những giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của các nhtm việt nam - Pdf 10

Lời nói đầu
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là th-
ờng xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng
tiện thanh toán.
Hai mảng hoạt động chính của NHTM là huy động và cho vay
vốn, đây là 2 mặt đối lập trong một chỉnh thể thống nhất là hoạt động
kinh doanh tiền tệ. Tất cả các NHTM đều sử dụng 1 lợng vốn lớn hơn
nhiều làm số vốn tự có của mình để cho vay. Để có đợc lợng vốn lớn đó,
các NHTM phải huy động từ nhiều nguồn trong xã hội và phải hoàn trả
một cách đầy đủ khi đến hạn. Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động đợc
công với vốn tự có của mình, các NHTM sẽ đầu t trở lại cho nếu khi hai
quá trình huy động và cho vay vốn đợc tiến hành 1 cách bình thờng thì
hoạt động kinh doanh của NHTM sẽ diễn ra trôi chảy, thuận lợi. Nhng
khi một trong hai quá trình đó bị ách tắc thì sẽ gây ra những khó khăn
cho hoạt động của NHTM.
Nh vậy, hoạt động tín dụng (hoạt động cho vay vốn) của NHTM
không chỉ là một trong hai hoạt động chủ yếu của NHTM, đem lạo phần
lớn thu nhập cho NHTM mà còn là cách thức tài trợ vốn cho nền kinh
tế. Ngày nay trong quá trình đổi mới, cải tổ hệ thống ngân hàng; hoạt
động tín dụng của các NHTM ở Việt Nam không tránh khỏi những khó
khăn, vớng mắc. Trong dồ án này em xin trình bày những tìm hiểu của
mình về khó khăn mà các NHTM ở Việt Nam đang gặp phải trong hoạt
động tín dụng và những giải pháp để tháo gỡ khó khăn, góp phần mở
rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt
Nam hiện nay. Với mong muốn nh vậy, đề án sẽ bao gồm những phần
sau:
I. Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
thị trờng
1.1. Sự hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng
1.2. Sự tồn tại khách quan của quan hệ tín dụng trong nền kinh tế

nghèo. Trong xã hội đã xuất hiện tình trạng khó khăn, thiếu thốn tạm
thời các t liệu tiêu dùng và dần này sinh các quan hệ vay mợn dựa trên
cơ sở tin tởng lẫn nhau trong việc hoàn trả, là tiền thân của quan hệ tín
dụng sau này.
Trong giai đoạn đầu của xã hội, tín dụng đợc đặc trng bởi tín dụng
nặng lãi. Hình thức tín dụng này tồn tại phổ biến trong chế độ phong
kiến. Cơ sở tồn tại của tín dụng nặng lãi là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu,
phân tán phu thuộc vào điều kiện tự nhiên. Ngời vay vốn phần lớn là
những ngời có đời sống bấp bênh, ít có sản phẩm d thừa, trong đó nhu
cầu vốn thì lại lớn và cấp thiết nhằm duy trì buôn bán, kinh doanh, thậm
chí chỉ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu trong đời sống. Những ngời có khả
năng cho vay thờng là những ngời giàu có, có nhiều quyền lực nh địa
chủ, quý tộc, quan lại và những ng ời chuyên cho vay nặng lãi.
Thông thờng, khi cho vay, ngời cho vay nặng lãi yêu cầu phải cầm
có đất đai, trâu bò, nhà cửa và sẵn sàng tớc đoạt hết tài sản này khi ngời
vay không trả đợc nợ.
Tín dụng nặng lãi đợc nhận dạng bởi các đặc điểm, đặc thù:
+Thứ nhất: lãi suất cao, nhiều lúc không chỉ ăn vào sản phẩm
thặng d mà còn ăn thêm vào sản phẩm tất yếu của ngời lao động, bởi
thông thờng cầu tín dụng lớn hơn cung tín dụng và các nhu cầu đó th-
ờng là bấp bênh, không thể trì hoãn
+Thứ hai: tín dụng nặng lãi thể hiện tính bóc lột đối với ngời đi
vay. Đây là hậu quả của đặc điểm trên.
+ Thứ ba: tín dụng nặng lãi thờng đáp ứng nhu cầu vốn cho tiêu
dùng hơn là cho sản xuất. Điều này cũng là hậu quả của đặc điểm thể
chất do mức lợi tức cho vay quá cao mà ngời vay không thể sử dụng vốn
vay vào mà sản xuất kinh doanh đợc.
Tín dụng nặng lại một mặt đã trở thành nhân tố kìm hãm sản xuất
xã hội, mặt khác đợc xem nh là một trong những nhân tố thúc đẩy kinh
tế tự cung, tự cấp tan rã, mở rộng kinh tế hàng hoá và tạo tiền đề cho

xuất kinh doanh. Vì vậy, kinh tế thị trờng là giai đoạn cao của kinh tế
hàng hoá.
Trong cơ chế thị trờng, các quan hệ tín dụng tồn tại một cách
khách quan vì 3 lí do sau:
+Thứ nhất: do tính chất vốn d thừa là tạo thời nhàn rỗi. Trong quá
trình luân chuyển vốn (T-H SX H-T ) có đặc điểm thừa và thiếu
vốn tạm thời. Csc đơn vị kinh tế, các cá nhân này có thu nhập nhng cha
cần phải tiêu hoặc chỉ tiêu cha hết. Các đơn vị, cá nhân thiết vốn một
cách tạm thời khi cha có thu nhập nhng đã có nhu cầu chi tiêu hoặc tổng
thu không đủ chi. Nh vậy, trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân sẽ xảy ra
một hoạt động thừa và thiếu vốn một cách tạm thời trong cùng một thời
gian. Trách nhiệm của nhà nớc là điều hoà nguồn vốn giữa nơi thừa
sang nơi thiếu để đảm bảo cho quá trình phát triển sản xuất của từng
đơn vị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong thực tế, có 2 phơng
pháp điều hoàn lại nguồn vốn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đó
là:
- Thông qua con đờng tài chính, tức là cấp phát vốn mà không
hoàn lại.
- Thông qua con đờng tín dụng, tức là điều hoà vốn có hoàn lại.
Nh vậy, để điều hoà vốn một cách tạm thời thì chỉ có thể thông
qua con đờng tín dụng.
+ Thứ hai: do chế độ sở hữu khác nhau về vốn.
Đa dạng hoá sở hữu là nhân tố cơ bản của nền kinh tế thị tr ờng,
tức là trong nền kinh tế thị trờng có nhiều chủ sở hữu khác về vốn. Các
nguồn vốn thuộc các chủ sở hữu khác trong quá trình luân chuyển cũng
mang đặc điểm là thừa vốn và thiếu vốn một cách tạm thời. Do vậy,
phải có sự đòi hỏi chuyển hoá về vốn giữa các hình thức sở hữu khác
nhau và trong nội bộ từng hình thức sở hữu khác nhau và trong nội bộ
từng hình thức sở hữu. Sự chuyển hoá số vốn đó là không xâm phạm đến
quyền sở hữu của ngời chủ của nó. Do vậy, ở đây chỉ có thể thông qua

nhau. Đó là lí do để ngời ta đồng nhất tín dụng với cho vay của ngân
hàng.
Luật Ngân hàng các nớc định nghĩa tín dụng nh sau:
Cấu thành một nghiệp vụ tín dụng bất cứ động tác nào, qua đó
một ngời đa hoặc hứa đa vốn cho một ngời khác dùng, hoặc cam kết
bằng chữ kí cho ngời này nh bảo đảm, bảo chứng hay bảo lãnh mà có
thu tiền. Định nghĩa này nêu ra ba trờng hợp:
1.3.1.Cho vay tiền hay còn gọi là cho vay ứng trớc là nghiệp vụ
tín dụng trong đod ngời cho vay cam kết giao cho ngời đi vay một
khoản tiền và ngời đi vay cam kết sẽ hoàn trả sau thời gian nhất định.
Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần chênh lệch đó là lãi cho
vay. Lãi cho vay tỷ lệ với số lợng tiền và thời hạn vay. Loại cho vay
dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:
- Tiền vay phải đợc hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi
- Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích
- Vốn vay phải có tài sản tơng đơng làm đảm bảo.
1.3.2. Cho vay dựa trên việc chuyển nhợng trái quyền: loại tín
dụng này chủ yếu dựa trên cơ sở mua bán các công cụ tài chính (hối
phiếu, lệch phiếu ), tạo ra nghiệp vụ chiết khấu th ơng phiếu của ngân
hàng, tức là mua nợ tính trên khoảng thời gian còn lại cho đến lúc đáo
hạn của thơng phiếu.
Trong loại tín phiếu này, về phơng diện pháp lý, ngân hàng không
phải chovay mà là đợc mua một trái quyền. ở đây, ngân hàng ứng trớc
trị giá của một thơng phiếu cha đến hạn và đổi lại ngân hàng nắm quyền
sở hữu trái quyền của thơng phiếu đó. Nh vậy, trong loại cho vay này,
hành vi thơng mại đã phát sinh, nên việc thu nợ có cơ sở vững chắc.
Cũng trong loại tín dụng này, khách hàng là chủ một trái quyền có
kì hạn, nhng muốn có vốn ngay lập tức nên họ phải yêu cầu các ngân
hàng cấp cho ngay số tiền đó trừ đi phần trả lại. Đổi lại, họ chuyển nh -
ợng trái quyền cho ngân hàng và khi đến hạn, ngân hàng đòi tiền ngời

Tín dụng dài hạn thời gian sử dụng là trên 3 năm
1.4.2. Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của
ngân hàng
-Một số loại tín dụng, thờng rất ngắn hạn, là kết quả của sự khoan
dung của ngân hàng. Trong trờng hợp này ngân hàng không cam kết dứt
khoát với khách hàng và do đó có thể tự do chấm dứt cho vay, trừ trờng
hợp quá hạn lạm quyền.
- Những tín dụng thờng phát sinh từ một cam kết dứt khoát của
ngân hàng, hoặc là cấp một khoản tín dụng cụ thể, hoặc là mở một hạn
ngạch tín dụng cho khách hàng của họ. Khi chúng ta nói là mở tín
dụng, tức là khách hàng đợc tự do sử dụng khả năng này để yêu cầu
ngân hàng cho vay tới hạn ngạch đã thoả thuận khi mở tín dụng.
1.4.3. Tín dụng có thể huy động và tín dụng không thể huy động
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân
hàng có thể nhợng lại đợc tiền trớc kì hạn đã định.
- Tín dụng không huy động là tín dụng mà ngân hàng cấp ra
không thể đem chuyển nhợng để vay lai vốn.
1.4.4. Phân loại tín dụng theo phơng thức tạo lâp tiền tệ
Việc cấp phát tín dụng đợc thực hiện theo 2 cách: một là tiền tệ
hàng hoá các giấy nợ thơng mại do ngời vay lu giữ nhng cha đến kì hạn,
hai là cho vay đơn thuần.
- Tiền tệ hoá giấy tờ thơng mại
Nguyên tắc của nghiệp vụ này đơn giản: ngời cung ứng thoả thuận
một thời hạn chi trả với khách mua của nó. Để cụ thể hoá khoản nợ th-
ơng mại của nó, nó phát ra một hối phiếu mà khách hàng mua chấp
nhận tuỳ thuộc tình hình. Sau đó ngời cung ứng nhợng lại kì phiếu này
cho chủ ngân hàng của nó và nhận lấy tiền tệ đề bù lại. Đó là kỹ thuật
rất quan thuộc của chiết khấu thơng mại.
-Tiền cho vay đơn thuần trực tiếp:
Trái với trờng hợp trên, tín dụng đợc thoả thuận với khách mua

vay trả góp để tài trợ học nghề, làm kinh tế hộ gia đình, kinh tế hợp tác
xã.
1.5.2. Cho vay trung dài hạn: Đó là các khoản tín dụng định kì
dp ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho ngời vay. Mức cho vay đợc xác định
theo nhu cầu các dự án cho vay, quy mô các khoản vay khác nhau đáng
kể giữa các ngành công nghiệp khác nhng thờng trên nguyên tắc dành
khoản cho vay lớn cho các doanh nghiệp đầu t lớn về nhà máy và trang
thiết bị, phơng thức cấp tiền vay và hoàn trả tiền vay của loại tín dụng
này là có thể cấp vốn 1 lần hoặc nhiều lần, còn khi hoàn trả (khác với
vay ngân hàng hẹn phải trả một lần) có thể trả vào 1 lần mà cũng có thể
trả theo thời gian biểu.
+ Cho vay trung dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh
tế quốc dân, là trung gian điều hoà lợng cung cầu vốn trong nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa
đến nơi thiếu. Qua thực tế, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng
hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi, mà trái lại ngày
càng phát triển mạnh mẽ.
+ Cho vay trung dài hạn tạo thị trờng sử dụng vốn ngắn hạn để
đầu t trang thiết bị doanh nghiệp, làm kích thích sản xuất phát triển. Do
đó, doanh nghiệp lại cần thêm nhiều vốn lu động hơn để đáp ứng nhu
cầu trớc mắt nh mua sắm nguyên liệu, thuê thêm nhân công, thuê đại lí
bán hàng Từ đó dẫn đến thị tr ờng vốn ngắn hạn đợc mở rộng theo tốc
độ phát triển sản xuất .
+ Cho vay trung dài hạn để phát triển ngành kinh tế theo chiều
sâu, đó là đầu t vào các công trình sản xuất, trang thiết bị, máy móc,
TSCĐ Do đó, thúc đẩy quá trình sản xuất nhiều loại sản phẩm, hàng
hoá để tiêu thụ trong nớc và để xuất khẩu. Việc xuất khẩu những hàng
hoá sẽ tăng nhiều ngoại tệ cho quốc gia và đảm bảo cán cân thanh toán
quốc tế.
+ Cho vay trung dài hạn giúp cho sản xuất phát triển, doanh

bao nhiêu. Điều này đợc thể hiện rất rõ qua hai bảng vốn huy động và
vốn cho vay sau:
Vốn huy động theo từng hệ thống ngân hàng
Đơn vị: tỷ đồng
31/12/9
8
30/06/9
9
31/12/99 T/8 tăng, giảm so
với 31/12/98
T/8 tăng, giảm so
với 30/06/99
NHTMQD 17.902 20.075 20.220 +12.94 +0,72%
NHTMCP 10.429 11119 11.394 -9,25% +2,4%
NHLD 1.805 1.759 1.572 -12,9% -10,63%
NH nớc ngoài 5.269 5.367 5.592 +6,13% +4,19%
Tổng 35.405 38.320 38.778 +9,52% +1,19%
Vốn cho vay theo từng hệ thống ngân hàng
Đơn vị: tỷ đồng
31/12/98 30/06/9
9
31/12/99 T/8 tăng, giảm so
với 31/12/98
T/8 tăng, giảm so
với 30/06/99
NHTMQD 16.921 18.317 18.317 +8,25 +0,86%
NHTMCP 9.308 9.492 9.608 +3,22% +1,22%
NHLD 1.180 1.173 1.127 -4,49% -3,92%
NH nớc ngoài 9.619 9.974 9.940 +3,33% -0,34%
Tổng 37.028 38.799 38.992 +5,3% +0,49%

động ngày càng tăng trong khi tổng d nợ lại không tăng kịp thì khả
năng NHTM bị lỗ và sụp đổ sẽ là điều không thể tránh khỏi.
2.1.2. Tỷ lệ nợ quá hạn cao
Chất lợng của hoạt động tín dụng ngân hàng đợc thể hiện ở nhiều
yếu tố nhng trong đó, tỷ lệ nợ tồn đọng là yếu tố cơ bản nhất, quan
trọng nhất. Hình thái đọng nợ hiện nay ở các ngân hàng có nợ quá hạn,
nợ khoanh và nợ chờ xẻ lý. Nợ quá hạn là những nợ đã quá hạn mà các
tổ chức vay vẫn cha trả đợc. Nợ khoanh là những khoản nợ Chính phủ
cho phép không thu nợ kể cả gốc và lãi. Công nợ chờ xử lý là những
khoản nợ hiện nay đang nằm trong các vụ án chờ cơ quan pháp luật xét
xử hoặc các khoản nợ cha xác minh đầy đủ nguồn gốc để xử lý. Cả ba
loại này cộng lại xem nh là tổng nợ tồn đọng của nền kinh tế.
Trên thế giới, ngân hàng nào trong quá trình hoạt động kinh
doanh cũng đều xảy ra tình trạng nợ quá hạn ở những mức độ khác
nhau. Đây là vấn đề rất bình thờng của các NHTM nhng ở Việt Nam
hiện nay thì vấn đề này lại trở nên không bình thờng chút nào. nếu
nh tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống NHTM Việt Nam vào năm 1991 là
8,8%, năm 1992 là 12,5%, năm 1993 ;à 9,6%, năm 1994 lfa 4,6%, năm
1995 là 3,5% thì tính đến cuối năm 1999, tổng tỷ lệ nợ quá hạn của toàn
bộ các tổ chức tín dụng lên tới trên 10% so với tổng d nợ, điều này cũng
có nghĩa là có hàng chục ngàn tỷ đồng hiện nay đã trở thành vốn chết,
không sinh lời đợc. Đây thực sự là một con số có thể làm choáng váng
bất cứ ai có chút am hiểu về hoạt động tín dụng ngân hàng.
Nếu xét về tác hại của nợ quá hạn thì đối với bản thân các NHTM,
một tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho hoạt động
kinh doanh tiền tệ. Trớc hết, nó làm cho NHTM không thu hồi đợc vốn
và lãi đúng thời hạn đặt ra trong hợp đồng, và cho dù các khoản nợ quá
hạn đó có thể thu hồi lại đợc toàn bộ sau một thời gian quá hạn nhất
định thì điều đó cũng làm cho thời gian của một vòng quay vốn tín dụng
thực tế lớn hơn vòng quay vốn tín dụng đã thoả thuận. Nh vậy, nợ quá

nh hiện nay đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lợng tín dụng, từ đó ảnh
hởng không nhỏ tới kết quả kinh doanh của các NHTM.
2.1.3. Sự bất hợp lý trong cơ cấu tín dụng
Hiện nay, cơ cấu cho vay các NHTM Việt Nam tuy đã có nhiều
chuyển biến tích cực so với thời kỳ đổi mới nhng vẫn cha thực sự phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nh nớc
ta. Mặc dù đang ứ đọng vốn nhng nhiều NHTM, nhất là csac NHTM
quốc doanh vẫn xác định đối tợng khách hàng của họ là các doanh
nghiệp nhà nớc còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh chi là khách hàng
dự trữ. Ông Nguyễn Văn Phẩm, giám đốc sở giao dịch II, ngân hàng đầu
t và phát triển Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, cho biết gần 90%
tổng d nợ hiện có khoảng 1.000 tỷ đồng, của Sở giao dịch II thuộc về
các tổng công ty. Còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ đợc vay
mộ tỷ lệ dới 10% tổng d nợ.
Tất nhiên, không phải ngân hàng nào cũng từ chối t nhân. Tiêu
biểu là ngân hàng Đông á, trên 70% tổng d nợ là dành cho các cơ sở
ngoài quốc doanh. Hay nh Sài Gòn Công thơng ngân hàng (Sai Gon
Bank), tỷ lệ cho vay khu vực t nhân so với khu vực nhà nớc là 60/40.
Tuy nhiên, số lợng ngân hàng có cơ cấu tín dụng nh trên lại không
nhiều lắm. Hơn nữa, đây mới chỉ là cơ cấu cho vay sản xuất kinh doanh
trong nớc chứ tài trợ xuất khẩu cho khu vực t nhân thì ngay cả những
ngân hàng trên cũng còn dè dặt. Nhiều quan chức ngân hàng đã thừa
nhận không giám cho t nhân vay tiền trên L/C đã mở bởi vì cho rằng :
có L/C cha chắc họ đã xuất hàng, xuất hàng cha chắc đã có đầy đủ
chứng từ, có bộ chứng từ cha chắc đã thu đợc tiền. Do có quan điểm nh
vậy nên các doanh nghiệp t nhân khi có L/C xuất khẩu thờng liên hệ
trực tiếp với chi nhánh ngân hàng nớc ngoài để vay tiền. Họ biết chắc
nh đinh đóng cột rằng với L/C trong tay mà thiếu tài sản thế chấp thì
các ngân hàng nội địa cũng không đầu t tiền vào họ. Gần đây, một vài
ngân hàng trong nớc đã mạnh dạn cho vay đối với những cơ sở có L/C

cho các doanh nghiệp và ngân hàng. Hệ thống văn bản pháp luật cha
khoa học, thiếu đồng bộ khiến thủ tục cho vay hiện nay ở các NHTM
khá rờm rà, cứng nhắc phải trải qua nhiều khâu. Vì lẽ đó thời gian từ
lúc nộp đơn xin vay đến lúc mà các đơn vị vay đợc vốn thờng rất dài, 10
ngày nếu vay ngắn hạn và 45 ngày cho vay trung hạn và dài hạn. Trong
thời buổi bùng nổ thông tin nh ngày nay, để nắm bắt cơ hội làm ăn ngời
ta phải chạy đua từng ngày thậm chí từng giờ, vậy mà phải nằm chờ lâu
nh vậy mới có thể vay đợc vốn thì quả là khó khăn cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Cũng chính vì hệ thống văn bản cha khoa học, rõ ràng
nên các NHTM không giám đa vào sử dụng nhiều nghiệp vụ mới nhằm
rút ngắn thời gian cũng nh chi phí quản lý vốn vay cảu mình.
2.2.1. Các cơ quan hữu quan cha có đợc cái nhìn thấu đáo về
ngân hàng và hoạt động kinh doanh tiền tệ, nếu cha có đợc sự phối
hopự đồng bộ, tích cực với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn
đề liên quan. Cho đến nay không ít ngời còn cho rằng việc cho vay và
thu hồi nợ vay chỉ đơn thuần là việc của ngân hàng, trong khi trên thực
tế có nhiều khoản vay ngân hàng đã thoả hiệp theo đúng mọi quy định
của nhà nớc mà vẫn không thu hồi đợc nợ, lúc đó việc thu hồi nợ đã vợt
ra khỏi chức năng và khả năng của ngân hàng. Mặc dầu đã có nhiều
thông t liên tịch giữa NHNN và các Bộ, các ngành liên quan hớng dẫn
thực hiện những vấn đề có liên quan đến hoạt động ngân hàng, nhng
thực tế đòi hỏi cần phải có sự phối hợp nhiều hơn nữa giữa các cơ quan
này với nhau trong thời gian tới. Những ngân hàng này khiến các
NHTM tiếo tục co cụm, chờ đợi thời cơ.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc
biệt, rất nhạy cảm chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế
trong nớc và thế giới. Trong thời gian quan, nền kinh tế nớc ta cũng nh
một số nớc trong khu vực có những khó khăn nhất định nên đã tác động
không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của các đơn vị vay vốn, điều này
nh một phản ứng dây chuyền đã tác động trực tiếp đến hoạt động kinh

vào năm 1999, thì lãi suất cho vay cảu các NHTM ở Việt Nam là rất cao
1,25%/tháng đối với cho vay ngắn hạn, bên cạnh đó tỉ lệ tái cấp vốn
cũng là 1,1% /tháng.
ii. những tồn tại trong hoạt động tín dụng của
các nhtm Việt Nam.
2.2. Những khó khăn trong hoạt động tíndụng của các NHTM
Nh trên đã trình bày, hoạt động tín dụng là hoạt động chính của
NHTM, nó đem lại thu nhập, chủ yếu cho ngân hàng và tài trợ vốn cho
nền kinh tế, tuy nhiên trong những năm qua tỉ lệ tăng trởng tín dụng đã
không đạt đợc nh mong muốn, nguyên nhân cả chủ quan và khách quan
dẫn đến tình trạng đó, đã có nhiều ý kiến đề cập, chung qui lại các ý
kiến đều tập trung chủ yếu vào những nguyên nhân cơ bản sau:
Hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) hiện nay đang nằm
trong tình trạng chung là làm ăn kém hiệu quả, vốn tự có ít hoạt động
chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng, điều này gây rất nhiều khó khăn cho
ngân hàng trong hoạt động đầu t tín dụng. Nếu thực hiện theo đúng quy
định của nhà nớc là: doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, vốn tự có không đảm
bảo thì không đầu t, nh thế sẽ đẩy doanh nghiệp đến chỗ đã khó khăn lại
càng khó khăn hơn, kéo theo cả ngân hàng cũng lâm vào cảnh không tốt
đẹp gì hơn, đồng thời ảnh hởng xấu đến nền kinh tế và cả vấn đề xã hội.
Bên cạnh đó, có những doanh nghiệp dù làm ăn có hiệu quả nhng vẫn
phải nợ ngân hàng. Cho đến giữa năm 1998, các tổng công ty xây dựng
đã nợ ngân hàng hàng ngàn tỷ đồng, mỗi tổng công ty cùng một lúc d
nợ vốn vay, bảo lãnh của từ 6-10 ngân hàng, từ NHTMQD, đến NHTM
cổ phần ngân hàng liên doanh và thậm chí cả chi nhánh ngân hàng nớc
ngoài. Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long hiện d nợ ngân hàng trên
300 tỷ đồng . Nguyên nhân chủ yếu cho vấn đề trên là các công ty bị
bên A nợ trong khi đó vẫn phải xây dựng, máy móc trên công trờng vẫn
phải đa vào vận hành, phải tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động.
Tình hình nợ NHTM của các Tổng công ty khác cũng không sáng sủa

nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm. Thực
tế đã chứng minh rằng việc cung cấp các số liệu không trung thực của
đơn vị, thêm vào đó là việc tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng đã gây
lên những vụ đổ bể tín dụng gây hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nh vụ
Tamexco và Minh Phụng.
- Do chuyển sang làm ăn trong cơ chế thị trờng cha lâu nên hầu
hết các doanh nghiệp hiện nay cha có đủ năng lực và kinh nghiệm để
cạnh tranh trên thơng trờng, thờng thua thiệt trong kinh doanh. Mặt
khác, đất nớc đang trên đà chuyển đổi nền kinh tế do đó cha có đợc
những quy hoạch cụ thể, ổn định lâu dài ở tầm vĩ mô, nên đã gây không
ít khó khăn cho doanh nghiệp trong việc đầu t sản xuất. Nhiều dây
chuyền sản xuất lắp đặt xong thiết bị, khi bớc vào sản xuất thì sản phẩm
không tiêu thụ đợc do nhà nớc có chủ trơng cấm hoặc sản xuất hạn chế.
Một số mặt hàng do không có quy hoạch tổng thể và sự chỉ đạo thống
nhất nên có quá nhiều doanh nghiệp đầu t vốn nhng sản phẩm lại không
tiêu thụ đợc do đó đã bão hoà hoặc lợi nhuận thu về không đợc nh khi
xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật, hoặc không có đủ nguyên liệu
đầu vào cho sản xuất, điều này gây rất nhiều khó khăn cho ngân hàng vì
phần lớn vốn đầu t của doanh nghiệp là vốn vay ngân hàng.
Các doanh nghiệp đang hoạt động trong thị trờng độc quyền cao.
Các nghiên cứu cho thấy, ngoài các ngành độc quyền tự nhiên nh Điện,
Nớc, thì độc quyền còn có trong hầu hế các ngành kinh tế và nhà độc
quyền chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nớc, các Tổng công ty. Một hậu
quả của sự độc quyền là không sử dụng hết công suất, tồn kho hàng hoá
lớn của Tổng công ty 90-91: khoảng 6000 tỷ đồng, trong đó mía đờng:
540 tỷ đồng, xi măng: 700 tỷ đồng, hàng dệt may 500 tỷ đồng. Các liên
doanh và doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài lại giữ vị trí độc quyền
trong các ngành có hàm lợng công nghệ tơng đối cao. Sự hạn hẹp của
thị trờng Việt Nam và vị trí đi đầu của các dự án lớn rất thấp, ví dụ: sản
xuất và lắp ráp xe tải: 3%, ôtô dới 12 chỗ, xe máy 8%, khả quan nhất là

sóo mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn lớn của các Tổng
công ty 90-91 với khả năng còn hạn chế của các NHTM Việt Nam. Nhu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status