giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án tại công ty xây dựng công trình giao thông 874 - Pdf 10

Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
Lời mở đầu
Trước xu thế mở cửa nền kinh tế đón nhận những văn minh văn hoá,
khoa học kỹ thuật từ bên ngoài, trước xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế,
nhu cầu phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam ngày càng lớn. Nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao hoạt
động đầu tư ngày càng nhiều trong đó chủ yếu là đầu tư theo dự án. Cụ thể,
hầu hết các dự án đầu tư lớn nhỏ tại Việt Nam trong những năm gần đây
đều đầu tư theo dự án. Tuy nhiên thực trạng hoạt đông đầu tư theo dự án
vẫn còn tràn lan, dàn trải, chưa hiệu quả gây lãng phí nguồn tài chính quốc
gia.
Nhận thức được tầm quan trọng của các dự án trong sự phát triển kinh
tế của quốc gia nói chung và lợi ích của doanh nghiệp nói riêng cụ thể tại
đơn vị tôi thực tập là công ty công trình giao thông 874 (thuộc tổng 8- bộ
giao thông vận tải) tôi đã lựa chọn đề tài “ nâng cao chất lượng thẩm định
tài chính dự án tại công ty công trình giao thông 874” làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình. Tại công ty xây dựng công trình giao thông 874 các
hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản hầu hết đầu tư theo các dự án.Việc đầu
tư theo dự án có hiệu quả quyết định phần lớn sự thành bại của công ty. Do
đó mà thẩm định tài chính dự án là công việc hết sức quan trọng đối với
công ty. Tuy đã được chú trọng song do tính phức tạp riêng có mà công tác
thẩm định tài chính dự án tại công ty còn gặp nhiều bất cập. Sau thời gian
thực tập tốt nghiệp tại công ty tôi đã nhận thấy được tầm quan trọng của
công việc thẩm định tài chính dự án do đó tôi đã chọn đề tài “nâng cao
chất lượng thẩm định tài chính dự án tại công ty” với mong muốn đóng góp
một phần công sức của mình vào sự thành công của công ty. Thông qua đề
tài này tôi cũng muốn áp dụng những kiến thức đã được học trên giảng
đường đại học vào thực tế để nâng cao kỹ năng của mình.
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
1
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài

nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Như vậy, doanh nghiệp có thể
thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường. Mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu.
Để thực hiện được mục tiêu đó doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt
động. Những hoạt động đó có thể là hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động cung ứng các dịch vụ và hoạt động đầu tư. Trong đó đầu tư là một
hoạt động vô cùng quan trọng của bất kỳ tổ chức nào trong nền kinh tế. Có
thể hiểu một cách đơn giản đầu tư là hoạt động bỏ vốn với hy vọng đạt
được lợi ích tài chính, kinh tế xã hội trong tương lai. Muốn đạt được mục
tiêu là tối đa hóa giá trị của mình, doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động
đầu tư. Lấy ví dụ về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp: doanh nghiệp mới
thành lập thường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mua trang thiết bị, nguyên nhiên
vật liệu để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Đối với những doanh
nghiệp đã thành lập, có thể bỏ vốn xây dựng mới cơ sở hạ tầng, đổi mới
dây truyền công nghệ, phát triển sản phẩm mới.
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
3
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhằm tối đa hóa hiệu
quả đầu tư, các hoạt động đầu tư đều được thực hiện theo dự án. Vậy dự án
là gì? Theo WORLD BANK (ngân hàng thế giới) dự án là tổng thể các
chính sách, hoạt động và chi phí có liên quan với nhau được hoạch định
nhằm đạt được những mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định. Theo từ
điển về quản lý dự án AFNOR, dự án là hoạt động đặc thù tạo nên một thực
thể mới một cách có phương pháp với các nguồn lực đã định. Theo nghị
định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ về đầu
tư và xây dựng, dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc

Nếu không có dự án, nền kinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển. Dự
án giúp gia tăng tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm cho người
lao động, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.
Dự án còn là căn cứ để các tổ chức tài chính đưa ra quyết định tài trợ,
các cơ quan chức năng của Nhà nước phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư.
1.1.3 Phân loại dự án
Dự án và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đầu tư là nguồn
gốc ra đời của dự án, việc xây dựng và thực hiện dự án sẽ kiểm nghiệm
tính đúng đắn của quyết định đầu tư. Trong nền kinh tế có rất nhiều loại
hình doanh nghiệp hoạt động trong rất nhiều các lĩnh vực khác nhau. Mỗi
doanh nghiệp lại có những quyết định đầu tư riêng của mình. Do vậy có thể
thấy trong nền kinh tế có rất nhiều loại dự án khác nhau. Các dự án rất đa
dạng về lĩnh vực, loại hình,cấp độ,quy mô, thời hạn…. Do đó để đưa ra
được cách phân loại dự án một cách hiệu quả để thấy hết được sự khác
nhau giữa các dự án là vô cùng khó khăn. Tuy nhiên người ta có thể phân
loại dự án theo các tiêu thức sau:
- Theo lĩnh vực dự án: Dự án được phân loại thành dự án xã hội, dự án
kinh tế, dự án quốc gia, dự án quốc tế.
- Theo loại hình dự án: Dự án được phân loại thành dự án Nghiên cứu
và phát triển, dự án Giáo dục đào tạo, dự án đổi mới.
- Theo thời hạn: Dự án ngắn hạn, dự án trung hạn, dự án dài hạn.
- Theo cấp độ: Dự án được phân loại thành dự án lớn, dự án nhỏ.
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
5
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
Ngoài ra người ta còn có rất nhiều cách khác để phân loại dự án. Đây là
cách phân loại tổng hợp nhất đối với các dự án. Ở Việt Nam, theo “Quy
chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo Nghị định số
12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 dự án được phân loại cụ thể thành các dự
án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C.

cạnh đó doanh nghiệp dự kiến quy mô đầu tư( tổng mức vốn đầu tư),
hình thức đầu tư, khả năng tự tài trợ, các phương án huy động vốn và
phương án trả nợ của doanh nghiệp. Phân tích lựa chọn sơ bộ công
nghệ, kỹ thuật, nguồn cung nguyên vật liệu, năng lượng cần thiết cho
dự án cũng được tiến hành trong giai đoạn này.
- Nghiên cứu khả thi: đây là giai đoạn nghiên cứu một cách cụ thể
những gì đã được nghiên cứu trong giai đoạn tiền khả thi. Giai đoạn
này doanh nghiệp xác định phương án được lựa chọn như phương án
kỹ thuật, công nghệ, phương án thiết kế thi công, phương án tài trợ
cho dự án, các mốc thời gian thực hiện đầu tư và các hình thức quản
lý dự án.
Sau khi phân tích và lập dự án, khâu quan trọng tiếp theo là thẩm định dự
án. Việc phân tích và lập dự án càng được thực hiện một cách chi tiết và
chính xác thì việc thẩm định càng có hiệu quả. Vấn đề về thẩm định dự án
sẽ được đề cập riêng ỏ mục sau.
1.1.4.3 Duyệt dự án
Đây là giai đoạn doanh nghiệp đưa ra quyết định có đầu tư vào dự án
hay không. Việc đưa ra quyết định này chủ yếu dựa vào những kết luận đã
được tổng hợp từ các giai đoạn trước đặc biệt là giai đoạn thẩm định dự án.
Nếu dự án được khẳng định là có hiệu quả và khả thi thì doanh nghiệp sẽ
quyết định đầu tư và ngược lại nếu dự án không có hiệu quả hoặc không
khả thi thì không có lý do gì doanh nghiệp lại đầu tư. Đối với những dự án
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
7
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
mang tính cộng đồng, có thể dự án không có tính khả thi nhưng nó mang
lại lợi ích xã hội lớn có thể vẫn được đầu tư. Chủ đầu tư vào những dự án
này thường là Nhà nước.
1.1.4.4 Thực hiện dự án
Giai đoạn này bao gồm một số công đoạn: thi công xây dựng dự án,

Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
1.2.2 Nội dung thẩm định dự án
Nội dung của thẩm định dự án là những công việc chính mà người
thẩm định phải làm khi tiến hành thẩm định dự án. Thẩm định dự án được
tiến hành chủ yếu đối với các giai đoạn xác định dự án, phân tích dự án và
lập dự án, duyệt dự án. Nội dung thẩm định dự án thường bao gồm: thẩm
định kỹ thuật, thẩm định kinh tế xã hội và thẩm định tài chính, thẩm định
thị trường.
1.2.2.1 Thẩm định kỹ thuật
Thẩm định kỹ thuật là việc thẩm định những yếu tố thuộc về mặt kỹ
thuật của dự án như quy mô dự án, công nghệ và trang thiết bị của dự án,
phương án thi công, địa điểm xây dựng dự án, phương án kiến trúc, nguồn
nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác của dự án. Trong đó người thẩm
định phải xác định được mức độ phù hợp của các yếu tố trên với thực tế
yêu cầu đặt ra. Ví dụ như quy mô của dự án phải phù hợp với công suất sử
dụng, khả năng đáp ứng vốn, khả năng cung ứng nguyên vật liệu cũng như
khả năng quản lý dự án của các nhà quản lý. Nguồn nguyên liệu và các yếu
tố đầu vào phải phù hợp với dây truyền công nghệ máy móc thiết bị được
sử dụng trong dự án. Việc chọn địa điểm xây dựng có thuận tiện về nguồn
nguyên liệu, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, mức độ đền bù giải phóng
mặt bằng? Ngoài những nội dung trên người thẩm định còn phải xem xét
nhiều yếu tố khác như quản lý dự án…
1.2.2.2 Thẩm định kinh tế xã hội
Đây là việc đánh giá lại hiệu quả của dự án dưới giác độ toàn bộ nền
kinh tế, xem xét sự tác động của dự án tới môi trường, tới các đối tượng
khác trong xã hội. Một dự án mặc dù hiệu quả đối với doanh nghiệp song
có thể vẫn không được thực hiện do nó tác động xấu tới các đối tượng khác
trong xã hội như làm ảnh hưởng đến môi trường, gây nguy hại đến sức
khỏe của người dân nơi dự án được thực hiện. Song cũng cần phải đánh
giá những đóng góp của dự án đối với toàn bộ nền kinh tế như giải quyết

đưa ra quyết định đầu tư của mình. Thẩm định tài chính dự án là căn cứ
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
11
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư và theo
dõi quá trình thực hiện đầu tư.
Một dự án thường tồn tại trong vòng nhiều năm kể từ khi xác định dự
án, thực hiện dự án đến khi dự án sinh lời và kết thúc dự án. Nghiên cứu
vấn đề tài chính của dự án trong từng giai đoạn, thẩm định tài chính dự án
giúp nhà đầu tư nắm bắt được tình hình tài chính của dự án không chỉ trong
một kỳ sản xuất kinh doanh mà là một khoảng thời gian dài từ khi bắt đầu
đến khi kết thúc dự án.
13.2 Nội dung của thẩm định tài chính dự án
1.3.2.1 Dự toán vốn đầu tư
Trước tiên chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào là vốn đầu tư. Như đã khẳng
định ở phần trên, doanh nghiệp hình thành và hoạt động với mục tiêu là tối
đa hóa giá trị của chủ sở hữu, của doanh nghiệp.Và một trong những hoạt
động chủ yếu của doanh nghiệp đó là hoạt động đầu tư. Nếu chúng ta xem
xét giá trị của doanh nghiệp là một hàm của các quyết định đầu tư, quyết
định tài trợ và quyết định hoạt động, thì giá trị của doanh nghiệp được xác
định như sau:
V = S + B
Trong đó:
- V là giá trị doanh nghiệp
- S là giá trị vốn chủ sở hữu
- B là giá trị nợ
Để tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp(V) bước đầu tiên là phải có
được các quyết định đầu tư hiệu quả.
Muốn cho bất kỳ một hoạt động nào được thực hiện nhất là hoạt động đầu
tư đều phải cần vốn đầu tư. Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu vốn đầu tư dưới

thiết bị, chi phí bảo dưỡng… cán bộ thẩm định sẽ tính được nhu cầu vốn
thực tế của dự án và dự toán được vốn đầu tư.
- Xét các yếu tố không thuộc dự án nhưng liên quan đến dự án như
chính sách kinh tế, thị trường cạnh tranh, chính sách tài chính, công nghệ,
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
13
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
và khả năng tài chính của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố sẽ ảnh hưởng
gián tiếp đến nhu cầu vốn của dự án. Sự thay đổi trong chính sách phát
triển kinh tế của Nhà nước ảnh hưởng tới hoạt động nói chung của doanh
nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư nói riêng. Do đó mà cần phải dự
báo được những ảnh hưởng của yếu tố này đến hoạt động của doanh nghiệp
trong tương lai từ đó tiến hành lập dự toán vốn một cách có hiệu quả.
Tương tự như vậy, sự thay đổi trong chính sách tài chính của Nhà nước như
chính sách thuế, chính sách lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chi phí vốn và
cơ cấu vốn của dự án. Doanh nghiệp cần phải dự báo chính xác sự thay đổi
của các yếu tố này, thay đổi như thế nào và thay đổi bao nhiêu để có thể dự
toán vốn thẩm định cho dự án. Nghiên cứu thị trường hay các yếu tố cạnh
tranh cũng rất quan trọng trong việc dự toán vốn đầu tư. Yếu tố tiến bộ
khoa học công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn các trang thiết bị,
phương pháp khấu hao tài sản cố định, chất lượng và giá thành sản phẩm.
Nếu không xét đến yếu tố này thì sản phẩm của doanh nghiệp mặc dù chưa
ra đời song có thể không được thị trường chấp nhận do công nghệ lạc hậu.
Cuối cùng là khả năng tài chính của doanh nghiệp. Quyết định đầu tư phải
xem xét trong giới hạn về khả năng huy động vốn của doanh nghiệp và dự
báo các nhu cầu đầu tư khác của doanh nghiệp trong tương lai.
Tóm lại, dự toán vốn đầu tư là một nội dung quan trọng trong thẩm
định tài chính dự án của doanh nghiệp. Đặc điểm của các dự án là thường
yêu cầu một lượng vốn lớn và sử dụng trong thời gian dài. Sai lầm trong
việc dự toán vốn đầu tư có thể dẫn tới tình trạng lãng phí vốn lớn, gây hậu

về hiện tại là cơ sở để tính NPV(giá trị hiện tại ròng của dự án).
0
2
2
1
1
)1()1()1(
CF
k
CF
k
CF
k
CF
NPV
n
n

+
+⋅⋅⋅+
+
+
+
=
Trong đó:
-
NPV
là giá trị hiện tại ròng của dự án
-
k

khi đầu tư vào dự án) có được đưa vào trong quá trình tính dòng tiền ra của
dự án hay không? Theo quan điểm của người làm luận văn thì những chi
phí này không nên đưa vào trong quá trình tính dòng tiền ra của dự án. Lý
do của vấn đề này sẽ được giải thích rõ trong phần lãi suất chiết khấu.
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu phương pháp xác định dòng tiền của
dự án với những phương thức tài trợ khác nhau.
* Khi dự án được tài trợ hoàn toàn bằng vốn chủ sở hữu:
Theo phương pháp từ trên xuống
NCF = Lợi nhuận sau thuế + KH
NPV = ∑NCF được hiện tại hóa – VCSH(
0
t
)
* Khi dự án được tài trợ bằng nợ và VCSH
- Nếu phương thức trả nợ là trả gốc và lãi hàng năm:
NCF = Lợi nhuận sau thuế + KH - Trả vốn vay
NPV = ∑NCF được hiện tại hóa – VCSH(
o
t
)
- Nếu phương thức trả nợ là trả lãi hàng năm, trả gốc vào cuối năm
NCF = Lợi nhuận sau thuế + KH
NPV = ∑NCF được hiện tại hóa – VCSH(
o
t
)
* Khi TSCĐ của dự án được hình thành thông qua thuê
NCF = Lợi nhuận sau thuế
NPV = ∑NCF
Khi dự toán vốn đầu tư nhà thẩm định đã xác định được cơ cấu vốn tài

Về bản chất lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí vốn của
dự án đó. Với mỗi dự án có phương thức tài trợ khác nhau, chi phí vốn của
các dự án đó cũng khác nhau do đó mà lãi suất chiết khấu được sử dụng để
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
chiết khấu dòng tiền cũng khác nhau. Việc xác định chi phí vốn đã khó
khăn, việc xác định chính xác lãi suất chiết khấu cũng không dễ dàng hơn.
* Nguyên tắc dự tính lãi suất chiết khấu:
- Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng:
Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Quy tắc đó không còn xa lạ đối
với bất kỳ nhà kinh tế nào. Để thuận lợi trong việc xác định lãi suất chiết
khấu của dự án, người ta so sánh mức độ rủi ro của dự án này với các dự án
mà công ty thực hiện trước đây. Tùy vào kết quả so sánh mà sẽ lựa chọn lãi
suất chiết khấu của dự án hiện tại bằng cách giữ nguyên hay điều chỉnh lãi
suất chiết khấu của các dự án trước.
- Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn của dự án và cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
Đối với một doanh nghiệp, cơ cấu vốn khác nhau thì chi phí vốn
trung bình(WACC) khác nhau do đó lãi suất chiết khấu cũng khác nhau.
Trong quá trình thẩm định tài chính dự án người ta giả định rằng mức độ
rủi ro và cơ cấu vốn đầu tư của dự án hiện tại tương tự như đối với doanh
nghiệp. Khi đó chúng ta có thể xem WACC của doanh nghiệp là lãi suất
chiết khấu của dự án. Dự án đang xem xét phải đặt trong mối tương quan
với các TSTC và dự án khác có cùng mức độ rủi ro.
- Nguyên tắc nhất quán:
Theo nguyên tắc này dòng tiền thuộc về chủ thể nào thì việc xác định
lãi suất chiết khấu không thể biệt lập với chủ thể đó.
Qua phân tích cho thấy lãi suất chiết khấu phụ thuộc chủ yếu vào ba yếu
tố là khả năng sinh lời của dự án, mức độ rủi ro của dự án, cơ cấu vốn tài
trợ cho dự án. Khi xác định lãi suất chiết khấu cán bộ thẩm định phải phân

1
)1()1()1(
CF
k
CF
k
CF
k
CF
NPV
n
n

+
+⋅⋅⋅+
+
+
+
=
Trong đó:
-
NPV
: Giá trị hiện tại ròng của dự án.
-
k
: Lãi suất chiết khấu, giả định là không đổi trong các năm.
-
1
CF
,

bằng không. IRR phản ánh tỷ suất hoàn vốn của dự án, dựa trên giả định
các dòng tiền thu được trong các năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi
suất chiết khấu.
+ Công thức xác định:
( )
21
121
1
kIRR
NPVNPV
kkNPV
+

+=
+ Tiêu chuẩn lựa chọn dự án là IRR lớn hơn lãi suất chiết khấu.
* Chỉ số doanh lợi(PI)
Chỉ số doanh lợi( profit index) là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi
của dự án, tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai
chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu. PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ
tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập. Thu nhập này chưa tính đến chi phí vốn
đầu tư đã bỏ ra.
+ Công thức xác định:
0
1
)1(
CF
k
CF
PI
n

trong các năm thực hiện của dự án. AAP cho biết dự án tạo ra bao nhiêu lợi
nhuận bình quân trong các năm của dự án.
+ Cách xác định:
AAP =∑( Doanh thu – Chi phí - Thuế thu nhập doanh nghiệp )\n
Trong đó:
- n: số năm thực hiện dự án.
+ Tiêu chuẩn lựa chọn: AAP càng cao thì dự án càng mang lại nhiều thu
nhập.
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
21
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
Hạn chế của AAP đó là chỉ xem xét lợi nhuận thuần túy mà không tính
đến giá trị thời gian của tiền. Đây là chỉ tiêu ít khi được sử dụng và chỉ
được dùng như một chỉ tiêu bổ trợ.
* Điểm hòa vốn( BP)
Điểm hòa vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi đủ vốn
đầu tư. BP cho biết phải sản xuất và tiêu thụ bao nhiêu đơn vị sản phẩm thì
thu hồi đủ vốn.
+ Cách xác định:
AVCP
FC
Q
hv

=
Trong đó:
hv
Q
: Sản lượng hoàn vốn
FC

hệ chặt chẽ với nhau. Điều đó có thể thấy ở một dự án có mức rủi ro loại 2
cao thì chưa chắc rủi ro loại 1 và loại 3 sẽ cao.
Nghiên cứu rủi ro người ta không mong muốn có thể triệt tiêu được
chúng bởi thực tế cho thấy công việc đó là không thể. Tuy nhiên đo lường
và phòng ngừa rủi ro của dự án là hoàn toàn có thể. Công việc của các nhà
thẩm định là làm sao phát hiện được những rủi ro có thể xảy ra và tối thiểu
hóa tác động của chúng đến kết quả thẩm định tài chính dự án. Đối với
những loại rủi ro khác nhau có những phương pháp đánh giá khác nhau.
Đối với rủi ro loại 1, người ta thường dùng phương pháp phân tích
độ nhạy để đánh giá. Đo lường rủi ro loại 1 tức là đo lường sự biến động
của dòng tiền của dự án. Về mặt lý thuyết cũng như trên thực tế cho thấy có
rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và tác động đến dòng tiền của dự án. Các yếu tố
tác động đến dòng tiền được thiết lập trên cơ sở của sự phân bố xác suất và
tính kỳ vọng toán chứ không phải biết chúng một cách chắc chắn. Thực
hiện phương pháp tính độ nhạy là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tài chính
thay đổi như thế nào khi các biến đầu vào thay đổi. Ví dụ như khi biến số
lượng bán hàng thay đổi sẽ dẫn đến dòng tiền thay đổi và khi đó NPV, IRR
của dự án cũng thay đổi.
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
23
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
Các biến đầu vào của dự án có thể là số lượng bán hàng, các loại chi
phí như chi phí cố định, chi phí biến đổi và nhiều biến khác. Trong số các
biến đầu vào này có thể chỉ có một biến thay đổi hoặc cũng có thể nhiều
biến thay đổi cùng một lúc. Trường hợp một biến thay đổi, người ta chọn
biến có khả năng thay đổi và sẽ có tác động đến dòng tiền cho nó thay đổi
còn các biến khác được giữ nguyên để xem xét tác động của nó đến NPV
và IRR. Tính toán được giới hạn của sự thay đổi cũng là yếu tố quan trọng
để đánh giá tác động của chúng đến NPV, IRR. Trong thực tế trường hợp
một biến thay đổi là ít khi xảy ra, thường các biến sẽ thay đổi đồng thời. Do

,
M
R
có thể dự tính được và bằng các ước lượng giá
trị
β
của doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp khi thực hiện dự
Phạm Thị Phương Lớp TCDN44A
24
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.Ts Nguyễn Hữu Tài
án (
R
)hoàn toàn có thể xác định. Theo đó, doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư
vào những dự án có mức độ rủi ro trung bình nếu doanh nghiệp dự tính
kiếm được một tỷ suất sinh lời lớn hơn hoặc bằng
R
. Những dự án có mức
độ rủi ro trung bình là những dự án có mức độ rủi ro tương tự như tài sản
hiện có của doanh nghiệp. Khi xác định NPV của một dự án có mức rủi ro
trung bình, doanh nghiệp có thể lấy giá trị
R
làm lãi suất chiết khấu.
1.4 Chất lượng thẩm định tài chính dự án
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, mỗi người, mỗi tổ
chức có thể có những các hiểu khác nhau về chất lượng. Theo hệ thống
quản lý chất lượng ISO: chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính
vốn có đáp ứng các yêu cầu. Theo khái niệm đó về chất lượng ta có thể rút
ra :
- Thứ nhất: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu.
- Thứ hai : Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu mà nhu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status