MỞ ĐẦU
Cùng với sự chuyển hướng của nền kinh tế nước ta kể từ sau Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì dần dần hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khách sạn - du lịch nói riêng đã không
nằm trong khuôn khổ của những kế hoạch cứng nhắc, mà chịu sự tác động của
các quy luật của nền kinh tế thị trường. Trong buổi giao thời này đã không ít
doanh nghiệp tỏ ra lúng túng, làm ăn thua lỗ, thậm chí có doanh nghiệp phá sản,
tuy nhiên nhiều doanh nghiệp đã vượt qua được những khó khăn ban đầu và
thích nghi với cơ chế mới, làm ăn năng động, hiệu quả và ngày càng lớn mạnh
hơn. Mặt khác, môi trường kinh doanh trong cơ chế thị trường luôn biến đổi, vận
động không ngừng, luôn phá vỡ kế hoạch ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh
nghiệp.
Chính vì vậy:
Các doanh nghiệp cần thiết phải hoạch định và triển khai một công cụ kế
hoạch hóa hữu hiệu để đủ linh hoạt đối phó với những thay đổi của môi trường
kinh doanh, đó là chiến lược kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh không nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể như kế
hoạch mà nó được xây dựng trên cơ sở phân tích và dự đoán các cơ hội, nguy cơ
điểm mạnh, điểm yếu, nhằm giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng thể về môi
trường kinh doanh cũng như bản thân mình. Từ đó hình thành nên mục tiêu
chiến lược và các chính sách, giải pháp lớn thực hiện thành công các mục tiêu
đó.
Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta đang xa lạ với mô hình quản lý
chiến lược nên chưa xây dựng được một chiến lược hoàn chỉnh, hữu hiệu, để
phát triển sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt là trong ngành kinh doanh dịch
vụ. Khách sạn Hòa Bình không nằm ngoài số đó. Trong bối cảnh ngành du lịch
khách sạn của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều áp lực: ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tiền tệ khu vực, xu hướng thị trường khách du lịch giảm, đối mặt
với mùa vụ Trước tình hình đó đối với Khách sạn Hòa Bình cần phải xây dựng
một chiến lược phát triển toàn diện, hữu hiệu để vươn lên và đứng vững trong
I. KHÁI QUÁT CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ NỘI DUNG HOẠCH
ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:
1. Chiến lược kinh doanh:
Thuật ngữ "chiến lược" lần đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự
và đã gặt hái được những thành công to lớn. Mãi đến thập kỷ 50 thuật ngữ này
mới được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh. Ngày nay chiến lược kinh
doanh được vận dụng rộng rãi trong khắp các doanh nghiệp ở các nước có nền
kinh tế phát triển và ngày càng tỏ ra vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với
sự thành bại của các doanh nghiệp trên thị trường.
Đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược kinh doanh,
nhưng 2 khái niệm dưới đây được coi là phổ biến nhất:
Theo Alfred Chandler: Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ
bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn các cách thức hoặc tiến trình
hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.
Theo định nghĩa trong giáo trình ”chiến lược và kế hoạch phát triển doanh
nghiệp” (Bộ môn Kinh tế doanh nghiệp - trường Đại học Kinh tế quốc dân) :
Chiến lược kinh doanh của một công ty là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các
chính sách và các giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và về giải
quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay
công ty phát triển lên một trạng thái về chất.
Từ các định nghĩa chúng ta rút ra một số đặc trưng cơ bản của chiến lược
kinh doanh như sau:
Thứ nhất: Chiến lược kinh doanh luôn mang tính định hướng. Bởi vì chiến
lược kinh doanh bao gồm các mục tiêu dài hạn mà môi trường kinh doanh hiện
đại luôn biến đổi không thể lường trước được nên chiến lược kinh doanh chỉ có
định hướng chứ không thể cứng nhắc. Vì vậy bên cạnh các chỉ tiêu định lượng
và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp chú trọng nhiều hơn về các chỉ
tiêu định tính. Cần luôn theo dõi, dự báo những thay đổi của môi trường kinh
doanh để kịp thời điều chỉnh các hoạt động thực hiện chiến lược thậm chí điều
chỉnh các mục tiêu chiến lược cho phù hợp.
đối với môi trường và vai trò của từng ngành kinh doanh trong công ty
+ Phân tích theo định mức vốn đầu tư, chiến lược tổng thể bao gồm:
Chiến lược tập trung
Chiến lược hội nhập theo chiều dọc
Chiến lược đa dạng hóa.
- Chiến lược bộ phận là chiến lược giúp cho công ty có đủ khả năng cạnh
tranh hiệu quả trong ngành kinh doanh đặc thù đã và đang theo đuổi. Là chiến
lược mà doanh nghiệp áp dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận và sức cạnh tranh so
với đối thủ, bao gồm:
Chiến lược hạ chi phí (cost leadership).
Chiến lược dị biệt hóa sản phẩm (differentiation)
Chiến lược phản ứng nhanh
Chiến lược tập trung hóa vào một đoạn thị trường nhất định.
- Chiến lược cấp chức năng: là chiến lược nhằm xác định hỗ trợ các chiến
lược cấp kinh doanh như thế nào? Bao gồm:
Nghiên cứu và phát triển (Research & Development)
Tiếp thị
Phân vụ tuân theo và thống nhất với chiến lược cấp kinh doanh.
* Căn cứ theo cách tiếp cận có 4 loại:
- Chiến lược nhân tố then chốt: Tư tưởng của loại chiến lược này gạt bỏ
những vấn đề, những yếu tố không quan trọng để tập trung nổ lực vào những vấn
đề, yếu tố quan trọng có tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty.
- Chiến lược lợi thế so sánh: Tư tưởng chủ đạo của loại chiến lược này so
sánh điểm mạnh, yếu về mọi mặt của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Từ đó
rút ra các lợi thế làm chỗ dựa phát huy chiến lược kinh doanh của mình.
- Chiến lược ràng tạo tiến công: Chiến lược này đưa ra những khám phá
mới, bí quyết công nghệ mới làm tiền đề cho chiến lược kinh doanh để giành ưu
thế vốn so với đối thủ cạnh tranh.
- Chiến lược khai thác các mức độ tự do: Chiến lược này không khai thác
Đánh giá thực
trạng của doanh
Tổng hợp kết qu
ả
P/T môi trường
Tổng kết kết quả
thực trạng doanh
nghiệp
Hoạch
định
các
phươ
ng án
chiến
lược
kinh
doanh
So
sánh
đán
h giá
lựa
chọn
chiế
n
lượ
c
Ch
ươ
ng
Trong thực tế việc tách ra theo hai hướng này là vô cùng phức tạp nhưng đây là
yếu tố bắt buộc trong quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh.
Bởi lẽ, không xác định được thời cơ, bất lợi có thể bỏ lỡ cơ hội và thậm chí trả
giá khi thực hiện các mục tiêu chiến lược và thực thi trong thực tế kinh doanh.
* Bước 3: Phân tích thực trạng của doanh nghiệp để xác định: Doanh
nghiệp có khả năng đi đến đâu? và doanh nghiệp cần tránh những yếu tố nào?
trong thời kỳ chiến lược. Việc phân tích tiến hành một cách toàn diện, trong đó
có 3 nội dung phải đặc biệt chú trọng:
+ Phân tích thực trạng tài chính doanh nghiệp, tiềm năng về vốn, hiệu quả
sử dụng vốn, các chỉ tiêu tài chính cơ bản
+ Phân tích về mô hình tổ chức quản lý của doanh nghiệp và khả năng
thích ứng của mô hình tổ chức đó với biến động thị trường.
+ Phân tích thực trạng đội ngũ lao động của doanh nghiệp: số lượng, cơ
cấu chất lượng các loại lao động
* Bước 4: Tổng hợp phân tích kết quả và đánh giá thực trạng doanh
nghiệp theo 2 hướng :
+ Xác định các điểm mạnh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp so với
đối thủ cạnh tranh trên thị trường để triệt để khai thác khi xác định mục tiêu
chiến lược.
+ Xác định điểm yếu, bất lợi của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh,
để giữ kín và che chắn trong quá trình kinh doanh.
* Bước 5: Nghiên cứu các quan điểm kinh doanh, các ý chí và nguyện
vọng của những người đứng đầu doanh nghiệp. Có thể nói các ý chí, quan
điểm của những người này có ý nghĩa chi phối trong quá trình xây dựng, lựa
chọn và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
* Bước 6: Xây dựng các phương án chiến lược kinh doanh dựa trên cơ sở
phân tích và tổng hợp các yếu tố môi trường kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp.
* Bước 7: So sánh, đánh giá và lựa chọn phương án chiến lược kinh
doanh tối ưu, nội dung này cần lưu ý 2 vấn đề:
+ Việc đánh giá lựa chọn tiến hành trên cơ sở sử dụng nhiều tiêu chuẩn,
sạn với mục đích chính là:
+ Thỏa mãn tết nhu cầu của du khách.
+ Đạt lợi nhuận cao (tối đa)
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh khách sạn trong nền kinh tế thị trường
ngày nay trong điều kiện du lịch phát triển mạnh mẽ, đời sống người dân cao,
thì hoạt động kinh doanh của khách sạn ngày càng phong phú, đa dạng, từ đó
làm giàu thêm nội dung của khái niệm khách sạn. Xu hướng phát triển của kinh
doanh khách sạn là không ngừng tăng các loại hình dịch vụ bổ sung.
2.Kinh danh khách sạn:
Hoạt động kinh doanh khách sạn là hoạt động dịch vụ. Mọi sản phẩm của
khách sạn bán cho khách đều là dịch vụ hoặc có kèm theo yếu tố dịch vụ trong
đó. Tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất, đủ nhất nhu cầu ngày càng đa dạng của du
khách thì sản phẩm chính của kinh doanh khách sạn chủ yếu là:
+ Dịch vụ lưu trú
+ Dịch vụ ăn uống
+ Dịch vụ bổ sung
Ngày nay một số khách sạn có điều kiện mở rộng kinh doanh có thể đáp
ứng được nhu cầu đi lại cho khách.
Dịch vụ khách sạn có đặc điểm:
+ Tính vô hình: Mang đặc thù của dịch vụ nói chung, dịch vụ trong kinh
doanh khách sạn không nhìn thấy, sờ mó
+ Tính không đồng bộ: Chất lượng của dịch vụ được cấu thành, phụ thuộc
vào 2 yếu tố: Yếu tố chủ quan từ phía khách sạn như: cơ sở vật chất, tiện nghi
phục vụ, cách phục vụ và yếu tố chủ quan từ phía khách hàng là sự cập nhật. Vì
thế cũng là một loại dịch vụ nhưng đối với người này chất lượng cao, với người
kia chất lượng thấp.
+ Tính trùng nhau giữa thời gian sản xuất và tiêu dùng:
Dịch vụ khách sạn không thể di chuyền được muốn quá trình tiêu dùng diễn ra
thì khách du lịch phải di chuyển đến khách sạn. Vì vậy quá trình sản xuất dịch vụ
có sự tham gia tích cực của khách du lịch.
giản hơn
Khi khách sạn phát triển, sự tiêu chuẩn hoá trở nên khó thực hiện( hoặc ít
sử dụng). Do đó, các nhà quản lý của khách sạn phải có trách nhiệm phát triển,
cải tiến và thực hiện thêm nhiều kế hoạch chiến lược cần thiết cho sự thành
công của doanh nghiệp họ.
+ Các công ty kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nói chung cũng như
khách sạn nói riêng đã chuyển từ một đợn vị kinh tế cơ sở hoạt động theo cơ chế
giao nộp, cấp phát sang thành một chủ thể kinh doanh có quyền độc lập tương
đối, thành một phân hệ kinh tế mở cửa và ngày càng hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới. Vì vậy các doanh nghiệp đã có quyền quản lý và sử dụng
nguồn vốn cũng như các quyết định kinh doanh theo cơ chế tự cân đối và tự
trang trải và phải có lãi.
b) Khái niệm:
Doanh nghiệp khách sạn là một đơn vị kinh doanh trên thị trường, là một
đơn vị của ngành kinh doanh dịch vụ nói riêng, nó chịu ảnh hưởng của tất cả các
động thái trên thị trường, chịu sự tác động của quy luật kinh tế khách quan của
cơ chế thị trường cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, việc hoạch định
chiến lược kinh doanh đòi hỏi tuân thủ quy luật quán triệt các nguyên tắc chung.
Chiến lược kinh doanh không gì khác là phương pháp nhằm cạnh tranh của
doanh nghiệp, theo tác phẩm Quản lý khách sạn (Trường Đào tạo nghiệp vụ Du
lịch Sài Gòn - 199 ) thì việc hoạch định chiến lược được coi như "một tập hợp
các quyết định và hành động dẫn đến việc hình thành công thức để thực hiện
nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu của doanh nghiệp". Coi như bản thiết kế mà
khách sạn tuân thủ để cạnh tranh trong quá trình kinh doanh.
Việc hoạch định chiến lược trong khách sạn giúp cho việc trả lời 3 câu hỏi
cơ bản:
Chúng ta làm gì và làm cho ai?
Chúng ta muốn đạt mục đích gì?
Chúng ta sẽ quản lý các hoạt động của khách sạn như thế nào để đạt
được mục đích đề ra?
- Chiến lược cấp bộ phận chức năng trong khách sạn:. Chiến lược cấp
chức chức năng trong khách sạn thường là mục tiêu hàng năm và là những chiến
lược ngắn hạn (ví dụ: Ngân sách cho quảng cáo, phát triển chương trình chất
lượng )
2. Các đặc thù cơ bản của kinh doanh khách sạn ảnh hưởng đến công
tác hoạch định chiến lược kinh doanh:
* Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư lớn, về vốn cố định
(xây dựng nhà cửa, tiền thuê quyền sử dụng đất, trang thiết bị ) trong cơ cấu
vốn. Mặt khác thời gian thu hồi vốn lâu. Nên đòi hỏi công tác hoạch định chiến
lược phải chú trọng đến việc đưa ra những chiến lược sử dụng hiệu quả nguồn
vốn đẩy nhanh tiến độ thu hồi.
* Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch, vị trí kiến trúc
cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật góp phần vào quyết định thứ hạng và sức hấp
dẫn của khách sạn. Mặt khác nó quyết định sự phân bổ kinh doanh khách sạn.
Trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh phải xác định thấy đối thủ cạnh tranh
bằng cái gì: điều này đặc biệt cần quan tâm khi tiến hành mở rộng đầu tư kinh
doanh khách sạn, nâng cấp
* Hoạt động kinh doanh khách sạn là hoạt động dịch vụ nên sử dụng hàm
lượng lao động (con người) lớn và luôn là yếu tố hàng đầu. Quyết định sự thành
công của khách sạn vì con người quyết định chất lượng dịch vụ, làm cho dịch vụ
hoàn hảo hơn. Vì vậy tròng quá trình thu nhập xử lý thông tin phải chú trọng đến
yếu tố con người trong nội bộ khách sạn mình cũng như của đối thủ cạnh tranh:
chất lượng, số lượng, độ tuổi
* Cung trong kinh doanh khách sạn có độ ổn định tương đối còn cầu về
khách sạn luôn biến động. Mặt khác cung thì tương đối cố định và tập trung
trong khi cầu lại rải rác, phân tán, cung dịch vụ của khách sạn đơn lẻ, trong khi
đó cầu lại mang tính tổng hợp cao
Vì vậy cung phụ thuộc cầu hay khách sạn luôn phụ thuộc vào khách du
lịch, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay. Điều này đòi hỏi công tác nghiên cứu
môi trường kinh doanh đặc biệt là thị trường phải sát sao, phải luôn tìm cách
nhất quyết định nhất đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó là: Tốc độ
phát triển kinh tế, lãi suất, tỉ giá hối đoái, tỉ lệ lạm phát và chính sách kinh tế.
Tùy theo hoàn cảnh khác nhau mà nó tác động lên hoạt động kinh doanh của
khách sạn khác nhau.
Trạng thái phát triển của nền kinh tế: Tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia
được đo bằng GDP; GND ứng với nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định thì nó
tác động vào môi trường kinh doanh của khách sạn theo 2 hướng;
+ Thu nhập quốc dân tăng lên dẫn đến khả năng thanh toán của dân cư
tăng lên nên môi trường kinh doanh hấp dẫn, có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp.
+ Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có hiệu quả nên khả năng
tích tụ và tập trung cao, nhu cầu đầu tư mở rộng, sản phẩm phát triển, môi
trường kinh doanh hấp dẫn. Và ngược lại nếu trạng thái phát triển nền kinh tế ở
giai đoạn suy thoái.
+ Lãi suất tiền gửi-vay: Do thị trường vốn và thị trường tài chính nước ta
chưa hoàn chỉnh, chính sách lãi suất đôi khi là ý muốn chủ quan của Nhà nước
nên một sự thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng tết và xấu đến quá trình hoạt động của
công ty. Lãi suất cao, dân cư thiên hướng tiết kiệm nên tiêu dùng dè dặt, doanh
nghiệp cũng dè dặt khi đầu tư mở rộng sản xuất.
+ Tỉ giá hối đoái và giá của đồng tiền trong nước: Có tác động rất lớn đến
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh du lịch lý do là khi
tỉ giá hối đoái cao làm giảm giá trị đồng nội tệ tăng xuất khẩu và đồng nghĩa
khách du lịch đến nhiều và tiêu dùng nhiều hơn. Ngược lại:
+ Tỉ lệ lạm phát, mức độ việc làm thất nghiệp và thu nhập có ảnh hưởng
rất lớn đến xã hội nói chung và du lịch nói riêng. Khi lạm phát cao tiền quay về
làm chức năng cất trữ, trong đầu tư, tiền chỉ là bảo toàn giá trị không có ích cho
kinh doanh.
+ Chính sách kinh tế và đặc biệt là chính sách kinh tế đối ngoại có ảnh
hưởng gần như quyết định lượng khách du lịch đến với khách sạn. Hiện nay các
khách sạn sang trọng chủ yếu là đón khách quốc tế, nhà đầu tư Việc có chính
sách kinh tế đối ngoại thông thoáng và rõ ràng tạo ra nhiều cơ hội cho khách sạn
sinh thái tạo điều kiện cho phát triển du lịch bền vững.
d) Tác lực văn hóa - xã hội:
Yếu tố này tác động lên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp một
cách chậm chạp nhưng rất sâu sắc.
Phong tục, tập quán, thị hiếu, kết cấu dân ca, trình độ dân trí, tôn giáo, tín
ngưỡng tác động đến cơ cấu của sản phẩm du lịch.
Yếu tố này buộc các nhà kinh doanh du lịch và khách sạn phải nắm vững thông
tin về đối tượng khác và hành vi của họ để có sản phẩm phù hợp và kinh doanh
có hiệu quả.
e) Tác lực tự nhiên - môi trường: Nó tạo ra những khó khăn, thuận lợi ban
đầu cho kinh doanh của doanh nghiệp hay ngành thậm chí là cả quốc gia:
+ Tài nguyên thiên nhiên, điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình ảnh
hưởng đến tính chất và loại hình kinh doanh, ảnh hưởng đến việc mở rộng hay
phân bổ cơ cấu của loại hình kinh doanh.
+ Vị trí địa lý và sự phân bổ địa lý của các vùng kinh tế ở trong nước có
ảnh hưởng sâu sắc đến kinh doanh du lịch như việc lựa chọn loại hình du lịch
nào, phương tiện vận chuyển
3.1.2. Các tác lực vi mô:
Các yếu tố này xuất hiện ở trong môi trường tác nghiệp của công ty.
Nhiệm vụ của nhà quản trị chiến lược là phân tích các tác lực cạnh tranh trong
môi trường kinh doanh để nhận diện những cơ hội và nguy cơ mà công ty gặp
phải trong quá trình kinh doanh.
Sơ đồ 1.2: Môi trường tác nghiệp
Đối thủ
cạnh
tranh
a) Khách hàng (khách du lịch).
Với một công ty kinh doanh du lịch - khách sạn thì khách hàng bao gồm
các doanh nghiệp trong và ngoài ngành, các du khách.
Du khách về thực chất đã là thị trường kinh doanh của khách sạn, là tập
+ Mức độ gay gắt phụ thuộc vào số lượng khách sạn trên địa bàn hay mức
độ đa dạng hóa sản phẩm . . .
Việc phân tích đối thủ cạnh tranh giúp khách sạn trả lời câu hỏi:
Đối thủ muốn gì, làm gì, sẽ làm gì?
Điểm mạnh, yếu của đối thủ so với mình?
Từ đó có biện pháp cạnh tranh thích hợp.
- Đối thủ tiềm tàng: Sự xuất hiện các khách sạn, tham gia vào thị trường
kinh doanh, đưa sản phẩm dịch vụ mới vào đó là hàng rào cản đường đối với
khách sạn mình. Đây là yếu tố cần quan tâm để có chiến lược ứng phó và bảo
toàn thị phần của khách sạn.
c) Các đơn vị cung ứng đầu vào:
Khách sạn cần quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn đầu vào như
vật tư thiết bị nguyên vật liệu, tài chính, tổ chức đào tạo
Việc lựa chọn người cung cấp là rất quan trọng, đối tượng nào là tin cậy
nhất, tiện lợi nhất cho khách sạn phải thông qua phân tích để nhận biết.
Các đơn vị cung ứng vật tư đầu vào có thể ép giá giảm chất lượng sản
phẩm tùy theo vị thế của họ.
Hay trong lúc cần huy động tài chính, các nhà cung cấp có thể ép khách sạn về
lãi suất nên khách sạn phải nghiên cứu và trả lời câu hỏi:
- Cổ phiếu khách sạn có được đánh giá đúng không?
- Nguồn vốn lưu động của khách sạn có mạnh không?
- Các điều kiện cho vay hiện tại có phù hợp với mục tiêu lợi nhuận của
khách sạn không.
- Số lượng người cung ứng đầu vào có bảo đảm sự lựa chọn tối ưu cho
khách sạn không?.
d) Sản phẩm thay thế:
Các phương án thay thế trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu nhằm
đáp ứng nhu cầu thị trường một cách nhanh chóng.
Sản phẩm thay thế sản phẩm khách sạn có thể là khu biệt thự, nhà khách,
làng du lịch, nhà cho thuê cùng các sản phẩm khác chuyên phục vụ các nhu