Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
A. Lý do, mục tiêu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu
của đề tài
1. Lý do chọn đề tài
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng
vốn nhất định bao gồm: vốn lưu động, vốn cố định và vốn chuyên dùng
khác. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức, huy động và sử dụng vốn
sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về tài chính, tín
dụng và chấp hành luật pháp. Vì vậy để kinh doanh đạt hiệu quả mong
muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải phân tích hoạt động kinh
doanh của mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới,
vạch ra chiến lược phù hợp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình
tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện
tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó có giải pháp hữu hiệu để ổn định và
tăng cường tình hình tài chính.
Phân tích tình hình tài chính chính là công cụ cung cấp thông tin
cho các nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vay... mỗi đối tượng quan tâm đến
tài chính doanh nghiệp trên góc độ khác nhau để phục vụ cho lĩnh vực quản
lý, đầu tư của họ. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là
công việc làm thường xuyên không thể thiếu trong quản lý tài chính doanh
nghiệp, nó có ý nghĩa thực tiễn và là chiến lược lâu dài. Chính vì tầm quan
trọng đó em chọn đề tài “ Phân tích tình hình tài chính tại công ty Cổ Phần
Phát Triển Nhà Thủ Đức ’’ để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào
đi nữa cũng còn tiềm ẩn những khả năng tiềm tàng chưa phát hiện được, chỉ
thông qua phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mới có thể phát hiện để
B. Cơ sở lý luận về phân tích tài
1. Bản chất & vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức
giá trị (quan hệ tiền tệ) phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và
góp phần tích luỹ vốn. Nội dung của những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi
tài chính doanh nghiệp bao gồm:
¾ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước:
Mối quan hệ kinh tế này được thể hiện: trong quá trình hoạt động kinh
doanh các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước theo luật
định và ngược lại nhà nước cũng có sự tài trợ về mặt tài chính cho các doanh
nghiệp để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của mình.
¾ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và thị trường:
Kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là các mối quan hệ kinh tế đều được
thực thi thông qua hệ thống thị trường: Thị trường hàng hoá tiêu dùng, thị
trường hàng hoá tư liệu sản xuất, thị trường tài chính…và do đó, với tư cách
là người kinh doanh, hoạt động của doanh nghiệp không thể tách rời hoạt
động của thị trường, các doanh nghiệp vừa là người mua các yếu tố của hoạt
động kinh doanh, người bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ; đồng thời vừa
là người tham gia huy động và mua, bán các nguồn tài chính nhàn rỗi của xã
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
hội.
¾ Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp gồm:
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng,
tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán.
Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong
quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương,
tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ
hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả
năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng trong các chức
năng quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích là quá trình nhận thức
hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức
quản lý, nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh
doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh.
Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công
tác quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình
hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét
việc cho vay vốn…
2.3. Nhiệm vụ của phân tích tài chính doanh nghiệp
Với những ý nghĩa trên nhiệm vụ phân tích tình hình tài chính gồm:
Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân bổ
vốn, nguồn vốn có hợp lý hay không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng thừa, thiếu vốn.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của xí nghiệp, tình
hình chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của nhà nước.
Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn.
Phát hiện khả năng tiềm tàng, đề ra các biện pháp động viên, khai thác
khả năng tiềm tàng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
3. Các tài liệu và phương pháp phân tích tài chính
3.1 Tài liệu dùng trong phân tích
3.1.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài
chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một
phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã
đăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toán
các khoản nợ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước...).
Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
+ Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp thông
qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn.
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp : tài
sản lưu động, tài sản cố định.
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và
các khoản phải trả.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp.
3.1.2. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp,
phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của
doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động
khác; tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải
nộp khác.
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 2 phần chính:
Phần 1: Lãi, lỗ. Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh
nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác
Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: phản ánh tình
hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về: Thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải nộp khác.
3.1.3. Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh
việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp.
tiền vào mà doanh nghiệp sử dụng để giải quyết những chênh lệch về ngân
quỹ phát sinh ra do những hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư. Thí dụ,
đi vay vốn (dòng tiền vào) thì trả nợ (dòng tiền ra). Hay khi doanh nghiệp
vay vốn dài hạn, sẽ thu ngay một lượng tiền lớn và sẽ trả dần trong một
khoản thời gian dài. Các dòng tiền xuất phát từ các nghiệp vụ này đặc biệt
phù hợp với những doanh nghiệp có chương trình đầu tư. Ngược lại, khi
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi, có thể cho vay ngắn hạn hay dài hạn, trong
thời gian chưa cần số tiền đó.
3.1.4. Bản thuyết minh các báo cáo tài chính
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình
hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác
không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính
xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.
Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng.
Các chính sách kế toán áp dụng.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế
toán.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh.
Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển
tiền tệ
3.2. Phương pháp dùng trong phân tích
3.2.1. Phương pháp so sánh
So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong PTKD.
- Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
- Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính toán.
- Phải cùng một đơn vị đo lường.
Khi so sánh về mặt không gian: yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần
phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như
nhau.
3.2.1.3. Kỹ thuật so sánh
Ðể đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, người ta thường sử dụng các kỹ
thuật so sánh sau:
So sánh bằng số tuyệt đối :
+ Số tuyệt đối: là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu
kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế. Nó là cơ sở để tính
toán các loại số liệu khác.
+ So sánh bằng số tuyệt đối: là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh
tế kỳ phân tích so với kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối
lượng, quy mô của các hiện tượng kinh tế.
So sánh bằng số t ươ ng đối : là trị số nói lên kết cấu mối quan
hệ tốc độ
phát triển và mức độ phổ biến của các chỉ tiêu kinh tế. Số tương
đối có nhiều loại tuỳ thuộc vào nội dung phân tích mà sử dụng cho thích
hợp.
Số tương đối kế hoạch: phản ánh bằng tỷ lệ %, là chỉ tiêu mức
độ mà xí nghiệp phải thực hiện.
Số tương đối phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch: Có hai cách
tính:
Tính tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch:
Tổng thể chất lượng
Số tương đối hiệu suất =
Tổng thể số lượng
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
So sánh theo ch i ều ngang: là quá trình so sánh để thấy được sự
biến đổi cả
về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các
kỳ liên tiếp
3.2.1. Phương pháp loại trừ
Trong phân tích kinh doanh, để có cơ sở đánh giá, nhận xét đúng thì
vấn đề quan trọng và rất được quan tâm nghiên cứu là các nguyên nhân và
nhân tố ảnh hưởng và lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
đến kết quả kinh doanh. Phương pháp thường được sử dụng để lượng hoá
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là phương pháp loại trừ.
Loại trừ là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của từng nhân
tố này thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác. Chẳng hạn, khi phân tích chỉ
tiêu tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm có thể quy về sự ảnh hưởng của hai
nhân tố:
Lượng hàng hoá bán ra được tính bằng đơn vị tự nhiên (cái, chiếc...) hoặc
đơn vị trọng lượng (tấn, tạ, kg...).
Giá bán ra của một đơn vị SP hàng hoá tiêu thụ được tính bằng đơn vị
tiền.
Cả hai nhân tố trên cùng đồng thời ảnh hưởng đến tổng doanh thu, nhưng để
xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ ảnh hưởng của
các nhân tố khác. Muốn vậy có thể thực hiện bằng hai cách sau đây:
Cách thứ nhất: Có thể dựa vào phép thay thế sự ảnh hưởng lần lượt
từng nhân tố và được gọi là phương pháp “Thay thế liên hoàn”.
Cách thứ hai: Có thể đưa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân
tố và được gọi là phương pháp “Số chênh lệch”.
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 15
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Bước 3:
Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ gốc theo trình tự sắp xếp ở
bước 2.
Thế lần 1: a1.b0.c0
Thế lần 2: a1.b1.c0
Thế lần 3: a1.b1.c1
Thế lần cuối cùng chính là các nhân tố ở phân tích được thay thế toàn bộ
nhân tố ở kỳ gốc. Như vậy có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu
lần thay thế.
Bước 4:
Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích bằng
cách lấy kết quả thay thế lần sau trừ đi kết quả lần thay thế trước nó ta xác
định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả lần thay thế trước của
lần thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc) cụ thể:
+ Ảnh hưởng của nhân tố a: a1.b0.c0 - a0.b0.c0 = ΔAa
+ Ảnh hưởng của nhân tố b: a1.b1.c0 - a1.b0.c0 = ΔAb
+ Ảnh hưởng của nhân tố c: a1.b1.c1 - a1.b1.c0 = ΔAc
Tổng đại số mức ảnh hưởng của các nhân tố: ΔAa + ΔAb + ΔAc = ΔA
3.2.1.2. Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch là trường hợp đặt biệt của phương pháp
thay thế liên hoàn, nó tôn trọng đầy đủ các bước tiến hành như phương pháp
thay thế liên hoàn. Nó khác ở chỗ sử dụng chênh lệch giữa kỳ phân tích với
kỳ gốc của từng nhân tố để xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu
phân tích:
+ Ảnh hưởng của nhân tố a: = (a1-a0) .b0.c0
+ Ảnh hưởng của nhân tố b: = a1.(b1 -b0) .c0
+ Ảnh hưởng của nhân tố c: = a1.b1.(c1-c0)
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 16
Trường hợp này thể hiện doanh nghiệp bị thiếu nguồn vốn để trang trải tài
sản, nên để quá trình kinh doanh không bị bế tắt, doanh nghiệp phải huy
động thêm vốn từ các khoản vay hoặc đi chiếm dụng vốn các đơn vị
khác dưới hình thức mua trả chậm, thanh toán chậm hơn so với thời hạn
phải thanh toán (nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán).
VẾ BÊN TRÁI < VẾ BÊN PHẢI
Trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu dư thừa để bù đắp cho tài sản, nên
thường bị các doanh nghiệp hoặc đối tượng khác chiếm dụng vốn dưới hình
thức bán chịu cho bên mua thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ... hoặc ứng trước
tiền cho bên bán, tài sản sử dụng để thế chấp, ký cược, ký quỹ...
Do tính chất cân đối của bảng cân đối kế toán là tổng số tiền
phần tài sản luôn luôn bằng tổng số tiền phần nguồn vốn. Nên quan hệ
cân đối được viết một cách đầy đủ như sau:
Nếu giả định
tổng tài sản tăng lên, về khái quát ta hiểu rằng phí nguồn vốn phải tăng một
khoản tương ứng; đó có thể là một khoản nợ đã tăng hoặc một khoản tăng
trong vốn chủ sở hữu.
Khi quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chủ doanh
nghiệp, kế toán trưởng và các đối tựong khác phải xem xét kết cấu vốn và
nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán để từ đó có thể đối chiếu với yêu cầu
kinh doanh hoặc khả năng huy động vốn, đầu tư vốn... Để hiểu rõ hơn ta
phân tích tiếp chỉ tiêu vốn luân lưu
V ốn l u ân lưu
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 18
TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN + TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ
ĐẦU TƯ DÀI HẠN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU
TỔNG TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU
Tài sản
lưu động
Nợ ngắn hạn
cố định
Vốn dài hạn
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
này khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay thì phải tìm ra nguồn vốn khác để
thay thế. Khi vốn luân lưu âm thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp là
rất kém, bởi vì chỉ có tài sản lưu động mới có thể chuyển thành tiền trong
thời gian ngắn để tài trợ, trong khi đó tài sản lưu động lại nhỏ hơn nợ ngắn
hạn.
Vốn luân lưu = 0 :
Nguồn vốn ngắn hạn bao gồm các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Vốn luân lưu là một chỉ tiêu rất quan trọng cho việc đánh giá tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết hai điều cốt yếu là: Tài sản cố
định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc hay không?
Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không?
Quá trình kinh doanh diễn ra thuận lợi hay không, có hiệu quả hay không
được biểu hiện qua việc phân bổ và sử dụng vốn phải hợp lý, phân bổ hợp
lý sẽ dễ dàng cho việc sử dụng cũng như mang lại hiệu quả cao, cũng
chính vì thế nhận xét khái quát về quan hệ kết cấu và biến động kết cấu trên
bảng cân đối kế toán sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá kết cấu tài chính
hiện hành có biến động phù hợp với hoạt động doanh nghiệp hay không
4.1.1.2.1. Phân tích kết cấu tài sản
Phân tích kết cấu tài sản là việc so sánh tổng hợp số vốn cuối kỳ
với đầu năm ngoài ra ta còn phải xem xét từng khoản vốn (tài sản) của
doanh nghiệp chiếm trong tổng số để thấy được mức độ đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích kết cấu tài sản ta sẽ phải lập bảng phân tích tình hình phân
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
bổ vốn. Trên bảng phân tích này ta lấy từng khoản vốn (tài sản) chia cho
Trong phân tích kết cấu nguồn vốn ta cũng đặc biệt chú ý đến tỉ suất
tự tài trợ (còn gọi là tỉ suất vốn chủ sở hữu). Chỉ số này sẽ cho thấy mức độ
tự chủ của doanh nghiệp về vốn, là tỉ lệ giữa vốn chủ sở hữu so với tổng
nguồn vốn
Tỉ suất này càng cao càng thể hiện khả năng tự chủ cao về mặt tài chính hay
mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp tốt
.
4.2. Phân tích tình hình tài chính qua các chỉ số tài chính
4.2.1. Phân tích tình hình tài chính qua các chỉ số cơ cấu tài chính
4.2.1.1. Hệ số nợ
Hệ số nợ (hay tỉ số nợ) là tỉ số giữa tổng số nợ trên tổng tài sản có của
doanh nghiệp.
Trong đó:
Tổng số nợ được xác định bằng tổng số nợ phải trả ở phần
nguồn vốn
trong bảng cân đối kế toán.
Tổng số vốn được xác định là số vốn mà doanh nghiệp đang có
quyền quản lý và sử dụng
Hệ số nợ dùng để đo lường sự góp vốn của chủ doanh nghiệp so với số nợ
vay. Các chủ nợ rất ưa thích hệ số nợ vừa phải, hệ số nợ càng thấp món nợ
SVTH: Đoàn Duy Quang Trang 22
Tổng số nợ
Hệ số nợ =
Tổng số vốn
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất đầu tư tài trợ = X 100 %
Tổng tài sản
Tỉ số thanh toán hiện thời =
Nợ ngắn hạn
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Tài s ản ngắn: là những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong
khoản
thời gian dưới một năm. Cụ thể bao gồm các khoản: tiền mặt, các khoản
tương đương tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu và tồn kho.
Nợ ngắn hạn : là toàn bộ các khoản nợ có thời hạn trả dưới một năm kể từ
ngày lập báo cáo. Cụ thể bao gồm: các khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ tích
luỹ và các khoản nợ ngắn hạn khác.
Tỉ số thanh toán hiện thời lớn hơn hoặc bằng 2(>=2) chứng tỏ sự
bình thường trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Khi giá trị tỉ số này
giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp đã giảm và cũng là
dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng. Tuy nhiên, khi tỉ số
này có giá trị quá cao, thì có nghĩa là doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài
sản lưu động hay, đơn giản là việc quản trị tài sản lưu động của doanh
nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay có quá nhiều
nợ phải đòi... Do đó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
4.2.2.2. Tỉ số thanh toán nhanh (K
N
)
Tỉ số này cho biết khả năng thanh khoản thực sự của doanh nghiệp và được
tính toán dựa trên các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi nhanh thành tiền
để đáp ứng những yêu cầu thanh toán cần thiết.
Tỉ số thanh toán nhanh được
tính theo công thức:
Hệ số này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán nhanh càng cao.
Tuy nhiên, hệ số quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động,
tập trung quá nhiều vào vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn hoặc các khoản phải
thu... có thể không hiệu quả.
Các khoản phải thu
Kì thu tiền bình quân = x 360
Doanh thu thuần