MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ, NHÌN
TỪ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Hoàng Chí Bảo
GS.TS Triết học,
Hội đồng Lý luận Trung ương
_____
Kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực trọng yếu nhất của đời sống xã hội. Đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị cũng là những nội dung quan trọng và nổi bật nhất trong
tiến trình đổi mới ở nước ta trong hơn 20 năm nay và chắc chắn còn diễn ra lâu dài về
sau.
Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những mối
quan hệ cốt lõi, chẳng những thuộc về lý luận đổi mới, phát triển và hiện đại hoá xã
hội mà còn là nội dung hợp thành lý luận chủ nghĩa xã hội Việt Nam và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hiểu đúng thực chất và giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong thực tiễn là vấn đề phức tạp,
khó khăn nhất.
1- Tình hình kinh tế và chính trị nước ta trước đổi mới (75-85)
Sau giải phóng miền Nam (30-4-1975), Tổ quốc đã thống nhất, cả nước cùng
quá độ tới chủ nghĩa xã hội. Đại hội IV của Đảng (1976) đã thông qua Nghị quyết
quan trọng về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
cả nước, bao gồm đường lối chung và đường lối xây dựng phát triển kinh tế.
Các văn kiện Đại hội nhấn mạnh tới những quan điểm lớn có tác dụng chỉ đạo
và định hướng phát triển đất nước như xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng quan hệ sản xuất đi
trước một bước, xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến để mở đường cho lực lượng
sản xuất phát triển. Cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt và công nghiệp hoá là
nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ. Đại hội IV (và tiếp theo là Đại hội V vào năm
1981) còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cách mạng tư tưởng văn hoá nhằm xây dựng
con người mới, lối sống mới xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng lý tưởng, thực hiện
chế độ làm chủ tập thể, coi đó là mục tiêu, động lực của phát triển, thể hiện bản chất
ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Kèm theo đó là một hệ thống chỉ tiêu phát triển để phấn
trước đổi mới là một giai đoạn hết sức khó khăn, phức tạp với không ít tình huống nảy
sinh ngoài ý muốn, nhưng xét kỹ ra đó cũng lại chính là hệ quả của những sai lầm,
2
khuyết điểm nghiêm trọng do chính chúng ta mắc phải. Phải nhận rõ điều này để hiểu
đúng những nguyên nhân, cắt nghĩa đúng lý do phải đổi mới và tầm vóc của quyết
sách chiến lược đổi mới do Đảng ta khởi xướng ở Đại hội VI (1986).
Có thể nêu vắn tắt mấy điểm dưới đây:
- Hai cuộc chiến tranh liên tiếp ở biên giới Tây Nam (1978) và phía Bắc (1979)
tuy không dài nhưng hậu quả rất nặng nề về nhiều mặt mà phải mất nhiều năm sau
nước ta mới bình thường hoá được quan hệ với Campuchia và Trung Quốc.
- Mỹ và phương Tây bao vây cấm vận đối với nền kinh tế nước ta, đặt nước ta
vào một tình thế rất khó khăn.
- Nền kinh tế trong nước sa sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân, nhất là các
tầng lớp cơ bản rất khó khăn do lạm phát và khủng hoảng, đặc biệt là từ khi tổng điều
chỉnh giá - lương – tiền vào năm 1985. Bên thềm của đổi mới, lạm phát “phi mã” tới 3
con số (776%), giá cả leo thang, hàng hoá khan hiếm, sản xuất trì trệ, đình đốn, lưu
thông phân phối ách tắc và rối loạn, tình trạng người lao động thiếu việc làm và thất
nghiệp là phổ biến. Vào lúc đó, đã từng có nhận định rằng, nền kinh tế nước ta đã
đứng trên bờ vực thẳm của sự sụp đổ.
Hầu hết các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội mà Đại hội IV đề ra đã không
thực hiện được. Chỉ tiêu 21 triệu tấn lương thực, phải nhiều năm sau, khi đất nước đi
vào đổi mới, tháo dỡ được các rào cản từ cơ chế bao cấp, phân phối bình quân, các
quy định trái tự nhiên, kìm hãm sản xuất - lưu thông - phân phối theo kiểu “ngăn sông
cấm chợ” mới thực hiện được.
Với kinh tế kế hoạch hoá tập trung và phương thức quản lý tập trung quan liêu,
hành chính mệnh lệnh, bao cấp và bình quân, làm trái quy luật, mang nặng tính chủ
quan duy ý chí, chúng ta đã tạo ra tình trạng thừa – thiếu giả tạo cả trong sản xuất và
tiêu dùng. Kinh tế nhà nước, khu vực quốc doanh trong một thời gian dài rơi vào tình
cảnh “lãi giả lỗ thật”. Kinh tế tập thể, các hợp tác xã, nhất là ở miền Nam với chủ
trương cải tạo xã hội chủ nghĩa và tập thể hoá một cách nhanh chóng đã đổ vỡ hàng
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng đó. Những sai lầm, khuyết điểm
trong lãnh đạo, quản lý đã phải trả giá bằng cuộc khủng hoảng đó nhưng cũng qua đó
mới có thể làm cho chúng ta giác ngộ ra điều hệ trọng này: đổi mới hay là chết, tồn tại
hay không tồn tại? Thực tế 10 năm trước Đổi mới làm sáng tỏ mấy điều cốt yếu sau
đây:
Thứ nhất, khi cách mạng chuyển giai đoạn cần có đột phá, thì trước hết cần phải
đột phá về lý luận. Một lý luận đúng đắn sáng tạo, dẫn đường cho sự phát triển phải là
lý luận được phát hiện từ trong thực tiễn, được thực tiễn kiểm chứng, lại cũng từ thực
tiễn mà thúc đẩy tìm tòi lý luận mới chứ không phải lý luận cứng nhắc, bám vào sách
4
vở, lệ thuộc giáo điều. Đổi mới đòi hỏi phải “làm mới” và hiện đại hoá lý luận. Đổi
mới đòi phải có lý luận về Đổi mới.
Thứ hai, khi tình hình mới, nhiệm vụ mới và yêu cầu phát triển mới đã xuất
hiện, đòi hỏi phải nhanh chóng thích ứng và kịp thời thay đổi cách nhìn, cách tổ chức
và cách hành động. Chỉ dẫn của Lênin là còn nguyên giá trị: không thể giải quyết
nhiệm vụ của ngày hôm nay bằng kinh nghiệm, hiểu biết của ngày hôm qua. Kéo dài
một cái hợp lý đã đến độ tới hạn của nó, lập tức nó trở thành cái phi lý, không được
cuộc sống chấp nhận. Khuyết điểm chẳng qua chỉ là sử dụng ưu điểm một cách quá
mức cần thiết.
Thứ ba, nền kinh tế hiện vật, kế hoạch, phi hàng hoá, phi thị trường là không
thể có triển vọng. Hơn thế nữa, còn không thể tồn tại được vì nó trái quy luật. Một nền
kinh tế mà không có động lực kinh tế thúc đẩy, không được quản lý bằng những công
cụ, những phương tiện mang sức mạnh tất yếu kinh tế, lại không mở cửa, hợp tác,
cạnh tranh với thế giới bên ngoài là nền kinh tế thiếu sức sống từ bên trong. Nó thiếu
điều kiện cho tăng trưởng và phát triển, do đó suy thoái, lạm phát, khủng hoảng là tất
yếu. Cùng với kinh tế, nền chính trị nước ta, nhất là hệ thống tổ chức bộ máy, phương
thức và phương pháp hoạt động vốn chỉ phù hợp với giai đoạn trước, lãnh đạo, quản
lý, điều hành trong chiến tranh lẽ ra phải kịp thời thay đổi thì lại giữ nguyên như cũ,
chẳng những không thúc đẩy mà còn kìm hãm phát triển. Do đó, để đổi mới kinh tế thì
phải đổi mới chính trị cho tương thích, phải dân chủ hoá để phát triển.
quan trọng và quyết định cuối cùng chứ không phải là nhân tố duy nhất quyết định.
- Tách rời tư tưởng với lợi ích thì tư tưởng sẽ bị mất tín nhiệm, nghĩa là tự nó
làm nhục bản thân nó (“Gia đình thần thánh”, 1845).
- Nhà nước chuyên chính vô sản sẽ còn có tác dụng gì nữa, một khi nó trở nên
bất lực trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế. Đặc biệt là Lênin, từ kinh nghiệm
thực tiễn của cách mạng Tháng Mười Nga và những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội của nước Nga Xô Viết, ông đã nêu lên những luận đề có tính tổng kết rất sâu sắc
về vai trò của kinh tế, của chính trị và quan hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau.
Theo Lênin, kinh tế quyết định chính trị đồng thời chính trị không hề thụ động
mà tác động trở lại đối với kinh tế. Trên một ý nghĩa nào đó mà xem xét thì chính trị
cũng quyết định kinh tế. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị là kinh
tế cô đọng lại. Chính trị không thể không giữ vị trí ưu tiên hàng đầu khi nó quyết định
phương hướng phát triển kinh tế.
Cũng theo Lênin, chính trị có lôgíc khách quan của nó và chính trị cũng còn có
6
lôgíc chủ quan của nó nữa.
Sự thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau giữa kinh tế và chính trị đến mức mà
Lênin nhận xét rằng, khi đi vào xây dựng kiến thiết chủ nghĩa xã hội ở nước Nga thì
nhiệm vụ nổi bật ở hàng đầu là phát triển kinh tế. Bởi thế, cái chính trị quan trọng
nhất, có ý nghĩa nhất, lý thú nhất lúc này (tức thời điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội,
cải cách kinh tế - xã hội với NEP) là làm kinh tế.
Đối với những người lao động xây dựng xã hội mới, vấn đề không dừng lại ở
những lời hô hào, động viên và tuyên truyền, cùng với những điều đó, phải quan tâm
đem lại lợi ích chính đáng, thiết thực hàng ngày của họ, là đem lợi ích đến cho họ.
Việc áp dụng các đòn bẩy kinh tế, tạo động lực thúc đẩy hoạt động kinh tế và đem lại
lợi ích cho người lao động - đó là điều hết sức cần thiết để giữ vững chế độ, mà trong
NEP, Lênin nói rằng, thông qua việc áp dụng NEP, chủ nghĩa xã hội sẽ định hình là
một chế độ hợp tác của những người lao động, văn minh.
Với lôgíc kinh tế quyết định chính trị thì cải cách, đổi mới phải bắt đầu từ đâu?
Phải bắt đầu từ đổi mới kinh tế, đồng thời đổi mới chính trị cho phù hợp, cho tương