới một cách nhanh chóng, chẳng hạn như trường hợp nếu giám đốc không vi
phạm kỷ luật gì thì dù cho doanh nghiệp có hoạt động kém hiệu quả đi chăng nữa
họ vẫn vó thể làm giám đốc cho đến khi nghỉ hưu. Thực tế một số giám đốc ở các
DNNN còn thiếu năng lực và trình độ quản lý.
- Quản lý nhà nước đối với DNNN còn nhiều yếu kém, vướng mắc, cải cách
hành chính còn chậm; đầu tư mới còn tràn lan kém hiệu quả, chưa gắn trách nhiệm
của chủ đầu tư với hiệu quả sản xuất kinh doanh.
nợ khác.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
11
Như vậy, vốn cổ phần là do các cổ đông đóng góp bất cứ ai kể cả tư nhân,
tập thể, Nhà nước và cá nhân. Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có nhiều
chủ đồng sở hữu. Quyền trách nhiệm và lợi ích của mỗi người chủ sở hữu phụ thuộc
vào số lượng cổ phiếu của họ trong công ty. Cổ đông nắm được số lượng cổ phiếu
khống chế thì có thể nắm được quyền chi phối hoạt động của công ty. Khi muốn thu
hồi vốn nhanh, các cổ đông chỉ có cách là bán các cổ phiếu của mình trên thị trường
chứng khoán.
1.3 Cơ sở lý luận về CPH DNNN
1.3.1 Khái niệm CPH DNNN
Xét về mặt thực chất, CPH chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở
hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp
thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp
phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện
đại.
CPH DNNN là quá trình chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần. Hay
nói cách khác, CPH là quá trình đa dạng hóa chủ sở hữu đối với đối với DNNN
nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất từ các nhà đầu tư và
người lao động. Đồng thời, nó tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ quản lý và
phân phối sản phẩm.
CPH DNNN tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh
nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp, khai
thác mọi tiềm năng trong các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển sản xuất - kinh
doanh. CPH góp phần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hóa nền kinh tế, hình thành loại
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu gồm Nhà nước và đông đảo người lao động.
kinh tế. Tuy nhiên, nếu vượt khỏi chức năng vĩ mô trong việc điều tiết nền kinh tế
để tham gia và mở rộng phạm vi kinh doanh, vượt quá yêu cầu của nền kinh tế, Nhà
nước sẽ tự mình lâm vào tình trạng hoạt động không hiệu quả. Chính vì vậy, Nhà
nước nên cần tậρ trung vào một số ngành kinh tế trọng điểm.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
13
Chỉ có khoảng 77,2% DNNN là làm ăn có hiệu quả. Hiệu quả sử dụng vốn
của các DNNN rất thấp. Mỗi đồng vốn chỉ tạo được 2,3 đồng doanh thu và 0,1 đồng
lợi nhuận. Tài sản cố định trong các DNNN chiếm từ 70% - 80% nhưng chỉ cung
cấp được 44% tổng sản phẩm xã hội. Nguyên nhân do cơ cấu kinh tế chưa phù hợp,
chủ yếu là ngành nông nghiệp chiếm 27%, thương mại 43%, công nghiệp và xây
dựng 30% (trong khi các nước phát triển là 70% - 80%); cơ cấu vốn chưa hợp lý
(81% cố định và 19% lưu động). Quy mô DNNN nhỏ dưới 1 tỷ đồng chiếm 68%.
Mặt khác, các trang thiết bị quá lạc hậu từ 3 đến 5 thế hệ (Theo báo cáo của Bộ Tài
Chính).
Các DNNN Việt Nam không đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập các tổ
chức thương mại khu vực và thế giới. Vì vậy, để tạo được chỗ đứng trên thương
trường, Việt nam cần phải cải cách DNNN để tìm ra con đường mới cho sự phát
triển. Nhiều giải pháp được đưa ra: cơ cấu lại vốn và lĩnh vực hoạt động của các
doanh nghiệp; sáp nhập các doanh nghiệp có vốn nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực
tương đối giống nhau; liên doanh, liên kết với nước ngoài để tận dụng nguồn nước
ngoài nâng cấp các trang thiết bị lạc hậu, tiếp cận phương thức quản lý tiên tiến.
Song những giải pháp này vẫn chưa tạo được sự thay đổi về chất, hiệu quả sản xuất,
kinh doanh của đa số các doanh nghiệp vẫn thấp, sức cạnh tranh còn yếu, chưa có
sự thay đổi mang tính bước ngoặt.
Trước thực trạng này, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII đã đưa ra một giải
pháp quan trọng để cải cách DNNN. Theo đó, “Chuyển một số doanh nghiệp quốc
doanh có điều kiện thành công ty cổ phần, phải chỉ đạo chặt chẽ quy mô, hình thức
năng cạnh tranh, mở rộng sản xuất kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Thứ hai, huy động và tăng thêm nguồn vốn. Các doanh nghiệp có thể huy
động vốn bằng cách phát hành các cổ phiếu ra ngoài. Tuy nhiên, việc huy động vốn
chỉ là một phương tiện thiết yếu để đạt tới mục tiêu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế, nhưng nếu số vốn huy động được mà không được quản lý và sử dụng tốt thì sẽ
không mang lại hiệu quả như mong muốn. Thêm vào đó, mặc dù doanh nghiệp bán
một phần tài sản của mình bằng hình thức bán cổ phần hoặc gọi thêm vốn bằng hình
thức mua cổ phần thì vốn tiền của doanh nghiệp đều tăng lên trong khi vốn hữu
hình của doanh nghiệp vẫn còn nguyên đó. Điều này giúp cho việc phát triển tài sản
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
15
cố định và giúp phát triển cả vốn lưu động và càng cần thiết hơn đối với những
doanh nghiệp đang làm ăn có hiệu quả. Trong thực tiễn CPH, vốn nhà nước vẫn có
thể tăng lên do định giá lại tài sản doanh nghiệp theo giá trị thị trường và cả giá cả
của những thương hiệu nổi tiếng.
Thứ ba, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN. Lợi tức cổ phần là động cơ trực tiếp
thôi thúc các cổ đông mà tiêu biểu là Hội đồng quản trị quan tâm quản lý sản xuất
kinh doanh có hiệu quả ngày càng cao. Lợi tức cổ phần hiện nay thường đạt 12%
đến 15% cao hơn mức lãi suất ngân hàng.
Thứ tư, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề KT-XH khác như bảo đảm và có
thể mở rộng việc làm, tăng thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp. Nếu
CPH chỉ nhằm mục đích là tăng lợi tức cổ phần, làm giảm việc làm hoặc giảm thu
nhập của người lao động, thì điều này phản ảnh một bước tụt lùi của doanh nghiệp,
không đúng với chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Thứ năm, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông
và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích
nơi có một nền kinh tế thị trường hỗn hợp đang vận động và quá trình CPH ở đó
hướng vào việc thúc đẩy các hoạt động thị trường sẵn có thì đối với các nước
XHCN cũ ở Đông Âu, quá trình CPH đã trở thành cuộc thử nghiệm quan trọng đối
với các Chính phủ mới thành lập trong việc cam kết thực hiện chuyển sang nền kinh
tế thị trường và sang một hệ thống chính trị dựa trên quyền sở hữu tư nhân và quyền
tự do cá nhân.
Ở Đông Âu, với chủ trương chuyển nhanh sang nền kinh tế thị trường từ một
nền kinh tế kế hoạch mà DNNN chiếm vị trí độc tôn (100%). Chính phủ Nga lựa
chọn tư nhân hóa nhanh trong thời gian từ 3- 4 năm. Với chỉ tiêu năm 1993 tư nhân
hóa 30% tổng giá trị tài sản thuộc sở hữu Nhà nước; năm 1994 là 60%. Trong giai
đoạn đầu, song song với việc chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần, chính phủ
Nga đã cho phát hành phiếu tư nhân hóa, đây là biện pháp nhằm thực hiện nhanh
quá trình tư nhân hóa. Tính đến tháng 7/1994 đã có hơn 45,3 triệu phiếu tư nhân
hóa (chiếm 31,4% tổng số phiếu) được 660 quỹ đầu tư mua lại và đầu tư vào các xí
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
17
nghiệp, công ty; trong đó gần 75,2% số phiếu tư nhân hóa đã biến thành cổ phiếu
của 22,8 triệu công dân Nga. Mặc dù chính phủ Nga đã đưa ra nhiều chính sách ưu
đãi cho người lao động, nhưng những ưu đãi có thực sự mang tính tích cực không
lại phụ thuộc nhiều vào quá trình tổ chức thực hiện. Vì vậy, những ưu đãi trên đã
không được người lao động đón nhận một cách hào hứng và nhiệt tình. Mặt khác,
do những tệ nạn tham nhũng trong quá trình tư nhân hóa cũng góp phần cản trở
người dân tham gia đầu tư.
Kết quả từ năm 1991-1996, CHLB Nga đã chuyển đổi sở hữu được một khối
lượng lớn DNNN trong thời gian ngắn là 122.000 DNNN (chiếm 53,3% tổng số
doanh nghiệp). Trong đó, số doanh nghiệp có quy mô nhỏ là 79.090 (chiếm 64,8%),
còn lại là các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn. Các nước khác như: Bungary đã
CPH và đa dạng hóa sở hữu 20% tài sản nhà nước, Rumania là 16,5% giá trị tài sản
nhiên, để chủ trương đó được thực hiện một cách lành mạnh, tích cực thì phải có
những biện pháp khác quản lý kèm theo. Điển hình là CPH ở Nga đã vấp phải
những sai lầm lớn. Ví dụ trường hợp ở Nga có xí nghiệρ sản xuất máy bay trực
thăng chuyên cung cấp cho quốc phòng và dân dụng CHLB Nga cùng nhiều nước
khác, đã phát hành cổ phiếu nhưng cổ phiếu này không ghi tên. Điều này có nghĩa
là loại cổ phiếu này có thể mua bán trên thị trường chứng khoán, Nhà nước lại
không giữ tỷ lệ cổ phần khống chế. Chính vì vậy, một nhà tư bản Mỹ đã mua được
60% số cổ phiếu và đã trở nên người chủ sở hữu nhà máy này. Một ví dụ khác cũng
ở Nga cho thấy mặt trái của việc cổ phần cũng là con dao hai lưỡi dẫn đến nguy cơ
mất độc lập tự chủ và dẫn đến bị lệ thuộc. Một nhà máy chế tạo than chì (grafit)
chuyên cung cấp cho công nghiệp quốc phòng và nhiều công nghiệp khác được bán
cho tư nhân. Một nhà tư bản Mỹ đã mua nhà máy đó rồi tuyên bố đóng cửa nhà
máy. Như vậy, toàn bộ số than chì cần thiết của CHLB Nga đều phải nhập từ Mỹ.
Một số kinh nghiệm rút ra từ các nước này:
Ở các nước Đông Âu khi quan hệ sản xuất XHCN bị phá vỡ, CPH và tư nhân
hoá DNNN được đẩy mạnh và ngày càng sôi động, đặc biệt là các nước Liên Xô,
Tiệp Khắc, Hungari, Đức, Ba Lan… Do quy mô và phạm vi tiến hành quá lớn trong
khi thời gian thực hiện đòi hỏi ngắn hơn nhiều so với các nước khác. Điều này dẫn
đến tiến trình tư nhân hóa và CPH ở các nước Đông Âu gặp không ít khó khăn và
phức tạp và đây được xem là công việc thực hiện “liệu pháp sốc” trong cải cách
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
19
kinh tế từ nền kinh tế chỉ huy sang cơ chế thị trường của các nước này. Ví dụ, nước
CHLB Nga dự kiến bán hơn 100.000 xí nghiệp thuộc các ngành thương nghiệp và
công nghiệp nhẹ đến hết năm 1992 và hơn 850 rúp giá trị tài sản của các xí nghiệp
công nghiệp sẽ được đem bán trong 2 năm 1993 – 1994. Trong khi đó, Tiệp Khắc,
Hungari và Balan đều muốn bán tới 60% giá trị cổ phần của Nhà nước, dự định
CPH trong thời gian 1991-1994. Tuy nhiên, với tính phổ biến của quá trình CPH, tư
biệt người trong nước và người nước ngoài hoặc chuyển DNNN thành công ty trách
nhiệm hữu hạn.
Khu vực kinh tế Nhà nước mà chủ yếu là các DNNN phải có những vị trí
then chốt và chỉ khi chiếm lĩnh được những vị trí then chốt ấy thì việc đẩy nhanh,
đẩy mạnh CPH, mở rộng diện CPH các DNNN, không khép kín CPH trong nội bộ
doanh nghiệρ, gắn CPH với thị trường chứng khoán … mới hoàn toàn có ý nghĩa,
càng cần xúc tiến. Bởi vì, nó không làm thay đổi bản chất nền kinh tế quốc dân
đang vận hành lên chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, việc nghiên cứu và ứng dụng một cách hợp lý các kinh nghiệm trên
thế giới phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh KT-XH ở Việt Nam là điều hết sức cần
thiết. CPH DNNN là một công việc có tính chiến lược nhưng rất mới mẻ, phức tạp
và tính nhạy cảm. Bản chất của CPH không chỉ thể hiện ở mục đích mà còn thể hiện
ở cả phương pháp, bước đi và cách làm. Vì vậy, để đẩy nhanh tiến độ CPH thì nó
đòi hỏi các nhà doanh nghiệp Việt Nam cần có những bước đi đúng đắn, luôn sáng
suốt, tỉnh táo trong chỉ đạo, điều hành, vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm trong
quá trình thực hiện CPH.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
21
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN
CPH TẠI TP CẦN THƠ
quả mang lại trung bình một tháng CPH đã có 24,3 DNNN đã CPH. Số DNNN và
bộ phận DNNN đã CPH năm 2002 là 164 doanh nghiệp, nhưng đến năm 2003 đạt
tới 611 doanh nghiệp. Như vậy, số DNNN và bộ phận DNNN đã được CPH giai
đoạn 2002-2003 tương đương với giai đoạn từ năm 2001 trở về trước.
Đến năm 2004, tốc độ CPH vẫn tiếp tục chậm. Mục tiêu của Chính phủ đặt
ra ở 6 tháng đầu năm 2004 là CPH 1.000 doanh nghiệp, nhưng mới thực hiện được
256 doanh nghiệp. Số cổ phiếu bán ra bên ngoài chỉ có 8%, Nhà nước nắm giữ 38%
và số còn lại 54% thuộc về cán bộ, công nhân viên nắm giữ
. CPH DNNN đang bị
khép kín trong nội bộ khu vực kinh tế nhà nước và nội bộ DNNN mà chưa thu hút
được các nhà đầu tư trong và ngoài nước có tiềm năng. Như vậy, khó có thể thay
đổi được phương thức kinh doanh.
Bảng 01: Số DNNN được CPH theo thời gian
Năm Số công ty được CPH Số công ty được CPH tích luỹ
1993 2 2
1994 1 3
1995 2 5
1996 6 11
1997 4 15
1998 101 116
1999 254 370
2000 208 578
2001 204 782
2002 164 946
2003 611 1.557
2004
(6 tháng đầu năm)
256
nhập của người lao động làm việc tại các công ty cổ phần tăng bình quân 20%
(chưa kể thu nhập từ cổ tức). Ví dụ như Công ty Cổ phần Đại lý liên hiệp vận
chuyển trước khi CPH đạt 1.400.000 đồng/người/tháng, hiện nay đạt 4.000.000
đồng/người/tháng; Công ty cổ phần Ong mật TP. HCM từ 500.000 đồng lên đến
1.300.000 đồng. Mặt khác, Người lao động trong các công ty CPH đã nâng cao tín
chủ động, ý thức kỷ luật, tin tưởng vào đường lối chủ trương lãnh đạo của Đảng về
công tác CPH, tiết kiệm trong lao động sản xuất, góp phần làm tăng hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, đem lại lợi ích thiết thực cho bản thân mình, công ty, Nhà
nước và xã hội.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5
24
Về huy động vốn: Thu hút ngày càng nhiều vốn trong dân cư và xã hội.
Trong 370 DNNN đã CPH có số vốn nhà nước 854 tỷ, đã thu hút gần 953 tỷ đồng
ngoài xã hội để phát triển sản xuất và giải quyết các chính sách xã hội cho người lao
động. Nhà nước cũng đã rút bớt phần vốn 441 tỷ đồng ở các doanh nghiệp này để
đầu tư phát triển DNNN.
Về đánh giá vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp: Đánh giá đúng vốn và
tài sản nhà nước tại doanh nghiệp vào phát triển sản xuất kinh doanh. Cụ thể, tổng
số vốn nhà nước được đánh giá lại khi CPH các DNNN lên tới 3.000 tỷ đồng, tăng
được khoảng 14% so với trước khi CPH , bằng hơn 2% tổng số vốn nhà nước trong
các DNNN.
2.1.2 Những tồn tại yếu kém của tiến trình CPH DNNN Việt Nam
Bên cạnh những thành quả đạt được, quá trình thực hiện CPH nói chung vẫn
còn một số tồn tại cần được khắc phục như sau:
Tốc độ CPH chậm: Chưa năm nào kế hoạch CPH của nước ta đạt được yêu
cầu đã đề ra, cụ thể năm 1998 đạt 55% kế hoạch, năm 1999 đạt 63% kế hoạch, năm
2000 đạt 36% kế hoạch và giai đoạn 2002 – 2003 đạt 63% kế hoạch, riêng 6 tháng
đầu năm 2004 chỉ đạt 25,6% kế hoạch. Thực tế này có nhiều nguyên nhân, trong đó
chịu việc thanh toán trả nợ và đòi nợ. Các ngân hàng có sự phân biệt đối xử đối với
những công ty cổ phần có cổ phần nhà nước chi phối được vay vốn bằng tín chấp,
trong khi những công ty cổ phần khác (cũng được chuyển đổi từ DNNN) khi vay
vốn phải thế chấp và gặp những thủ tục phức tạp hơn rất nhiều. Điều này đã gây khó
khăn cho các công ty cổ phần về phương diện vốn trong việc muốn mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh. Mặt khác, việc xác định giá trị doanh nghiệp còn mang tính
chủ quan, không theo giá thị trường sẽ dễ dẫn đến trường hợp gây thất thoát tài sản
lớn. Ví dụ điển hình là định giá công ty cổ phần Tràng Tiền, Khách sạn Phú Gia.
Theo quy định hiện nay, cổ phần chủ yếu ưu tiên bán cho những người làm việc
trong doanh nghiệp, do đó dẫn đến tình trạng người định giá doanh nghiệp vừa là
người bán, đồng thời cũng vừa là người mua cổ phần. Chính điều này sẽ dẫn đến
việc định giá doanh nghiệp mang tính chủ quan.
Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5