LUẬN VĂN:
Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng
thương mại và giải pháp tạo lập vốn
kinh doanh của Ngân hàng Thương
mại ở Việt Nam
Lời nói đầu Bất kỳ một quốc gia nào muốn tăng trưởng và phát triển nền kinh tế thì có một
điều không thể thiếu được đó là phải tạo nguồn vốn cho nền kinh tế. Việt Nam cũng
nằm trong qui luật đó, hay nói cách khác Việt Nam muốn thực hiện được các mục
tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phải có vốn. Nguồn vốn đó có thể là
vốn trong nước hay vốn nước ngoài. Tiết kiệm để tạo vốn là vấn đề bức bách có tính
chiến lược cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
ương mại Việt Nam trong các năm gần đây, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tạo lập
vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong thời gín tới.
CHƯƠNG I
Nguồn vốn trong hoạt động
kinh doanh
của ngân hàng thương mại I. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
- Cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư: ngân hàng thương mại là một trong hai
kênh chuyển hóa tiền tiết kiệm thành đầu tư. Trong khi thực hiện chức năng trung
gian tài chính, ngân hàng thu hút những khoản tiết kiệm trong phạm vi toàn xã hội để
đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng năng lực sản xuất kinh
doanh.
- Tích tụ và tập trung vốn. ngân hàng thương mại có khả năng chuyển hóa các
khoản tiền gửi nhỏ lẻ và có thời hạn ngắn thành các khoản tín dụng lớn và có thời
hạn dài hơn để đầu tư vào những ngành đang phát triển và góp phần vào việc bình
quân hóa tỉ suất lợi nhuận trong nền kinh tế.
- Kích thích sản xuất và lưu thống hàng hóa. Ngân hàng trở thành trung gian
thanh toán trong nền kinh tế và tạo ra một hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt
khá hoàn hảo. Nó giảm chi phí thanh toán và giải quyết được mâu thuẫn về sự không
tin tưởng giữa người bán và người mua đặc biệt là trong hoạt động ngoại thương
bằng các phương thức thanh toán như: thư tín dụng (L/C), Séc bảo chí, nhờ thu kèm
chứng từ, thể tín dụng… thêm vào đó, các khoản nhàn rỗi trong xã hội được ngân
hàng huy động và đâu từ trở lại vào sản xuất kinh doanh và tiêu dùng nhờ đó có thể
đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa tiền tệ. Từ đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển, ngân hàng thương mại phải hoạt động theo một cơ chế phù hợp với khuôn
khổ pháp luật của nhà nước và xuất phát từ chính sách chế độ chung do ngân hàng
trung ương quy định hoạt động của ngân hàng thương mại được quy định thành 3
nghiệp vụ cơ bản sau.
2. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trư-
ờng
2.1- Nhận tiền gửi
Đây là nhiệm vụ tạo lập vốn và quản lý các nguồn vốn của ngân hàng huy
dộng, thông qua đó ngân hàng thực hiện việc tạo lập vốn, tập trung vốn mà chủ yếu
thông qua việc nhận tiền gửi của khách hàng, tiền gửi bao gồm các loại như: tiền gửi
không ký hạn, tiền gửi ký hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng thu hút một số lượng lớn từ các
hàng thương mại sẽ nghiên cứu các khả năng, thẩm định các thông tin, và sau đó có
thể cho các chủ thể đó vay vốn với những điều kiện mà ngân hàng đó đưa ra. Thông
qua sự vận động của vốn, khi đến kỳ hạn họ sẽ thanh toán với ngân hàng thương mại
đúng như những gì mà họ đã thoả thuận. Đồng vốn sẽ được hoàn trả hay tiếp tục duy
trì, tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của chính họ.
b. Hoạt động đầu tư
Tuy nhiên, ngân hàng không sử dụng toàn bộ vốn huy động để cho vay. Một
mặt vì hầu hết các khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, ngân hàng không thể bán
chúng trên thị trường một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt. Một vấn đề
khác nữa là những khoản cho vay thuộc nhóm tài sản của ngân hàng có mức rủi ro
cao nhất đối với rủi ro vỡ nợ, đặc biệt là đối với ngân hàng vừa và nhỏ. Hơn nữa, tất
cả các khoản tín dụng đều bị chịu thuế. Như vậy, ngân hàng đều giành một phần huy
động để đầu tư vào chứng khoán. Chứng khoán là một khoản đầu tư an toàn, có mức
rủi ro sinh lợi và thời hạn phù hợp trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn, bao gồm
các loại chứng khoán sau:
+ Tín phiếu kho bạc
+ Trái phiếu kho bạc
+ Chứng chỉ tiền gửi
+ Thương phiếu chấp nhận thanh toán
+ Giấy nợ ngắn hạn
+ Chứng khoán của các công ty
Hơn nữa, ngân hàng cũng có thể đầu tư bằng cách góp vốn trực tiếp vào dự án
bằng cách tài trợ chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ
cao hoặc là tham gia vào dự án của Chính phủ để phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội.
c. Hoạt động thuê mua
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lợi chọn mua
các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng
mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Ban đầu các quy định yêu cầu khách hàng sử
dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi
cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài
chính cho các cá nhân đến tư vấn về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước
cho khách hàng kinh doanh. Ngân hàng sẽ thu được phí tư vấn từ khách hàng.
c. Quản lý tiền mặt: Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một
số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Dịch vụ
quản lý tiền mặt là việc ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty
kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán
sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ quản lý tiền
mặt cho các tổ chức kinh tế và cá nhân, hiện nay có một xu hướng đang gia tăng về
việc cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này
đang lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác
cung cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên
quan.
d. Bán các dịch vụ bảo hiểm: Từ nhiều năm, các ngân hàng đã bán bảo hiểm
tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng
vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Tuy nhiên, theo pháp luật của một số nước đã cấm
ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ này vì sự an toàn đối với hệ thống ngân
hàng cũng như đối với nền kinh tế.
Ngoài ra, còn có nhiều dịch vụ khác như cung cấp các kế hoạch hữu trí, dịch
vụ môi giới đầu tư chứng khoán, quỹ tương hỗ và hỗ trợ…
II. Nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
1- Vốn của ngân hàng thương mại
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương
mại tạo lập hoặc huy động, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác. Thực chất, nguồn vốn của ngân hàng thương mại là một bộ phận thu
nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng mà
người chủ sở hữu chúng gửi vào ngân hàng với mục đích khác nhau. Hay nói cách
thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bị mới. Khi ngân hàng phát
triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn liền với sự
ra đời những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới.
+ Vốn chủ sở hữu được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng,
giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì ổn định, lâu
dài cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi rằng vốn
ngân hàng phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay
và của những tài sản rủi ro khác
Vốn chủ sở hữu nó còn là một trong những căn cứ quyết định đến quy mô và
khối lượng vốn huy động của ngân hàng. Theo luật của các tổ chức tín dụng vốn chủ
sở hữu là yếu tố cơ bản để xác định các chỉ tiêu an toàn của một ngân hàng thương
mại. Như vậy, quy mô và sự tăng trưởng của vốn chủ sở hữu sẽ quyết định đến năng
lực và thế phát triển của ngân hàng thương mại. Theo cách phân chia bảng tổng kết tài
sản của mình, vốn chủ sở hữu là một bộ phận của tài sản nợ, và một thành phần của nó
gắn với loại nghiệp vụ nhất định.
Thành phần chủ yếu nhất trong cơ cấu vốn chủ sở hữu là vốn điều lệ được
hình thành từ nguồn: có thể được hình thành dưới hình thức tổng giá trị cổ phiếu th-
ường (đối với ngân hàng cổ phần) hoặc là phần góp của các bên liên doanh (đối với
ngân hàng liên doanh) hoặc do ngân sách cấp (đối với ngân hàng thuộc sở hữu Nhà
nước). Vốn điều lệ có thể cao hay thấp những mức tối thiểu cho mỗi loại hình ngân
hàng thương mại.
Vốn chủ sở hữu cũng có thể bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn
bổ sung được tăng lên từ các nguồn sau:
+ Do thặng dư vốn thể hiện phần giá trị thị trường của cổ phiếu vượt quá
mệnh giá mà các cổ đông trả cho ngân hàng.
+ Quỹ dự trữ bổ sung được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng
thương mại theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo luật lệ ngân hàng của mình nhắm mục đích
tăng cường vốn chủ sở hữu ban đầu.
+ Quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động
chức đó còn nhỏ bé hoạt động không phong phú, thì có thể nói vai trò của ngân hàng
thương mại đối với nền kinh tế là rất lớn. Vai trò nổi bật nhất của ngân hàng thương
mại hiện này là góp phần tạo vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế đạt đ-
ược mục tiêu phát triển đúng kế hoạch. Huy động được vốn qua các khoản tiền gửi là
một trong những yếu tố quan trọng giúp cho ngân hàng có thể đẩy mạnh cạnh tranh,
thực hiện đầu tư vào nền kinh tế, góp phần làm lành mạnh và thúc đẩy quá trình tăng
trưởng của nền kinh tế trong mọi thời điểm.
Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển như hiện nay với tính cạnh tranh rất cao
giữa các ngân hàng thương mại với nhau và giữa các tổ chức tín dụng khác thì ngân
hàng phải có chiến lược đúng đắn trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ dân cư. Cho nên
các ngân hàng phải đa dạng hóa loại hình tiền gửi với thời hạn khác nhau và lãi suất
khác nhau để thu hút vốn với chi phí thấp nhất phù hợp với điều kiện hiện có của
chính bản thân ngân hàng mình.
Thông thường tiền gửi ngân hàng thương mại huy động được chia thành các
loại sau:
- Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi giao dịch): Tiền gửi không kỳ hạn là loại
tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cư lúc nào. ở nhiều nước thì phần lớn các
giao dịch thanh toán được thực hiện bằng séc còn Việt Nam thì tài khỏan được thực
hiện thường gọi là tài khỏan tiền gửi thanh toán dùng cho doanh nghiệp và tài khỏan
thanh toán cho cá nhân.
- Tiền gửi kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra sau một thời
hạn nhất định ở Việt Nam trong những năm qua thì tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn cũng
có xu hướng tăng lên trong tổng số vốn tiền gửi.
- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền gửi của dân cư do tạm
thời chưa có nhu cầu sử dụng ngay gửi vào ngân hàng. Ngân hàng thường trả lãi cho
tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn, người gửi tiền được
ngân hàng cấp một sổ tiết kiệm phục vụ cho việc ghi chép gửi và rút tiền. Tiền gửi
tiết kiệm không được phát hành séc.
- Chứng chỉ tiền gửi (Certificates of deposits - CDs ) do ngân hàng phát hành,
nguồn vốn mà qua đó ngân hàng có vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.
Tuy nhiên, đối với ngân hàng thương mại ở các nước đang phát triển thì nguồn vốn
này vẫn còn là một tỷ lệ nhỏ, nó chỉ mang tính chất bổ trợ mà thôi.
1.5- Vốn khác
Trong quá trình làm trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại cũng tạo đ-
ược một khoản vốn trong thanh toán như: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài
khoản tiền gửi séc bảo chi, séc định mức, các khoản tiền phong tỏa do ngân hàng
chấp nhận hối phiếu thương mại v.v Các khoản tiền tạm thời được tính khởi tài
khoản này nhập vào tài khoản khác chờ xử lý, nên được coi là tiền nhàn rỗi. Thông
qua nghiệp vụ đại lý, ngân hàng thương mại cũng thu hút được một lượng vốn đang kể
trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác, nhận
và chuyển vốn cho một khách hàng khác hay một dự án đầu tư. Do việc phát triển đ-
ược thực hiện theo tiến độ công việc, nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời khoản
tiền đó vào kinh doanh.
2- Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động nguồn vốn của ngân
hàng thương mại
2.1- Các nhân tố chủ quan.
- Chính sách lãi suất của ngân hàng thương mại
Như chúng ta biết yếu tố quan trọng nhất mà giúp cho khách hàng gửi tiền tại
ngân hàng vì họ mong được hưởng một phần thu nhập từ khoản tiền gửi đó. Như vậy,
chính sách lãi suất của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của
họ. Theo quan điểm của các nhà ngân hàng thì lãi suất huy động phải lớn hơn tỷ lệ
trượt giá và phải nhỏ hơn lãi suất cho vay, Tuỳ thuộc vào điều kiện hiện có của mọi
ngân hàng thì các ngân hàng đều đưa ra từng mức lãi suất đối với từng loại hình tiền
gửi làm sao có thể tạo tính hấp dẫn cho khách hàng và ở đâu có lãi suất hấp dẫn thì ở
đó sẽ huy động được nhiều vốn hơn nếu các yếu tố khác như nhau.
- Chất lượng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng thương mại
Đây cũng là nhân tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng tới khả năng huy
động vốn của ngân hàng thương mại. Các tổ chức xã hội cũng như các cá nhân, ngoài
Sự kiểm soát chặt chẽ bởi ngân hàng Trung ương như chính sách lãi suất, chính
sách tỷ giá, việc quy định tỷ lệ dự trữ bặt buộc… việc ngân hàng Trung ương qui định
khung lãi suất tiền gửi hoặc là qui định tăng hoặc hạ thấp lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng thu hút vốn của ngân hàng thương mại như việc không cho phép lãi suất
được biến động tự do sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh đối với các ngân hàng thương
mại trong việc huy động vốn, hoặc là việc ngân hàng hạ thấp mức lãi suất sẽ làm giảm
khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Chính sách tỷ giá của ngân
hàng Trung ương cũng ảnh hưởng tới khả năng thu hút vốn của ngân hàng thương mại
vì chính sách tỷ giá có ảnh hưởng đến tỷ lệ trượt giá của đồng tiền do đó sẽ ảnh hưởng
đến lãi suất tiền gửi. Việc quy định tỷ lệ dự trữ bặt buộc không hợp lý của ngân hàng
Trung ương đối với ngân hàng thương mại sẽ ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn của
ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại và cuối
cùng sẽ dẫn đến uy tín của ngân hàng thương mại đối với khách hàng.
- Thông tin đại chúng
Chính phương tiện truyền thống cũng ảnh hưởng đến khả năng khai thác vốn
của ngân hàng thương mại, bởi vì chính nó là phương tiện để chuyển tải những thông
tin về ngân hàng, thông tin về chính sách lãi suất hay những tiện ích của ngân hàng
thương mại đến mọi người để họ hiểu về lợi ích của việc gửi tiền vào ngân hàng đối
với chính bản thân họ và nền kinh tế.
- Những nhân tố liên quan đến dân cư
Ngoài các nhân tố trên thì các nhân tố liên quan đến dân cư cũng là yếu tố
quan trọng liên quan đến việc huy động vốn của ngân hàng thương mại như trình độ
văn hóa của dân cư, thói quen của nhân dân mỗi nước, sự tin tưởng của người dân
vào ngân hàng, thói quen chi tiêu của dân chúng.v.v…
thương mại với nhau để thu hút vốn. Như vậy, loại tiền gửi không kỳ hạn mà ngân
hàng huy động, ngân hàng phải trả chi phí thấp nhất nhưng nó lại có tính chất không
ổn định.
1.2. Tiền gửi có kỳ hạn
Ngân hàng có thể thu hút tiền nhàn rỗi với thời hạn khác nhau bằng loại hình
tiền gửi kỳ hạn. Tiền gửi kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng
với mục đích sinh lời và đến thời hạn khách hàng mới có thể rút tiền được.Tiền gửi
kỳ hạn có nhiều loại hình với mức lãi suất và thời hạn khác nhau như 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng và lãi suất càng cao khi thời hạn càng dài. Tuy nhiên để thu hút
khách hàng ngân hàng thương mại cũng có thể cho phép khách hàng rút tiền trước
thời hạn nhưng họ sẽ không được hưởng lãi suất
hoặc được hưởng lãi suất theo tiền gửi không kỳ hạn. ở Việt Nam trong những năm
qua thì tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn cũng có xu hướng tăng lên trong tổng số vốn tiền
gửi.
Như vậy, tiền gửi kỳ hạn ngân hàng sẽ trả chi phí cao hơn so với tiền gửi kỳ
hạn khi họ huy động nhưng nó có tính ổn định cao hơn vì khi đến thời hạn khách
hàng mới có thể rút tiền được.
1.3. Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền gửi của dân cư do tạm thời chưa có nhu cầu
sử dụng ngay gửi vào ngân hàng. Ngân hàng thường trả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao
hơn lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn, người gửi tiền được ngân hàng cấp một sổ tiết
kiệm phục vụ cho việc ghi chép gửi và rút tiền. Tiền gửi tiết kiệm không được phát
hành séc. Việc điều hành các tài khoản tiền gửi tiết kiệm phần lớn các nước được quy
định:
+ Sổ tiết kiệm chỉ được mở cho các thể nhân
+ Số dư tối đa của sổ tiết kiệm được quy định cho từng thời kỳ.
+ Chỉ có chủ tài khoản mới được quyền rút tiền, không được sử dùng séc.
Tiền gửi tiết kiệm gồm tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ
sẽ sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các
ngân hàng đang tiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh
khoản. Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng các nhu cầu
dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp, nó bổ sung hoặc thay thế cho
nguồn vay mượn từ ngân hàng Nhà nước. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân
hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng
đại lý (hoặc NHNN). Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc được đảm bảo bằng
các chứng khoán của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và
ngân hàng đi vay tăng lên.
2.3. Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách
phát hành các giấy nợ (kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất nhiều
Ngân hàng thương mại thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng
được nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm
bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Thông
thường đây là khoản vay không có đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi
suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng hỏ thường khó vay mượn trực
tiếp bằng cách này; họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được
bảo lãnh bởi Ngân hàng Đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát
triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn
của ngân hàng. Nghiệp vụ vay mượn tương đối phức tạp. Ngân hàng cần nghiên cứu
kỹ thị trường để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích
hợp. Các vấn đề về chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…cũng được
ngân hàng quan tâm.
3. Các nguồn khác:
3.1. Nguồn uỷ thác
Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như: uỷ thác cho vay, uỷ
thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác dải ngân,… Các hoạt động này tạo nên nguồn
uỷ thác tại ngân hàng. Ví dụ: NHNN&PTNT cho vay uỷ thác hộ cho Nhà nước đối
Vốn điều
lệ
(tỷ đồng)
Vốn huy
động
(tỷ đồng)
Dư nợ
cho vay
đầu tư
(tỷ đồng)
% Nợ xấu
(%)
Quỹ DP
(tỷ đồng)
NHNN&PTNT
NHĐT&PTVN
NHCT VN
NHNT VN
Tổng cộng
5.170
3.150
2.900
2.300
NH nước ngoài và 4 NH liên doanh chiếm khoảng gần 8.3% thị phần huy động vốn.
Thị phần hơn 10% còn lại thuộc về 37 NHTM CP, 880 Quỹ tín dụng nhân dân và
Quỹ tín dụng TW. Trong đó, NHNN&PTNT Việt Nam là NH đang đảm nhiệm vị trí
chủ tịch Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, đang giữ vai trò chủ lực trong hoạt động tín
dụng ở nông thôn, ước tính chiếm khoảng 95% thị phần khu vực kinh tế này, với
riêng dư nợ cho vay kinh tế hộ gia đình ử nông thôn đạt khoảng 74.170 tỷ đồng, hơn
7.0 triệu hộ dâng dư nợ chiếm trên 50% tổng số hộ ỏ khu vực nông thôn. NHNT Việt
Nam (Vietcombank) là NH giữ vị trí hàng đầu trong đầu tư vốn ngoại tệ cho các dự
án lớn, dự án của các Tổng công ty 90 – 91, của các doanh nghiệp khác, đóng vai trò
to lớn trong việc thực hiện tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, hiện đại hoá công nghệ và
phát triển dịch vụ ngân hàng. NHCT Việt Nam (Techcombank) cũng đóng vai trò
chủ đạo trong tài trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cung ứng hàng xuất khẩu hay thay thế hàng
nhập khẩu, tạo việc làm cho người lao động. Ngân hàng Đầu tư – Phát triển Việt
Nam thì đóng vai trò chủ đạo trong dầu tư vốn trung và dài hạn, vốn cho vay dài hạn
đạt 28.500 tỷ đồng, chiếm tới 48% tổng dư nợ ngân hàng này… Bên cạnh đó, công
nghệ ngân hàng đã và đang được hoàn thiện và hiện đại hoá. Trong 3 năm từ 2001 –
2003, hệ thống Ngân hàng thương mại đã đưa vào sử dụng hệ thống rút tiền tự động
ATM, triển khai dịch vụ vấn tin tài khoản BSMS, dịch vụ Phone Banking, mở thêm
loại hình tiết kiệm tích luỹ,… Các Ngân hàng thương mại đang từng bước hoàn thiện
những tiện ích ngân hàng, bước lên một tầng cao mới trong công nghệ ngân hàng.
2. Những tồn tại và một số nguyên nhân chủ yếu đối với kết quả huy
động vốn.
Bên cạnh những điều đã đạt được, các ngân hàng thương mại cũng gặp phải
không ít những vấn đề bất cập, bức xúc, nhất là trong thời gian gần đây, khi thị
trường trong và ngoài nước có nhiều biến động tiêu cực. Qua 6 tháng đầu năm 2004,
chúng ta có thể thấy rằng tình hình hoạt động của các Ngân hàng thương mại đang
tồn tại những vấn đề bất cập, bức xúc như sau:
- Trong một số các ngân hàng thương mại vẫn có tình trạng chưa chấp hành
hưởng xấu đến uy tín của ngân hàng, lòngtin của nhân dân đối với các ngân hàng, có
thể dẫn tới tình trạng dân rút vốn ào ạt tại Ngân hàng ACB năm 2003, tác động xấu
tới nguồn vốn của ngân hàng.
- Hiện tượng khách hàng vay vốn làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ dẫn
đến tình trạng căng thẳng về vốn đối với nhiều ngân hàng. Những hoạt động của
ngân hàng thương mại đang bọc lộ những yếu kém và rủi ro trong quá trình hoạt
động của mình.
- Ngoài ra, các TCTD và các NHTM còn có một số sai phạm như: vi phạm các
điều 78, 79, 81 Luật các TCTD; gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn không kịp thời,
không đúng quy định, không chấp hành nghiêm túc quy định về đảm bảo nợ vay nên
đã ảnh hưởng tới sự an toàn trực tiếp của chính các TCTD và các NHTM, ảnh hưởng
tới nguồn vốn của Ngân hàng.
*Những nguyên nhân:
Có một số nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên, nhưng chủ yếu là:
- Do sức ép cạnh tranh nên đã xảy ra nhiều trường hợp nới lỏng điều kiện vay
vốn , hạ lãi suất cho vay để giành dật khách hàng; cho vay khi khách hàng không đáp
ứng đủ các yêu cầu, điều kiện vay vốn, dẫn đến phát sinh nhiều rủi ro trong việc thu
hồi vốn.
- Chưa chủ động tiếp cận chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
của ngành, địa phương theo đường lối của Đảng, Nhà nước để phân tích, đánh giá
nhu cầu, dẫn đến việc tập trung vốn cho vay các dự án lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
- ý thức tuân thủ Pháp luật và chấp hành quy trình nghiệp vụ của một số cán
bộ còn yếu kém, một phần là do năng lực chuyên môn chưa cao. Tình trạng buông
lỏng quản lý thiếu kiểm tra giám sát còn diễn ra, dẫn đến những vụ việc tiêu cực
trong hệ thống ngân hàng.
- Việc thanh tra giám sát còn nhiều hạn chế do nhiều lý do khách quan cũng
như chủ quan. Điều này sẽ gây ra những tác động không tốt tới bản thân các ngân
hàng.
- Việc tiếp thị, thông tin quảng cáo chưa thực sự có hiệu quả, đồng thời khung