LUẬN VĂN:
Thực trạng quan hệ phân phối ở nứoc ta
và những giải pháp hoàn thiện quan hệ
phân phối ở nứoc ta hiện nay Lời mở đầu
Trong bất kỳ nền kinh tế nào, mô hình sản xuất nào thì cũng cần có sự phối hợp
giữa các hình thức sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Phân phối luôn thể hiện
một vị trí hết sức quan trọng. Nó phụ thuộc vào sản xuất nhưng phân phối tốt hay
1.1/Tính tất yếu khách quan của vai trò phân phốỉ trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường thì phân phối giữ vi trí hết sức quan trọng .Trong
quá trình tái sản xuất thi phân phối làm khâu trung gian nối liền giũa sản xuất với sản
xuất, sản xuất với tiêu dùng, nó phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng.
Nhưng sản xuất lại đóng vai trò quyết định đối với phân phối ,sản xất tao ra đối
tượng và vật liệu cho phân phối ,quyết định quy mô và cơ cấu của cải để phân phối .
Phân phối không thể vượt qúa khả năng cho phép của sản xuất,thu nhập thực tế
chỉ có thể tăng lên theo đà phát triển của sản xuất nhưng tốc độ tăng của thu nhập thực
tế phải chậm hơn tốc độ tăng lên của sản xuất ,có như thế mới đảm bảo tái sản xuất
mở rộng . Hiện nay nứoc ta đang thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội . Chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ làm
chủc tập thể của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó làm chủ tập thể về
kinh tế là cơ sở. Trong chế độ làm chủ tập thể về kinh tế thì làm chủ về tư liệu sản xuất
là cơ sở ,điều kiên để đảm bảo làm chủtập thể về phân phối. Một khi tư liệu sản xuất la
thuộc sở hữu chung của nhân dân lao động thì của cải làm ra cũng thuộc sở hữu chung
của họ và việc phân phối của cải làm ra chỉ có thể nhằm mục đích phục vụ lợi ích của
nhân dân lao động .Trong điều kiện của nước ta hiện nay nền kinh tế vẫn còn ở tình
trạng lạc hậu , nghèo nàn chưa đủ sản phẩm để phân phối theo nhu cầu .Vì thế việc
thực hiện phân phối theo thu nhập trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là mộ vấn
đề vô cùng quan trọng đẻ tạo ra đọng lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy sản
xuất phát triển, ổn định tình hình kinh tế -xã hội nâng cao đời sống nhân dân thực hiện
mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hội công bằng ,dân chủ ,văn minh .
1.2.Bản chất và vị trí của phân phối.
Quá trình tái sản xuất xã hội gồm bốn khâu:sản xuất, phân phối ,trao đổi, tiêu
dùng. Các khâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau,trong đó sản xuất là khâu cơ bản
đóng vai trò quyết định;các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất,nhưng chúng có quan
hệ trở lại đối với sản xuất cũng như ảnh hưởng lẫn nhau chính vi có quá trinh phân
phối này mới có sự tác động qua lại giữa sản xuất và tiêu dùngvà từ đó thúc đẩy sản
xuất phát triển ,tăng quy mô tiêu dùng .
1.3/ Các hình thức phân phối ở nước ta hiện nay
Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ là
nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước ,tương ứng với nó là nhiều
hình thức phân phối nhưng lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là
chủ yếu , đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào kết quả sản
xuất - kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Trong nền kinh tế này xuất hiện nhiều chủ thể kinh tế khác nhau với các hình
thức sở hữu khác nhau và cũng vì lẽ đó mà xuất hiện nhiều phương thức phân phối
khác nhau.Mỗi thành phần kinh tế có phương thức sản xuất –kinh doanh khác nhau
nên kết quả kinh doanh khác nhau do đó cần các hình thức phân phối khác nhau
Vì vậy ở nước ta hiện nay không thể tồn tại một hình thức phân phối duy nhất
1.3.1/ Phân phối theo lao động
Trong thời kỳ quá độ hiện nay ,hình thức phân phối theo lao động là hình thức
phân phối căn bản , là nguyên tắc phân phối chủ yếu và thích hợp nhất với các thành
phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (kinh tế nhà nước)hoặc các
hợp tác xã cổ phần mà góp vốn của các thànhviên bằng nhau (kinh tế hơp tác )
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối căn bản, là nguyên tắc phân phối
chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về
tư liệu sản xuất. Do đó dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà chế
độ người bóc lột người bị xoá bỏ.Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất nên
tất yếu cũng làm chủ phân phối theo thu nhập . Lao động đang trở thành cơ sở quyết
định địa vị và phúc lợi vật chất của mỗi người. Chính vì vậy mà phân phối theo lao
động là phù hợp với quan hệ sản xuất của các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước
ta.
Trước đây nước ta đã thực hiện sự phân phối bình quân là phân phối cho mỗi
người một lượng sản phẩm như nhau, không phân biệt mức đóng góp của từng
người vào sản xuất xã hội. Phân phối bình quân đã gây ra sự bất hợp lý và tiêu cực
tức tiền gửi của các cá nhân hoặc tập thể vào ngân hàng.
1.3.3/ Phân phối thông qua phúc lợi tập thể , phúc lợi xã hội
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản và vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay ở nước ta , vì các hình thức phân phối đó đều nhằm mục
đích thúc đẩy nền sản xuất phát triển và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành viên trong xã hội. Nhưng trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay , nhưng ngoài
những người khoẻ mạnh có khả năng lao động và đang lao động, được trả công theo
lao động, những có vốn và tài sản đóng góp vào qúa trình sản xuất để được nhận lợi
tức và lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những người vì lẽ này hay lẽ khác, không thể
tham gia vào lao động được trả công của xã hội. Đời sống số đông người này được gia
đình đảm bảo. Mặt khác, ngay cả mức sống của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước
và những người làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế cũng không chỉ dựa vào
tiền công cá nhân. Bởi mức tiền công theo qui định của Nhà nước chưa đảm bảo được
mức sống. Họ phải dựa một phần vào các quĩ phúc lợi công cộng của Nhà nước, của
các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác.
Vì vậy mà ngoài việc phân phối theo lao động, theo tài sản và theo vốn thì trong
xã hội còn tồn tại hình thức phân phối ngoài thù lao lao động, thông qua quĩ phúc lợi
xã hội. Đây không phải là phân phối theo nhu cầu, cũng không phải là phân phối là
phân phối theo lao động mà đây mới chỉ là phân phối của thời kỳ quá độ mà thôi. Đây
là hình thức phân phối bổ sung cần thiết và quan trọng đối với nguyên tắc phân phối
theo lao động. Nó thích hợp với việc thoả mãn những nhu cầu công cộng của xã hội.
Nó có lợi trước hết cho những gia đình mà thù lao lao động tính theo đầu người tương
đối thấp. Nó không những bảo đảm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội đều có mức
sống bình thường tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động sản xuất, kích thích
sự phát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội. Đây là hình thức phân phối của
thời kỳ quá độ, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của một đất nước.
Cả ba hình thức phân phối trên đều là những hình thức phân phối cơ bản ở nước
ta hiện nay trong đó phân phối theo lao động giữ vai trò chủ đạo.Phân phối ngoài thù
tế và lợi ích của đại bộ phận nhân dân.
+Phát triển ,hoàn thiện lực lượng sản xuất ngày một tốt hơn trong thời gian tới
về mọi mặt .
+Hoàn thiện chính sách tiền lương,bình quân chống chủ nghĩa bình quân và thu
nhập bất chính.Trong vấn đề này,vai trò của chính phủ là phải gắn vhặt tiền công,tiền
lương với người lao động nhằm tường bước thực hiện hpân phối công bằng hợp
lí.Nghiêm trị những kẻ có thu nhập bất chính,chúng ta phải từng bước tiền tệ hoá tiền
lương,xoá bỏ những đặc quyền, đặc lợi trong phân phối
+Điều tiết thu nhập dân cư giữa các khu vực khác nhau.Trong hoàn cảnh kinh tế
như hiện nay chúng ta phải thừa nhận sự chênh lệch thu nhập giữa các tổ chức với
nhau.Tuy vậy vai trò của nhà nước là phải làm giảm đi phần nào sự chênh lệch đó.Điều tiết thu nhập là một yêu cầu khách quan ở bất kì chế độ nào nhằm duy trì và ổn định xã
hội.Điều tiết thu nhập thông qua các hình thức như:thuế thu nhập,tự nguyện đóng góp
vào các quỹ phú lợi xã hội
1.4.2/ Inđônêxia
ở Inđônêxia các vấn đề được quan tâmchủ yếu là giáo dục và tạo việc làm.Từ
những năm 60 chính phủ ở đây đã tiến hành các chính sách nhằm tăng cường việc làm
ở khu vực nông thôn với một phần kinh phí do nhà nước cấp,phần còn lại do các
chương trình viện trợ.Nhờ chương trình này mà giai đoạn từ1976 đến 1987 số dân
sống dưới mức nghèo khổ đã giảm từ 54.000.000 xuống còn 30.000.000.tỉ lệ nghèo
khổ ở nông thôn giảm nhanh hơn so với ở thành thị.Tại quốc gia này các tổ chức phi
chính phủ có đóng góp to lớn trong việc tiếp cận,giúp đỡ tầng lớp nghèo khổ dưới các
hình thức như:tư vấn,giúp đỡ sản xuất, huấn luyện nghiên cứu …Hoạt động của các tổ
chức này đã ghóp phần giảm bớt gành nặng cho chình phủ Indonexia do có một số nơi
mà hệ thồng quản lí của chính phủ cũng không thể với tới được.Với tư cách là người
trung gian họ chuyển những nguyện của người nghèo đến với chính phủ sở tại.
1.4.3/ Malayxia
nhiều nguồn lực vào trong thành phố
Trên đây là một số vấn đề mà Philippin gặp trong việc phân phối .Thậm chí trong
chiến lược công nghiệp hoá hiện đại hoá Philippin cũng tập trung quá nhiều vào thành
thị,chính sách phân phối có lợi cho người có thu nhập cao.Hệ thống thuế chủ yếu dựa
vào thuế gián thu.Các gia đình có thu nhập cao chỉ phải đóng 12%,trong đó các gia
đình có thu nhập thấp lại phải đóng tới 20%.Chương trình giảm nghèo khổ có mục
đích chính là thực hiện một sự phân phối công bằng hơn trên cơ sở phân phối một cách
hợp lí hơn.
1.4.5/ Singapore
Là một đất nước giầu có và có thu nhập cao sự tăng trưởng kinh tế cao và liên
tục trong nhiều thập niên đã làm cho việc xoá bỏ nghèo khổ ở đây ít nan giải hơn tỷ lệ
nghèo tuyệt dối giảm từ19 % xuống còn chỉ 13 %. Trong những năm gần đây, chính
phủ Singapore đã có những cố gắng đáng khể để tăng kỹ năng và chất lượng của toàn
bộ lực lượng lao động. Chi phí cho giáo dục tăng nhanh từ đầu năm 80 trở đi, chủ yếu
là tập chung vào các lĩnh vực đào tạo chuyên ngành.
ở Singapơre có sự can thiệp của nhà nước về thị trường lao động và giáo dục có
tác dụng tạo nên nguồn vốn nhân lực trong các hộ gia đình và cá nhân. Các biện pháp trên tuy không trực tiếp loại bỏ mức thu nhập thấp và những bất bình đẳng về của cải.
Nhưng nó đã giúp cho mọi cá nhân có cơ hội công suất phản kháng được việc làm tốt
với mức thu nhập xứng đáng.
1.5. Vai trò của chính phủ
Đứng trước xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, bằng những gì đã
thu nhập được qua kinh nghiệm của một số nước. Đảng và Nhà nước ta đã có những
chủ trương cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình phân phối, tiến tới kiện toàn nền kinh tế,
hoàn thiện công bằng dân chủ văn minh. Trước mục tiêu đó chúng ta cần giải quyết
những vấn đề sau:
Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất bởi như một số nhà kinh tế
nói: Phân phối về căn bản là phụ thuộc vào số lượng sản phẩm được phân phối. Một
2.1 Thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung , quan liêu ,bao cấp
sang nền kinh tế hàng hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần , đa hình thức sở hữu
đang nảy sinh những quan điểm mới về quan hệ phân phối. Để đánh giá được thực
trạng phân phối ở nước ta hiện nay thì ta xem xét 3 nguyên tắc phân phối cơ bản :phân
phoi theo lao động , phân phối theo tài sản vốn hay những đóng góp khác ,phân phối
ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội .Tương ứng với nguyên tắc
phân phối theo lao động co hình thức tiềnlương và tiền thưởng . Trong đó, chính sách
tiền lương và tiền công lao động là đặc biệt quan trọng vì nó thể hiện quan điểm của
Đảng và Nhà nước trong sự hình thành và phân phối thu nhập trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường ở nước ta.
2.1.1 /Thực trạng về chính sách tiền lương
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường là quá
trình chúng ta dần thừa nhận sức lao động là hàng hoá. Một khi sức lao động trở thành
hàng hoá, thì người có sức lao động hoàn toàn có quyền tự do bán sức lao động của
mình theo những hợp đồng lao động nhất định và khi đó các chủ doanh nghiệp sử dụng
sức lao động phải trả công cho họ theo đúng những cam kết trong hợp đồng đã ký. Sau
quá trình làm cho các chủ doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế quốc doanh, người
lao động nhận được một khoản thu nhập gắn với kết quả lao động của họ. Về nguyên
tắc khoản thu nhập đó phải tương xứng với số lượng và chất lượng lao động mà mỗi
người đã cống hiến. Số thu nhập theo lao động đó gọi là tiền lương. Hay nói cách khác
tiền lương chính là hình thức thu nhập theo lao động.
Với tư cách là một phạm trù kinh tế, tiền lương là sự biểu hiện của bộ phận cơ bánp
cần thiết được tạo ra trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quốc doanh để đi vào
tiêu dùng cá nhân của người lao động, tương ứng với số lượng và chất lượng lao động
mà họ đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Về cơ cấu tiền lương bao gồm hai phần: phần tiền lương cơ bản và phần tiền lương
sơ hở của cơ chế quản lý đang trong bứơc giao thời , đều tìn mọi cách tăng thu nhập
cho mình .Nhìn xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng thu nhập của họ vẫn cao
* ở các đơn vị hành chính sự nghiệp :phải thực hiện theo nghị định
235/HĐBT.Nhưng lại được nhà nứơc cho phép mở ra các hoạt động dịch vụ đời sống
đủ loại để tăng thu nhập .Toàn bộ những thực tế này đã tạo nên sự chênh lệch về thu
nhập rất lớn ,mà phần lớn không phải sự chênh lệch đó là do tài năng lao động của
họtạo ra .
* ở ngoài xã hội trong khi mức lương tối thiểu do nhà nước quy định là
22.500đ/tháng ,thì ngoài xã hội tiền công lao động trả cho người lao động binh thường
là từ 3000-5000đ/công .Trong khi nhà nước quy định lương tối đa bằng 3,5 lần lương
tối thiểu ,thì ngoài xã hội đang thực hiện băng 7-8 lần . Đặc biệt ở khu vực này tiền
công đã được tiền tệ hoá hoàn toàn và đã tính đén quan hệ cung cầu về lao động .
Nhưng đến Tháng 4-1993 nước ta thực hiện cải cách chính sách tiền lương, ban hành
nghị định 25/CP và 26/CP về chế độ tiền lương cho công nhân viên chức khu vực khu
vực hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh. Từ đó đến nay mặc dù các thang
bảng lương và cơ chế quản ly chưa thay đổi, nhưng mức lương tối thiểu cũng thường
xuyên thay đổi từ 1/4/1993 là 120.000 đ; 1/10/1997 là 144.000 đ; 1/1/2000 là 180.000đ
đến 1/1/2001 là 210.000 đ; đến 1/1/2003 là 290.000 đ. Qua thời gian áp dụng chính
sách lương mới vào cuộc sống thì việc phân phối đã công bằng hơn, tạo động lực thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác.
Qua những số liệu ở trên cho ta thấy thực trạng về vấn đề tiền lương ở nước ta
trong thời gian qua chưa phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang
hoạt động trong một thị trường thống nhất .Tiền lương đó chưa thực sự là thước đo giá
trị –lao động ,chưa đảm bảo tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không
ngừng ,chưa trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của ngưòi lao động làm công ăn lương
Tiền lương vừa mang tính chấ bình quân ,vừa mang tính chất bao cấp .Mặc dù
từ giữa cuối năm 1993 chúng ta đang triển khai thí điểm chinh sách tiền lương mới
nhưng trong đó vẫn còn chứa đựng nhiều ván đề bất hợp lí.
những khâu yếu nhất của chính sách tiền lương Việt Nam. Bốn là sự bất cập lương đối với nhu cầu của cuộc sống đang đẻ ra nhiều nghịch
lý. Mọi người đều biết rằng mức lương hiện nay là không đảm bảo được cuộc sống
bình thường. Chênh lệch về thu nhập giữa các ngành, các cơ quan, đơn vị là rất lớn.
Hiện nay có khoảng 40% số các đơn vị hành chính sự nghiệp cả nước là hoạt động sự
nghiệp. Đó là chưa kể sự chênh lệch đến quá lớn giữa lao động trong biên chế Nhà
nước với các thành phần kinh tế khác. những chênh lệch và những nghịch lý ấy đang là
lý do cả về vật chất lẫn ý thức làm cho người lao động coi tiền lương là một khoản thu
nhập phụ, không ai sống bằng lương, Nhà nước không quản lý được thu nhập và
chúng đang gây ra những hậu quả tiêu cực như: hạch toán sai, báo cáo không đầy đủ,
giấu nguồn thu, trốn thuế thu nhập, sử dụng thu nhập mập mờ, tuỳ tiện, cản trở kiểm
tra kiểm soát Điều tệ hại là không đo đếm và tạo ra tâm lý lạm dụng của công, nạn
tham nhũng tập thể, dùng tiền công để “của người phúc ta”, kéo bè kéo cánh. cùng
cánh thì được “ăn chia”, nếu không cùng cánh thì lương "ba cọc một đồng” ,tìm
cách hạ bệ nhau,bôi nhọ danh dự của nhau gây mất dân chủ và mất đoàn kết trong
không ít các cơ quan tổ chức. .Trong nhiều năm chính sách tiền lương và các chính
sách kinh tế xã hội khác như nhà ở phân phối điện ,nước sinh hoạt …có liên quan mật
thiết với nhau .Song trong qúa trình giải quyết vấn đề tiền lương chưa tính toán cân
đối với từng chính sách một cụ thể ,do đó nó phát sinh nhiều hiện tượng mâu thuẫn
khó giải quyết gây ra sự bất bình đẳng lớn trong xã hội
Nhà nước chưa thực sự hoàn toàn làm chủ trong việc kiểm soát và quản lý tiền
lương và thu nhập nói chung của người lao động .
2.1.2/ Thực trạng về vấn đề lợi nhuận
Từ năm 1989 đến nay thì nên kinh tế việt nam có bước chuyểnbiến quan trọng
trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước .Xét
tình hình lợi nhuận ở nước ta,thì do chính sách cơ chế hình thành và phân phối thu
nhập, lợi nhuận ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất hợp lý nên đang tạo nên sự phân hoá
và bất bình đẳng lớn trong xã hội. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất tạo ra tình trạng
2.1.3.1/ Ưu điểm:
ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề
phân phối thu nhập . Đặc biệt rõ nét nhất là từ khi nền kinh tế nước ta chuyển
sang nền kinh tế thị trường đến nay ,hàng loạt các chính sách kinh tế được áp
dụng để giải quyết vấn đề tiền lương , lợi nhuận , lợi tức địa tô ,bảo hiểm ,trợ cấp xã hội ….nhằm tháo gỡ những khó khăn trong phân phối lưu thông để "cởi trói "
cho lĩnh vực sản xuất . Qua thời gian áp dụng chính sách lương mới vào cuộc sống thì
việc phân phối đã công bằng hơn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả công tác
2.1.3.2/Nhược điểm:
Tuy nhà nước ta đã cố gắng giải quyết những vấn đề phân phối thu nhập
nhưng tuy nhiên vấn đề phân phối theo thu nhập vẫn còn nhiều khuyết tật đã kìm
hãm sự phát triển của nước ta ví dụ như bộ máy quản lý cồng kềnh , chưa thực sự
kiểm soát và làm chủ trong quản lý tiền lương,chế độ tiền lương , phụ cấp vẫn còn
mang bất hợp lí mang nặng tính bao cấp, cơ chế hình thành và phân phối thu nhập,
lợi nhuận ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất hợp lý nên đang tạo nên sự phân hoá và bất
bình đẳng lớn trong xã hội.
2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở nước ta trong thời
gian tới
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang từ thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội,có sự đan xen của nhiều hình thức sỏ hữu kinh tế cũng như các hình thức phân phối
khác nhau.Đảng và nhà nước ta đã nhấn mạnh vai trò của phân phối,nhấn mạnh vai trò
của việc hoàn thiện các hình thức phân phối nhàm nâng cao đòi sóng của nhân dân về
mọi mặt:vật chất,văn hoá…Phải thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội nói chung
và của đảng nhà nước ta nói riêng, phải thể hiện được vai trò dẫn đường của đảng .Để
đạt được kết quả như vậy chúng ta phải thưc hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất cần phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, thực hiện nguyên tắc phân
phối theo cống hiến.Về thực chất chính là nguyên tắc phân phối vừa theo lao động vừa
sự là bộ phận thu nhập chủ yếu của người lao động . Tiền tệ hoá tiền lương một cách
triệt để, xoá bỏ tận gốc các khoản bao cấp trong phân phối. Mức lương phải gắn với
trình độ phát triển kinh tế xã hội, hiệu quả sản xuất kinh doanh, quan hệ cung cầu lao
động, mức cống hiến của từng cá nhân, sự biến động của giá cả và lạm phát.Xây dựng
cơ chế quản lý tiền lương mới phải đảm bảo vừa tăng cường vai trò quản lý, điều tiết vĩ
mô của Nhà nước, vừa mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị cơ sở. Phải tiến hội nhập
hành công cuộc tổ chức và phân công lại lao động xã hội trên phạm vi toàn xã hội, tinh
giảm biên chế trong khu vực Nhà nước. Chỉ có như vậy thì bộ máy Nhà nước hoạt
động mới có hiệu quả.Thay đổi cơ cấu thu chi ngân sách tạo nguồn cho cải cách tiền lương. Cần giảm bớt chi đầu tư phát triển dưới dạng đầu tư vào cơ các công trình sản
xuất kinh doanh, nguồn ngân sách sẽ có đủ nguồn đảm bảo cải cách căn bản tiền
lương.
Thứ ba là phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, đảm bảo sự hài hoà về lợi
ích giữa các thành phần trong đó lấy thành phần kinh tế Nhà nước làm chủ đạo. bên
cạnh đó nâng cao vai trò của thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể để làm cơ sở
cho định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư là tăng cường đầu tư cho các quĩ phúc lợi xã hội để góp phần bổ
sung một phần đáng kể vào tổng thu nhập của người dân nhằm nâng cao đời sống
vật chất cũng như tinh thần của nhân dân và tạo ra sự phân phối công bằng trong
xã hội.
Thứ năm xây dựng hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống luật trong
lĩnh vực phân phối thu nhập phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt nam .
Tiếp tục nghiên cứu , xây dựng hoàn thiện các nguyên tắc , nội dung phân
phối thu nhập cho phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở
Việt nam.
Thứ sáu cần phải hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý của hoạt động tài
chính ngân hàng để có thể nắm được vàđiều tiết mọi vận động của của cải và tiền
tại của nhiều giai cấp, tầng lớp với lợi ích còn chưa thống nhất nên lao động chưa thể
là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, là "phương kế sinh nhai" của mọi người. Do đó, trong
xã hội còn có sự khác biệt về mức sống, vị trí giữa các thành viên dựa trên cơ sở mức
đóng góp của mỗi người vào xã hội. Mặc dù vậy, ta chấp nhận hình thức phân phối này
vì nó phù hợp với quan hệ sản xuất của nước ta. Thực hiện nó có tác dụng thúc đẩy sự
phát triển nhanh của xã hội đến một giai đoạn cao hơn, văn minh hơn đó là Tiến lên
chủ nghĩa cộng sản, trong đó quyền bình đẳng thực sự trong xã hội, tức là nguyên tắc
"làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", mọi người đều có cơm ăn áo mặc. Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình kinh tế chính trị, (Nxb Chính trị quốc gia)
2. Đổi mới cơ chế và chính sách quản lí lao động trong nền kinh tề thị trường ở
Việt Nam (PGS. TS. Tống Văn Đường)
3. Tạp chí kinh tế & phát triển.
4. Tìm hiểu chế độ tiền lương mới.
5. Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường - (PTS. Mai Ngọc Cường -
PTS. Đỗ Đức Bình)