Bài Luận
Đề Tài:
Chiến lược kinh doanh và phát triển
sản phẩm Men’vodka
SVTH: Lê Anh Đức
Lời giới thiệu
Gia nhập WTO nền kinh tế nước ta đang hoà nhập và phát triển, tất cả các
nghành nghề đều đang tạo được thế và lực mới, những sản phẩm và dịch vụ mới
gia đời đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Hiện nay nhà nước ta đang có
chính sách khuyến khích nhiều ngành phát triển để cạnh tranh với các sản phẩm
đến từ các nước trên thế giới, trong đó có ngành rượu bia nước giải khát.
Công ty cổ phần Hương Vang là một công ty hoạt động trong lĩnh vực
rượu bia nước giải khát, trong đó sản phẩm chủ đạo của công ty là sản phẩm
Men’vodka. Sản phẩm vodka của công ty đã bước đầu thâm nhập vào thị trường
tuy nhiên để phát triển sản phẩm này công ty chỉ có định hướng mà chưa có một
chiến lược cụ thể lâu dài để phát triển sản phẩm này.
Được nhà trường cử đi thực tập tốt nghiệp cuối khoá em đã xin vào thực
tập và làm việc tại công ty cổ phần Hương Vang, qua thời gian thực tập và làm
việc tại công ty được sự hướng dẫn của thầy giáo hướng dẫn em đã lựa chọn đề
tài: “Chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm Men’vodka”, vì đây là
vấn đề có tính cấp thiết với công ty và gần với chương trình học của em.
Trong quá trình thực tập và làm bài em đã được sự hướng dẫn tận tình của
thầy hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Mạnh Quân và của ban lãnh đạo công ty cổ
phần hương vang em xin chân thành cảm ơn thày và quý cơ quan.
Sinh viên
Lê Anh Đức
1. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH RƯỢU BIA NƯỚC GIẢI
KHÁT Ở NƯỚC TA VÀ TẠI CÔNG TY AROWINE.
1.1 kết qua hoạt động sản xuất kinh doanh ngành rượu bia nước giải
khát của nước ta trong 10 năm trở lại đây và phương hướng phát triển của
ngành trong những năm tới.
Từ chỗ năm 1938 có Nhà máy nước khoáng Vĩnh Hảo và 1952 có Nhà
máy nước ngọt Chương Dương, thì nay có 204 cơ sở sản xuất nước giải khát,
với năng lực 1008 triệu lít/năm. Năm 1999 sản xuất trên 460 triệu lít. Bình quân
tiêu thụ 5 lít/người/năm. Trong đó: nước ngọt pha chế 3,35 lít (chủ yếu là Coca -
Cola và Pepsi - Cola), nước khoáng và nước tinh lọc 1,49 lít và nước quả 0,16
lít.
Rõ ràng sự phát triển nhanh của ngành Rượu Bia Nước giải khát đó đáp
ứng yêu cầu của người tiêu dùng do kinh tế phát triển và nước ta lại có khí hậu
nhiệt đới nóng nhiều. Nó còn đẩy lùi hàng ngoại tràn vào, như bia Trung Quốc
và nhập khẩu tuy cũn nhưng sản lượng ít hơn.
1.1.1.2 Ngành đó được đầu tư cơ sở vật chất tương đối lớn với gần 10
ngà n tỷ đồng, nhiều cơ sở có thiết bị công nghệ hiện đại, tạo ra những sản phẩm
có tín nhiệm với người tiêu dùng trong cả nước hoặc khu vực, như: bia 333, bia
Hà Nội, Heineken, Halida, Carlsberg, Sanmiguel, Huda nước ngọt Coca-Cola,
Pepsi-Cola, nước khoáng Vĩnh Hảo, Lavie, Đảnh Thạnh, Thạch Bích, rượu Nếp
mới, Vang Thăng Long
1.1.1.3 Ngành hoạt động có hiệu quả, mỗi năm đóng góp cho ngân sách
Nhà nước trên 3000 tỷ đồng, giải quyết cho trên 2 vạn người có việc làm ổn
định trong các cơ sở sản xuất. Ngoài ra, còn hàng vạn người tham gia các hoạt
động cung ứng vật tư, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm.
Rượu Bia Nước giải khát phát triển cũn gúp phần thúc đẩy các ngành
khác phát triển như: nông nghiệp, giao thông, cơ khí, bao bỡ
Có đ ược những thành tựu trên nhờ có đường lối đổi mới, kinh tế-xã hội
đất nước phát triển, sản xuất kinh doanh rượu bia nước giải khát lại có hiệu quả,
nên các thành phần kinh tế tích cực đầu tư phát triển.
Hai nhà máy bia Trung ương (Sà i Gũn và Hà Nội) sản xuất đó vượt công
suất tới 107% vẫn không đủ sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Nhiều quốc doanh rượu bia nước giải khát chủ lực của địa phương cũng đầu tư
phát triển khá như Công ty Bia Hải Dương, Quảng Ninh, Hà Tây, Thái Bình,
Rượu Đồng Xuân (Phú Thọ), Vang Thăng Long (Hà Nội) v.v
và trả nợ ngân hàng. các nhón hiệu bia Kaiser, Nager, Henninger, Viger,
Habada, Nada, Vida, Timer, Beyker là hậu quả của những đầu tư sai, mà khi
xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật chắc rằng đều kết luận là có hiệu quả
cao!!! còn hiện nay đang khó khăn, chưa có hướng giải quyết.
Nhiều người cho rằng sản xuất rượu bia nước giải khát hiện nay dễ tiêu
thụ, không phải hoàn toàn vậy. Hãy xem các Nhà máy bia liên doanh, có thiết bị
công nghệ tiên tiến, sản phẩm có chất lượng của những hãng có tên tuổi, quảng
cáo liên tục, đội ngũ tiếp thị đông đảo nhưng tiêu thụ không mạnh, nên công
suất phát huy thấp, mới đạt chưa đ ược 50% công suất thiết kế. Vì vậy 13 liên
doanh được cấp phép, nhưng mới 6 liên doanh bia hoạt động. Liên doanh bia Hà
Tây cũng mới xây dựng nhà xưởng để lâu chưa lắp máy. Một số liên doanh quá
lỗ, như BGI Tiền Giang, BGI Đà Nẵng phải bán cho hóng Foster's (úc) thành
100% vốn nước ngoài, còn BGI Hải Phũng phải rút giấy phép đầu tư, liên doanh
bia Khánh Hoà cũng thành 100% vốn nước ngoài và mang tên Rồng Vàng -
Khánh Hoà.
Bia địa phương và của các thành phần kinh tế bình quân cũng chỉ đạt 62%
công suất thiết kế.
Sản xuất rượu công nghiệp sử dụng công suất còn thấp hơn, chỉ đạt
38,45% (quốc doanh 30%, các thành phần kinh tế 56%, liên doanh 4%).
Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu là rượu dân tự nấu quá nhiều, giá thấp do
không nộp thuế, rượu quốc doanh, liên doanh chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá
cao, nên không cạnh tranh nổi, lại bị rượu ngoại nhập lậu chèn ép.
Với nước ngọt pha chế mới đ ạt 45% và nước khoáng, nước tinh lọc đạt 43%
công suất thiết kế, trừ công ty Nước giải khát Chương Dương và nước khoáng
Lavie đ ạt cao trên 90%.
Hai hóng cú vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 60% thị phần nước giải khát
có gaz là Coca-Cola và Pepsi-Cola cũng chỉ mới đạt 40% công suất thiết kế.
Do phát huy công suất thấp, nên doanh thu thấp, lợi nhuận và nộp ngân sách bị
hạn chế.
Chất lượng sản phẩm kém, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng là
quản lý ngành còn lỏng lẻo, chưa có quy hoạch tổng thể phát triển ngành, để
phát triển tràn lan, phê duyệt luận chứng đầu tư của các nhà máy địa phương
chưa chặt chẽ nên khi bị thua lỗ mới kiến nghị Chính phủ và các Bộ, ngành hỗ
trợ xử lý. Công tác kiểm tra, xử lý các cơ sở không bảo đảm vệ sinh an toàn thực
phẩm và môi trường thiếu kiên quyết. Với rượu dân tự nấu là buông thả quản lý.
Từ trước đây, ngày 27/10/1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đó ký Pháp lệnh quy định
cấm nấu rượu trái phép. Vậy mà đến nay Pháp lệnh này không được tổ chức
quản lý chặt chẽ, để rượu dân tự nấu ngang nhiên sản xuất và tự do vận chuyển,
tiêu thụ, không một cơ quan nào thu thuế, quản lý, xét hỏi.
Về chính sách thuế cũng nên nghiên cứu, xem xét lại. Ví dụ bia hơi hiện
tại đó giảm xuống cũn 50%, nhưng vẫn cũn cao, nên địa phương và các thành
phần kinh tế không theo được, dẫn đến: treo, nợ thuế và khai giảm sản lượng để
trốn lậu thuế. Nếu đưa xuống 25% và yêu cầu thu đủ của mọi đối tượng, chắc
chắn mức thu nộp ngân sách còn cao hơn.
Với thuế rượu cũng tương tự và thu cả với rượu dân tự nấu, có chính sách
quản lý vận dụng riêng. Khi rượu sản xuất công nghiệp giảm thuế xuống, rượu
dân tự nấu có thuế, giá cả hai loại rượu gần ngang sát nhau. Đồng thời kết hợp
với tuyên truyền, hướng dẫn người tiêu dùng không nên uống rượu tự nấu có
nhiều độc hại. Khi đó rượu công nghiệp có điều kiện phát triển và người dân
được uống loại rượu bảo đảm sức khoẻ hơn.
Tóm lại sự phát triển rượu bia nước giải khát thời gian qua rất nhanh
chóng, trở thành một ngành công nghiệp đồ uống, đáp ứng yêu cầu của người
tiêu dùng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội. Song những mặt hạn chế, tiêu cực
sớm được tổ chức quản lý khắc phục trong Chiến lược Quy hoạch tổng thể phỏt
triển ngành đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, chắc chắn ngành cũn
đóng góp to lớn hơn trong sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đ ại hoá đất nước
1.1.3 Quy hoạch tổng thể và một số giải pháp phát triển ngành Rượu-
Bia-Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010( bộ kế hoạch đầu tư ), với
những nội dung chủ yếu sau đây:
1.1.3.1. Mục tiêu:
Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp thông qua liên doanh, liên kết
thực hiện chuyển giao công nghệ để sản xuất thiết bị trong nước đáp ứng được
yêu cầu kỹ thuật hiện đại. Khuyến khích sử dụng thiết bị chế tạo trong nước
tương đương chất lượng thiết bị nhập khẩu cho các dự án đầu tư.
c) Về nghiên cứu khoa học và đào tạo: Quy hoạch và xây dựng các phũng
thớ nghiệm, Trung tõm nghiờn cứu; triển khai thực nghiệm gắn với việc ứng
dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất; đồng thời quy hoạch và đào tạo đội ngũ
cán bộ khoa học, công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của ngành phù hợp với tiêu
chuẩn VSATTP của nhà nước. Tổ chức kiểm tra thường xuyên về chất lượng
VSATTP, môi trường theo quy định của pháp luật.
Theo Quy hoạch tổng thể này, tiến hành cổ phần hóa Tổng công ty Bia-
Rượu-Nước giải khát Hà Nội và Tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài
Gũn theo từng giai đoạn và giảm dần vốn thuộc sở hữu nhà nước. Đồng thời, sẽ
sắp xếp lại các nhà máy sản xuất bia, rượu, nước giải khát thuộc sở hữu Nhà
nước hoạt động không hiệu quả theo các hình thức sáp nhập, cổ phần hóa,
chuyển hướng sản xuất kinh doanh, bán khoán, cho thuê và các hình thức khác.
1.1.3.3. Các chỉ tiêu chủ yếu:
a) Về bia:
- Sản lượng:
Năm 2005: 1.200 triệu lít;
Năm 2010: 1.500 triệu lít.
- Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt
trong việc nâng uy tín thương hiệu bia Việt Nam, đảm bảo sản xuất và tiêu thụ
đạt tỷ trọng từ 60% đến 70% thị phần trong nước và hướng tới xuất khẩu.
- Tập trung đầu tư các nhà máy công suất lớn, sản xuất kinh doanh hiệu
quả, quản lý chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng, giá
thành được người tiêu dùng chấp nhận, cụ thể:
+ Xây dựng mới 01 nhà máy bia tại Củ Chi thuộc Công ty Bia Sài Gũn
với cụng suất 100 triệu lít/năm (giai đoạn 2002 - 2005) và có khả năng mở rộng
trong việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm; đồng thời, khuyến khích
các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước giải khát từ nguyên liệu trong
nước, trong đó ưu tiên tăng năng lực sản xuất nước quả, không đầu tư tăng năng
lực sản xuất nước giải khát có gaz pha chế từ hương liệu nhập khẩu.
1.1.4 Cơ chế chính sách phát triển ngành rượu bia nước giải khát.
1.1.4.1. Chính sách đầu tư
- Phải có qui hoạch đầu tư được chính phủ phê duyệt. Các dự án phải đảm
bảo có hiệu quả, đảm bảo môi trường không gây ô nhiễm.
- Các thành phần kinh tế đều được đầu tư nhưng qui mô nhà máy, chất
lượng sản phẩm phải có tiêu chuẩn nhà nước qui định.
1.1.4.2. Chính sách Tài Chính:
- Ngành Rượu -Bia cân đối từ nguồn tự vay chịu trách nhiệm kể cả nguồn
vốn nước ngoài
- Sản xuất nước hoa quả cần có sự hỗ trợ về mặt tài chính của nhà nước để
nhanh chóng nâng công suất thiết bị nhập ngoại, hiện đại và có chất lượng sản
phẩm cao nhằm thu hút hết sản phẩm của Nông nghiệp được nhà nước ưu tiên
phát triển theo các chương trình xoá đói, giảm nghèo
- Có chính sách Thuế tiêu thụ đặc biệt cho khối công nghiệp quốc doanh
địa phương ( giảm thuế) để các doanh nghiệp có điều kiện hoạt động sản xuất
kinh doanh không bị lỗ ( nhà nước không phải bù lỗ hoặc cho khoanh nợ). Tạo
điều kiện cho công nghiệp quốc doanh địa phương đầu tư chiều sâu nâng cao
chất lượng, cải tiến mặt hàng tiến đến sản xuất có lãi.
1.1.4.3. Chính sách nguyên liệu:
Trước mắt ngành Bia còn phải nhập nguyờn liệu ngoại như Malt,
Houblon, Hương liệu. Nhưng dần dần phải thay thế bằng nguồn nguyên liệu
trong nước đặc biệt là Malt sản xuất từ Mại mạch cần phải tập trung giải quyết
vỡ đây là loại vật tư chính sản xuất Bia có lượng tiêu thụ lớn.
Ngành nước giải khát ( giải khát từ rau quả). Phối hợp với các chương
trỡnh của nhà nước về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo, trồng
rừng 5 triệu ha trong đó có cây ăn quả, để qui hoạch các vùng nguyên liệu rau
bán hàng vào đó thì khá nhiều rủi ro vì các nhà hàng có đặc trưng riêng là không
thanh toán tiền luôn mà chỉ thanh toán vào các dịp cuối tháng. Vì vậy khoảng
cách từ ngày giao hàng tới cuối tháng sẽ có nhất nhiều sự kiện sảy ra.
Tập khách hàng hiện tại của DN chủ yếu là các khách hàng nam, có thói
quen đi nhậu tại các nhà hàng tuy nhiên trong tương lai khách hàng của DN là
khá phổ thông vì hiện tại công ty có chương trình bán hàng ra các shop.
1.2.3 Các đối thủ cạnh tranh
Bảng1: danh sách các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hiện tại của Vodka
Men’ tại miền bắc:
STT Tên sản phẩm Tên công ty Thị phần
1 Vodka Hà Nội Halico 76%
2 Vina Vodka Công ty CP Bình Tây 8%
3 Men’vodka AroWine Group 5%
4 GoldBon 1%
5 Việt Pháp Công ty Việt Pháp 1%
6 Zelka 0.5%
7 Lúa mới Công ty rượu HN 2%
8 KingBas 1%
9 Bravo Công ty Việt Uc 0.5%
10 Thủ đô HaBeCo 0.5%
11 Ba Đình Cty rượu Ba Đình 0.5%
12 Nếp mới Công ty rượu HN 2%
13 Các rượu khác 2%
Trên thị trường rượu hiện nay cạnh tranh rất khốc liệt ngoài hai đối thủ có
truyền thống hàng trăm năm là công ty rượu Hà Nội và công ty rượu Bình Tây
thì có rất nhiều đối thủ mới chào hàng như trong bảng danh sách trên. Các công
ty giành giật nhau từng đoạn thị trường nhỏ trong từng nhà hàng. Mỗi nhà hàng
hiện nay có sự xuất hiện của rất nhiều loại vodka mà ở đó khách hàng có đa
dạng sự lựa chọn cả về chất lượng và mẫu mã.
Trong tương lai còn có rất nhiều sản phẩm tiềm ẩn ra đời mà biểu hiện rõ
Mã số thuế: 0101624300
Wedside: Arowines.com.vn
Email:
Arowine được thành lập vào năm 2004 với hình thức là công ty cổ phần
lúc đầu công ty được thành lập bởi 5 cổ đông. Ban đầu khi thành lập công ty chủ
yếu là nhập khẩu và phân phối rượu vang từ các dòng rượu vang nổi tiếng trên
thế giới.
Hiện nay công ty hoạt động trên hai lĩnh vực là sản xuất rượu vodka và
phân phối rượu vang.
1.3.2 Nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp luôn là vấn đề quan trọng của doanh
nghiệp và được công ty luôn quan tâm tuy nhiên chưa được như ý muốn. Dưới
đây là chi tiết về danh sách toàn thể công ty:
Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc công ty là ông Phạm Kinh
Kha trình độ thạc sỹ kinh tế. Ông Kha đã có kinh nghiệm nhiều năm hoạt động
trong lĩnh vực rượu bia nước giải khát.
Chủ tịch hội đồng cảm quan là ông Phạm Tấn Tài hiện ông nguyên là
giám đốc nhà máy rượu Hà Nội. Hiện ông đang là tổng giám đốc công ty bia
rượu nước giải khát Sài Gòn.
Giám đốc bán hàng là ông Vũ Trường Giang cử nhân kinh tế, ông Giang
đã làm việc cho các công ty mỹ phẩm, sữa, thuốc lá.
Giám đốc maketing là ông Lê Trung Mạnh cử nhân kinh tế, ông Mạnh
cũng đã hoạt động trong lĩnh vực rượu bia nước giải khát nhiều năm.
Người lao động hiện tại ở văn phòng công ty chủ yếu là có trình độ đại
học và cao đẳng.
Trình độ của công nhân nhà máy đã đạt tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng
sản phẩm.
Nhân viên vào làm việc tại công ty không được đào tạo và định hướng
nghề nghiệp một các đầy đủ
Các cam kết về chế độ lương thưởng, phúc lợi xã hội vẫn chưa được công
phối
VND 600,425,770
5 Tổng VND 5,166,653,670
Bảng 4 thống kê về nguồn vốn của công ty cho đến 31/09/2007
STT Danh mục Đơn vị tính Số tiền
1 Nợ ngắn hạn VND 1,250,300,000
2 Nợ dài hạn VND 1,200,000,000
3
Vốn đầu tư của chủ sở
hữu
VND 6,500,750,000
4
Lợi nhuận chưa phân
phối
VND 1,250,600,400
5 Tổng VND 10,201,650,400
Ta thấy trong năm qua nguồn vốn của công ty tăng nên một cách nhanh
chóng nhờ vào việc sử dụng đồng vốn hiệu quả, và việc làm ăn của công ty đang
gặp thuận lợi.
Xang đầu năm 2008 qui mô nguồn vốn của công ty xẽ tăng nên khoảng 30
tỷ đồng từ việc tăng thêm cổ đông và tăng thêm từ nguồn vốn vay.
Rõ ràng trong các năm đầu nguồn vốn của công ty đã được sử dụng đúng
mục đích và tạo ra hiệu quả kinh doanh tuy không lớn.
Xang năm 2008 với 30 tỷ đồng huy động được thì công ty xẽ có đủ tài
chính để thực hiện các mục tiêu tham vọng của mình.
1.3.4 Công cụ sản xuất
Nhà máy AROMA đặt tại khu công nghiệp phố nối tỉnh Hưng Yên, nhà
máy AROMA rộng gần 2Ha được xây dựng hết sức khang trang. Hệ thống nhà
xưởng sản xuất được xây dựng kiên cố bằng công nghệ hiện đại, hệ thống nhà
kho rộng rãi thoáng mát đạt tiêu chuẩn.
STT Tỉnh Số lượng CH
Số lượng tiêu
thụ (VND)
1 Hà Nội 40 60 000 000
2 Hải Phòng 4 10 000 000
3 Hà Tây 5 15 000 000
4 Quảng Ninh 6 20 000 000
5 Nghệ An 2 5 000 000
6 Ninh Bình 2 5 000 000
Tổng 59 115 000 000
Các cửa hàng là bạn hàng lâu năm của công ty, đây chủ yếu là các nhà
hàng sang trọng phục vụ khách cao cấp, khách du lịch nước ngoài.
Nếu xét về số lượng thì rõ ràng các khách hàng của công ty đã đạt được
một con số khá tốt vì đây là các hạt nhân của công ty. Tuy nhiên đây cũng là
một điều đáng báo động vì các đại lý này có khoảng 10% là hoạt động tốt có
chân hàng mạnh, có mối quan hệ sâu rộng. Còn lại các đại lý, các nhà phân phối
vẫn thực sự là chưa mạnh. Trong tương lai công ty phải tìm thêm các bạn hàng
mạnh thực sự sẽ làm cho khâu phân phối của công ty được tốt hơn
Bảng 6 thống kê Đại lý và số lượng tiêu thụ rượu Vodka Men’ trung
bình hàng tháng tính từ 6/2007 tới 11/2007
STT Tỉnh Tổng số đại lý
Số lượng tiêu thụ trung bình
tháng( VND)
1 Hà Nội 23 380 000 000
2 Hải Dương 2 45 000 000
3 Hưng Yên 3 100 000 000
4 Hải Phòng 2 30 000 000
5 Hà Giang 1 22 000 000
6 Bắc Ninh 1 20 000 000
7 Lạng Sơn 1 80 000 000
mà chỉ có định hướng phát triển như sau:
Với mục tiêu trở thành một công ty lớn trong lĩnh vực sản xuất rượu, bia,
nước giải khát công ty vẫn đang ra sức tổ chức các hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Trước hết với sản phẩm chủ đạo của công ty là dòng rượu Vodka Men
công ty tập trung hoàn thiện sản phẩm phát triển thương hiệu và thị trường tạo
thành một sản phẩm được mọi người biết đến tin tưởng và tiêu dùng.
Về rượu vang công ty tiếp tục tìm kiếm các dòng vang hảo hạng và mở
rộng thị trường phân phối trên toàn quốc.
Công ty đang có hướng phát triển thành một tập đoàn sản xuất rượu, bia,
nước giải khát và các lĩnh vực khác. Để thực hiện mục tiêu này trong vài tháng
tới công ty sẽ cho ra đời dòng sản phẩm nước đóng chai tinh khiết. Và xa hơn là
các loại nước giải khát trong năm tới.
Về nguồn vốn công ty sẽ huy động nguồn vốn lớn để phát triển, công ty
sẽ tiến hành định giá, và phát hành cổ phiếu ra thị trường trong vòng 2 năm tới
đây là kênh rất tốt để công ty lớn mạnh và có điều kiện trở thành một tập đoàn.
Về nhân lực công ty sẽ tuyển dụng và đào tạo trước hết là hoàn thiện bộ
máy quản trị, tuyển dụng được các nhân viên giỏi.
Công ty cũng đang có kế hoạch mở rộng nhà máy sản xuất, kho tàng cho
thích hợp với qui mô, xây dựng các công ty con.
Về mặt thị trường công ty đang có kế hoạch thâm nhập mạnh, xây dựng
thương hiệu Men’ trở thành một thương hiệu lớn mạnh trên toàn quốc và hướng
ra thế giới.
Tiến hành xây dựng mạng lưới nhà phân phối, đại lý trên toàn quốc, tạo
thành các chân hàng vững chắc cho việc phát triển trong tương lai.
Định hướng của công ty cũng là khá tốt tuy nhiên với một phương hướng
phát triển như vậy thì công ty nào, tổ chức nào cũng có thể đề ra được. ở đây ta
bàn đến một chiến lược phát triển dài hạn và công ty muốn trở thành một công
ty lớn thì chiếm lĩnh thị trường thì phải xây dựng chiến lược kinh doanh một
cách khoa học đưa ra các chiến lược kinh doanh và phát triển cụ thể chứ không
nghiệp có thể đặt mục tiêu và quyết định đầu tư vào một lĩnh vực mới với hy
vọng phát triển, nhưng đó không đánh giá được hết đối thủ cạnh tranh, tiềm lực
của mình mà có thể dấn đến thua lỗ. Nguyên nhân dấn đến việc doanh nghiệp
ngày càng sa sút có thể rất nhiều; có thể rõ ràng hoặc còn tiềm ẩn. Có thể do
doanh nghiệp không có một bộ máy tổ chức hợp lý, quản lý nhân sự chưa hiệu
quả, chi phí quản lý quá cao, hoặc cũng có thể do sản phẩm của doanh nghiệp
không được đổi mới, thị phán ngày càng giảm, không sử dụng đúng các chiến
lược về giá, maketting
Tóm lại công ty cần phải có một bản kế hoạch kinh doanh rõ ràng, xác
định mục tiêu nhiệm vụ chiến lược trong ngắn hạn và dài hạn được xây dựng
một cách khoa học điều đó sẽ giúp công ty đi đúng hướng.