Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
!
"#$%&
' ($%&
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng
vốn nhất định bao gồm: vốn lưu động, vốn cố định và vốn chuyên dùng
khác. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức, huy động và sử dụng vốn
sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về tài chính, tín
dụng và chấp hành luật pháp. Vì vậy để kinh doanh đạt hiệu quả mong
muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải phân tích hoạt động kinh
doanh của mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới,
vạch ra chiến lược phù hợp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình
tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện
tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó có giải pháp hữu hiệu để ổn định và
tăng cường tình hình tài chính.
Phân tích tình hình tài chính chính là công cụ cung cấp thông tin
cho các nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vay mỗi đối tượng quan tâm đến
tài chính doanh nghiệp trên góc độ khác nhau để phục vụ cho lĩnh vực quản
lý, đầu tư của họ. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là
công việc làm thường xuyên không thể thiếu trong quản lý tài chính doanh
nghiệp, nó có ý nghĩa thực tiễn và là chiến lược lâu dài. Chính vì tầm quan
trọng đó em chọn đề tài “ Phân tích tình hình tài chính tại công ty Cổ Phần
Phát Triển Nhà Thủ Đức ’’ để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
) !
Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào
đi nữa cũng còn tiềm ẩn những khả năng tiềm tàng chưa phát hiện được, chỉ
thông qua phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mới có thể phát hiện để
67-8//, %9:&
'6;<= #>?"#&:#0
'' 6;<"#&:#0
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức
giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và
góp phần tích luỹ vốn. Nội dung của những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi
tài chính doanh nghiệp bao gồm:
@A#0BCD##0 E9-&E:
Mối quan hệ kinh tế này được thể hiện: trong quá trình hoạt động kinh
doanh các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật
định và ngược lại nhà nước cũng có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanh
nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của mình.
@A#0BCD##0 &F>G:
Kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đều được
thực thi thông qua hệ thống thị trường: Thị trường hàng hoá tiêu dùng, thị
trường hàng hoá tư liệu sản xuất, thị trường tài chính…và do đó, với tư cách
là người kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp không thể tách rời hoạt
động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố của hoạt
động kinh doanh, người bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ; đồng thời vừa
là người tham gia huy động và mua, bán các nguồn tài chính nhàn rỗi của xã
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
hội.
@A#0BC>HIH#0J:
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng,
tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán.
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong
quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương,
tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ
hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả
năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng trong các chức
năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích là quá trình nhận thức
hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức
quản lý, nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh
doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh.
Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công
tác quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình
hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét
việc cho vay vốn…
)*0 "#9:&:#0
Với những ý nghĩa trên nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính gồm:
Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân bổ
vốn, nguồn vốn có hợp lý hay không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng thừa, thiếu vốn.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của xí nghiệp, tình
hình chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của nhà nước.
Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn.
Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác
khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
*7&/0 &9:&:
*'O&/0P>9:
*''6;9$.BC
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài
chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một
phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã
đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán
các khoản nợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước ).
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông
qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài
sản lưu động, tài sản cố định.
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và
các khoản phải trả.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.
*')6;IBCT;B#
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của
doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động
khác; tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải
nộp khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 2 phần chính:
Phần 1: Lãi, lỗ. Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh
nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác
Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: phản ánh tình
hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về: Thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải nộp khác.
*'*6;I/UV%0
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp.
tiền vào mà doanh nghiệp sử dụng để giải quyết những chênh lệch về ngân
quỹ phát sinh ra do những hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Thí dụ,
đi vay vốn (dòng tiền vào) thì trả nợ (dòng tiền ra). Hay khi doanh nghiệp
vay vốn dài hạn, sẽ thu ngay một lượng tiền lớn và sẽ trả dần trong một
khoản thời gian dài. Các dòng tiền xuất phát từ các nghiệp vụ này đặc biệt
phù hợp với những doanh nghiệp có chương trình đầu tư. Ngược lại, khi
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi, có thể cho vay ngắn hạn hay dài hạn, trong
thời gian chưa cần số tiền đó.
*'46;UCI&:
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình
hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác
không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính
xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng.
Các chính sách kế toán áp dụng.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế
toán.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh.
Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển
tiền tệ
*). P>9:
*)'--
So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong PTKD.
- Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
- Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính toán.
- Phải cùng một đơn vị đo lường.
Khi so sánh về mặt không gian: yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần
phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như
nhau.
*)'*L[,--
Ðể đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, người ta thường sử dụng các kỹ
thuật so sánh sau:
\-I] U0$. :
+ Số tuyệt đối: là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu
kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế. Nó là cơ sở để tính
toán các loại số liệu khác.
+ So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh
tế kỳ phân tích so với kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối
lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế.
\
-
I]
Số tương đối hiệu suất: là kết quả so sánh giữa hai tổng thể
khác nhau nhằm đánh giá tổng quát chất lượng sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
\-I] IfT9:
Số bình quân là biểu hiện đặc trưng chung về mặt số lượng, san bằng
mọi chênh lệch giữa các chỉ số của đơn vị để phản ánh đặc điểm tình hình
của bộ phận hay tổng thể hiện có cùng tính chất., qua so sánh số bình quân,
đánh giá tình hình biến động chung về mặt số lượng, chất lượng, phương
hướng phát triển và vị trí giữa các doanh nghiệp. Khi sử dụng so sánh bằng
số bình quân phải chú ý đến tính chặt chẽ của số bình quân.
\
-
b
%
( : là so sánh để thấy được tỷ trọng của
từng loại trong tổng thể ở mỗi bảng báo cáo
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 13
Tổng thể chất lượng
Số tương đối hiệu suất =
Tổng thể số lượng
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ ảnh hưởng của
các nhân tố khác. Muốn vậy có thể thực hiện bằng hai cách sau đây:
Cách thứ nhất: Có thể dựa vào phép thay thế sự ảnh hưởng lần lượt
từng nhân tố và được gọi là phương pháp “Thay thế liên hoàn”.
Cách thứ hai: Có thể đưa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân
tố và được gọi là phương pháp “Số chênh lệch”.
*)''#UC/&
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Với phương pháp “thay thế liên hoàn”, chúng ta có thể xác định được
ảnh hưởng của các nhân tố thông qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp các
nhân tố để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Khi thực hiện
phương pháp này cần quán triệt các nguyên tắc sau:
Thiết lập mối quan hệ toán học của các nhân tố ẩnh hưởng với chỉ tiêu
phân tích theo một trình tự nhất định, từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất
lượng; trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hay chất lượng thì nhân
tố chủ yếu xếp trước đến nhân tố thứ yếu.
Lần lượt thay thế, nhân tố lượng được thay thế trước rồi đến nhân tố chất;
nhân tố được thay thế thì lấy giá trị thực tế, nhân tố chưa được thay thế thì
giữ nguyên kỳ gốc; nhân tố đã được thay thế thì lấy giá trị thực tế, cứ mỗi
lần thay thế tính ra giá trị của lần thay thế đó; lấy kết quả tính được trừ đi kết
quả lần thay thế trước nó ta xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó
(kết quả lần thay thế trước của lần thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc).
Tổng đại số mức ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng đối tượng phân tích
(là số chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc).
Có thể cụ thể các nguyên tắc trên thành các bước như sau:
Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: là mức chênh lệch giữa chỉ tiêu kỳ
phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc. Nếu Gọi 'là chỉ tiêu kỳ phân tích và `
là chỉ tiêu kỳ gốc thì đối tượng phân tích được xác định là: '+`QΔ
Bước 2: Thiết lập mối quan của các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phân
kỳ gốc của từng nhân tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu
phân tích:
+ Ảnh hưởng của nhân tố a1Qc#'+#`dI``
+ Ảnh hưởng của nhân tố b1Q#'cI'+I`d`
+ Ảnh hưởng của nhân tố c1Q#'I'c'+`d
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
4H9:ff&:
4'9:BTff&-;J ."##
0T#_
4''9:ff&-;J .
4'''BT %&-; &J .
Đánh giá khái quát về vốn (tài sản) và nguồn vốn là căn cứ vào
các số liệu phản ánh trên bảng cân đối kế toán để so sánh tổng tài sản và
tổng nguồn vốn giữa cuối kỳ với đầu kỳ để thấy được quy mô vốn mà
đơn vị sử dụng trong kỳ cũng như khả năng sử dụng vốn từ các nguồn vốn
khác nhau của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng giảm tổng số tài sản và tổng
số nguồn vốn thì chưa thể thấy rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp
được. Vì vậy cần phải phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng
cân đối kế toán
4'')9:.T#0D#&-; &J .
Theo quan điểm luân chuyển vốn thì toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
gồm Tài sản lưu động và Tài sản cố định được hình thành chủ yếu từ nguồn
vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp. Quan hệ cân đối được thể hiện bằng công
thức:
O\RO\7QhiKj7k\l
( Vế trái) ( Vế phải)
Nhưng quan hệ này chỉ mang tính lý thuyết, không thể nào nguồn vốn
chủ sở hữu có đầy đủ để trang trãi cho các tài sản cần thiết phục vụ cho quá
/9
/
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 18
Ouq\svwhKuOvhxyROuq\s7jzKu
Ov{uqyQ|sqOosRKj7k\l
O}hOuq\sQ|sqOosRKj7k\l
Tài sản
lưu động
Nợ ngắn hạn
Vốn dài hạn
Tài sản
cố định
Tài sản
lưu động Nợ ngắn hạn
Tài sản
cố định
Vốn dài hạn
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
F
N#1 một cách tổng quát thì vốn luân lưu là khoản chênh
lệch giữa sử dụng vốn và nguồn vốn cùng thời gian sử dụng do các giao
dịch tài chính trong kỳ kinh doanh gây ra.
7~!1
Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp là nguồn vốn mà doanh
nghiệp có thể sử dụng trong một thời gian dài hơn một năm. Nguồn vốn
dài hạn bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn khác.
K./9/r`
được biểu hiện qua việc phân bổ và sử dụng vốn phải hợp lý, phân bổ hợp
lý sẽ dễ dàng cho việc sử dụng cũng như mang lại hiệu quả cao, cũng
chính vì thế nhận xét khái quát về quan hệ kết cấu và biến động kết cấu trên
bảng cân đối kế toán sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá kết cấu tài chính
hiện hành có biến động phù hợp với hoạt động doanh nghiệp hay không
4'')'9:BC<&-;
Phân tích kết cấu tài sản là việc so sánh tổng hợp số vốn cuối kỳ
với đầu năm ngoài ra ta còn phải xem xét từng khoản vốn (tài sản) của
doanh nghiệp chiếm trong tổng số để thấy được mức độ đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích kết cấu tài sản ta sẽ phải lập bảng phân tích tình hình phân
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
bổ vốn. Trên bảng phân tích này ta lấy từng khoản vốn (tài sản) chia cho
tổng số tài sản sẽ biết được tỉ trọng của từng khoản vốn chiếm trong tổng số
là cao hay thấp. Tuỳ theo từng loại hình kinh doanh mà ta xem xét. Nếu là
doanh nghiệp sản xuất phải có lượng dự trữ về nguyên liệu đầy đủ với nhu
cầu sản xuất, nếu là doanh nghiệp thương mại phải có lượng hàng hoá đủ để
cung cấp cho nhu cầu bán ra kỳ tới
Đối với khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanh nghiệp
bị chiếm dụng vốn nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Khi phân tích kết cấu tài sản ta cần chú ý đến tỉ suất đầu tư. Tỉ
suất đầu tư nói lên kết cấu tài sản, là tỉ lệ giữa trị giá tài sản cố định và đầu
tư dài hạn so với tổng tài sản. Tỉ suất đầu tư cũng là chỉ tiêu thể hiện sự
khác nhau của bảng cân đối kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau về
đặc điểm, ngành nghề kinh doanh.
Tỉ suất này càng cao cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát triển
lâu dài.
4''))9:BC<J .
Ngoài việc phân tích tình hình phân bổ vốn, các chủ doanh nghiệp, kế
Tổng số nợ được xác định bằng tổng số nợ phải trả ở phần
nguồn vốn
trong bảng cân đối kế toán.
Tổng số vốn được xác định là số vốn mà doanh nghiệp đang có
quyền quản lý và sử dụng
Hệ số nợ dùng để đo lường sự góp vốn của chủ doanh nghiệp so với số nợ
vay. Các chủ nợ rất ưa thích hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp món nợ
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 22
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
Tổng số vốn
K."-8D
O^-<$S&>5Q •'``a
O€&-;
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
của họ càng được đảm bảo thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp bị phá
sản. Khi hệ số nợ cao có nghĩa là chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần vốn
nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong kinh doanh chủ yếu do chủ nợ gánh
chịu.
4)')0 #/• #U
Hệ số này cho biết số vốn mà doanh nghiệp đi vay được sử dụng như thế
nào để đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu và có đủ bù đắp tiền lãi
vay hay không.
7~!::
O>$‚1
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) phản ánh số tiền mà doanh
nghiệp có thể sử dụng để trả lãi vay trong năm.
Lãi vay là số tiền lãi nợ vay trong năm mà doanh nghiệp phải trả có thể
Tỉ số thanh toán hiện thời lớn hơn hoặc bằng 2(>=2) chứng tỏ sự
bình thường trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Khi giá trị tỉ số này
giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp đã giảm và cũng là
dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng. Tuy nhiên, khi tỉ số
này có giá trị quá cao, thì có nghĩa là doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài
sản lưu động hay, đơn giản là việc quản trị tài sản lưu động của doanh
nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay có quá nhiều
nợ phải đòi Do đó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
4)))Oe ##cL
d
Tỉ số này cho biết khả năng thanh khoản thực sự của doanh nghiệp và được
tính toán dựa trên các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền
để đáp ứng những yêu cầu thanh toán cần thiết.
Tỉ số thanh toán nhanh được
tính theo công thức:
Hệ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao.
Tuy nhiên, hệ số quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động,
tập trung quá nhiều vào vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản phải
thu có thể không hiệu quả.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 24
O&-;ƒ„&JB
Oe ##Q
5ƒ
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
4)*9:ff&:~T#e $H
4)*'\. ?T#UJB
Tỉ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của
các loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu.
Tỉ số này được tính theo
Số vòng quay tồn kho =
Trị giá hàng hoá tồn kho bình quân
Các khoản phải thu
Kì thu tiền bình quân = x 360
Doanh thu thuần