LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thế kỷ 20 đã chứng kiến sự phát triển như vũ bão của mọi ngành công nghiệp
và đặc biệt của khoa học công nghệ. Trong đó không thể không kể đến các thành
tựu công nghệ đã được ứng dụng vào ngành tài chính ngân hàng, tạo nên một
cuộc cách mạng hiện đại hóa, đồng thời đưa dịch vụ thanh toán điện tử trở thành
mũi nhọn kinh doanh của các ngân hàng. Nằm trong dịch vụ thanh toán điểm tử
này, thẻ thanh toán hay tiền điện tử ra đời không chỉ thay đổi chiến lược kinh
doanh của ngân hàng mà còn làm thay đổi thói quen tiêu dùng của mọi quốc gia.
Xét riêng về các ngân hàng, sau khi thẻ tín dụng do Ngân hàng Franklin
National Bank ở New York dược phát hành lần đầu tiên năm 1951, trước nhữg
đặc tính tiện dụng và an toàn hơn rất nhiều so với các phương tiện thanh toán
khác, ngày càng có rất nhiều ngân hàng và các tổ chức tín dụng tham gia vào
hoạt động kinh doanh thẻ.
Tính đến thời điểm hiện nay, thẻ thanh toán đã trở thành một phương tiện
thanh toán thông dụng và không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của nhiều
quốc gia trên thế giới. Với doanh số giao dịch hàng trăm tỷ đô la mỗi năm, thẻ
đang cạnh tranh quyết liệt cùng tiền mặt và séc trong hệ thống thanh toán toàn
cầu. Có lẽ chỉ trong vài thập kỉ tới việc phương tiện thanh toán thẻ sẽ thay thế
hầu hết các phương tiện thanh toán truyền thống không còn là điều ngạc nhiên
đối với tất cả chúng ta.
“Thế giới đang trở nên phẳng”, với một tấm thẻ nhựa nhỏ, người ta có thể
thanh toán tại bất cứ nơi nào trên thế giới, tại bất cứ thời điểm nào. Thẻ ngân
hàng – “chiếc ví điện tử” là một trong những dịch vụ ngân hàng được phát triển
dựa trên sự phát triển khoa học công nghệ.
1
Sự xuất hiện thẻ thanh toán đã làm thay đổi cách chi tiêu, thanh toán của cộng
đồng xã hội. Với các đặc tính vốn có và các tiện ích mà nó mang lại dịch vụ thẻ
đang từng bước thu hút được sự quan tâm của người dân. Điều đó sẽ tạo ra
những khoản lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại khi tham gia phát hành và
thanh toán thẻ. Nắm bắt được cơ hội này, ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế
tham khảo, luận văn được trình bày theo 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại VIB
Chương 3: Một số giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại VIB
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính cung cấp danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào khác
trong nền kinh tế, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán.
Như vậy, ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nền kinh tế. NH là người cho vay chủ yếu đối với các hộ tiêu dùng, các doanh
nghiệp, giúp họ thanh toán các khoản mua hàng hóa thông qua séc, thẻ thanh
toán, ...
Luật các TCTD của Việt Nam chỉ đưa ra định nghĩa về hoạt động
của NH, đó là: “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung nhận
thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp
các dịch vụ khác”. Cũng theo luật này, “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín
dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động khác có liên quan”
NHTM có hai hoạt động cơ bản đó là hoạt động kinh doanh và hoạt động
dịch vụ. Trong đó, hoạt động kinh doanh là những hoạt động mà NH cung cấp
cho KH, qua đó làm tăng thu nhập cho NH thông qua việc thu lãi từ chính các
hoạt động kinh doanh đó. Như vậy hoạt động kinh doanh bao gồm : cho vay, đầu
tư chứng khoán, đầu tư vào các doanh nghiệp,... Còn dịch vụ ngân hàng là những
hoạt động mà một ngân hàng cung cấp nhằm thực hiện theo yêu cầu ủy thác của
4
thưởng...
Nhưng tính chất chính của thẻ là sự linh hoạt và khả năng mở rộng rất nhiều
ứng dụng, hiện nay hầu hết các loại thẻ trên thị trường đã đưa vào một số tiện ích
mở rộng như sau:
Thanh toán hàng hóa - dịch vụ: tại các cửa hàng, trung tâm thương mại, siêu
thị, nhà sách, nhà hàng - khách sạn...
Thanh toán trực tiếp hoặc tự động các dịch vụ điện, nước, điện thoại, Internet,
phí bảo hiểm...
Mua các loại thẻ trả trước, thanh toán phí dịch vụ trực tiếp trên máy ATM.
Với công nghệ hiện đại được áp dụng sẽ có nhiều tiện ích hơn trên chiếc thẻ
nhỏ bé này. Xu hướng là chiếc thẻ đa năng trở thành vật duy nhất để quản lý và
giao dịch tất cả các dịch vụ ngân hàng:
Về mặt tài chính: thẻ đa năng sẽ quản lý tất cả các tài khoản tại ngân hàng
(tài khoản tiết kiệm, tiền gửi, tiền vay...), kể cả tài khoản ngoại tệ.
Về mặt xã hội: thẻ đa năng sẽ phát triển thành thẻ từ có gắn chip để lưu trữ
những thông tin cá nhân quan trọng khác như: sổ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, nhóm máu, các tiền sử bệnh...
6
Về mặt tiện ích cá nhân: thẻ đa năng là thẻ ghi nợ được cấp thêm hạn mức
tín dụng - gọi là thấu chi, chủ thẻ có thể ngồi tại nhà sử dụng các dịch vụ internet
banking, phone banking để thanh toán các loại phí dịch vụ, mua hàng trực tuyến.
* Các loại thẻ thông dụng trên thị trường:
Thẻ tín dụng (credit): chủ thẻ được ngân hàng cấp một hạn mức (số tiền được
sử dụng tối đa). Hằng tháng (hoặc định kỳ) ngân hàng sẽ gửi bản liệt kê những
khoản tiền đã sử dụng và yêu cầu chủ thẻ thanh toán lại cho ngân hàng. Thẻ tín
dụng có 2 loại: thẻ tín dụng nội địa và thẻ tín dụng quốc tế.
Thẻ thanh toán (thẻ ghi nợ - debit): chủ thẻ nạp tiền vào tài khoản thẻ và sử
dụng trong phạm vi số tiền mình có.
Thẻ ATM: là thẻ chỉ dùng để rút tiền trên máy ATM.
Thẻ đa năng: là loại thẻ được tích hợp và mở rộng tất cả các tính chất của các
trên.
b. Khái niệm dịch vụ thẻ ngân hàng
Cùng với quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng ở các lĩnh vực đời
sống kinh tế của đất nước mà trong đó có dịch vụ ngân hàng, dịch vụ thẻ ngân
hàng là sự phát triển cao của dịch vụ ngân hàng, là sự phát triển của khoa học
công nghệ. Dịch vụ thẻ ngân hàng là một trong các dịch vụ ngân hàng hiện đại,
gắn chặt và phát triển cùng với dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) và thương
mại điện tử (e-commerce).
8
Như trên đã nói, thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán hiện đại,
“chiếc ví điện tử” của người sử dụng, dịch vụ thẻ là một trong các dịch vụ ngân
hàng hiện đại, đây là loại hình dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm
giúp cho khách hàng có thể chi tiêu một cách thuận tiện, an toàn, chủ động mà
không cần dùng đến tiền mặt. Đồng thời, dịch vụ thẻ giúp cho ngân hàng đa
dạng hóa loại hình dịch vụ, gia tăng thu nhập cho ngân hàng, nâng cao năng lực
cạnh tranh của ngân hàng trên thương trường.
1.1.2.2. Nội dung dịch vụ thẻ ngân hàng
Dịch vụ thẻ do ngân hàng cung cấp bao gồm nhiều nội dung hoạt động
khác nhau với mục đích cung cấp cho khách hàng phương tiện thanh toán và
dịch vụ thanh toán hiện đại. Trong đó hai nội dung quan trọng của dịch vụ này
đó là hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ.
Dưới đây là các chủ thể tham gia vào hoạt động phát hành và thanh toán
thẻ:
- Ngân hàng phát hành:
Ngân hàng phát hành có thể là thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ
quốc tế, là Ngân hàng cung cấp thẻ cho khách hàng. Ngân hàng phát hành chịu
trách nhiệm chấp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, ở và quản lý tài
khoản thẻ, đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng đối với chủ thẻ.
Ngân hàng phát hành quy định các điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ cho
các chủ thẻ. Ngân hàng phát hành có quyền ký kết hợp đồng đại lý với bên thứ
- Ngân hàng thanh toán
Là ngân hàng trực tiếp ký kết hợp đồng với cơ sở tiếp nhận và thanh toán
các chứng từ giao dịch do cơ sở chấp nhận thẻ xuất trình. Một ngân hàng có thể
vừa đóng vai trò thanh toán thẻ vừa đóng vai trò phát hành.
Trong hợp đồng chấp nhận ký kết với các đơn vị cng ứng hàng hóa, dịch
vụ, ngân hàng thanh toán thẻ cam kết: Chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống
thanh toán thẻ của ngân hàng, cung cấp các thiết bị đọc thẻ tự động cho các đơn
vị này kèm theo những hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên
cách thức vận hành cùng với dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng đi kèm trong suốt thời
gian hoạt động, quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn
vị này. Thông thường ngân hàng thanh toán thu từ các đơn vị cung ứng hàng hóa
dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ một mức phí chiết khấu cho việc xử lý
các giao dịch có thanh toán bằng thẻ tại đây.
- Đơn vị chấp nhận thẻ:
Là các đơn vị kinh doanh hàng hóa và dịch vụ có ký kết với ngân hàng
thanh toán về việc chấp nhận thẻ như: nhà hàng, khách sạn, cửa hàng,...
Để trở thành đơn vị chấp nhận thẻ, các đơn vị kinh doanh phải có tình hình
tài chính và năng lực kinh doanh tốt. Là đơn vị chấp nhận thẻ, các tổ chức này có
được lợi thế cạnh tranh bởi thanh toán thẻ giúp cho họ tăng uy tín trong kinh
doanh, từ đó có thể tăng doanh thu và lợi nhuận
a. Hoạt động phát hành thẻ
Có thể nói, nghiệp vụ phát hành thẻ có những đặc điểm riêng tùy theo
chiến lược và nguyên tắc hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng. Tuy nhiên,
nghiệp vụ này có những nét cơ bản như sau:
Quy trình phát hành thẻ cho khách hàng bao gồm các bước sau:
11
Sơ đồ 1: Sơ đồ quy trình phát hành thẻ
(1) Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ cho ngân hàng phát hành
(2) Ngân hàng phát hành kiểm tra tính chính xác, hợp lệ của các thông tin trên hồ
sơ phát hành thẻ do khách hàng khai báo. Tham khảo, đối chiếu với những thông
ngân hàng còn được hưởng phí trao đổi do ngân hàng thanh toán thẻ chia sẻ từ
phí thanh toán thẻ, từ việc sử dụng số dư trên tài khoản tiền gửi tạm thời khách
hàng chưa sử dụng. Đây là phần thu nhập cơ bản của các tổ chức tài chính, ngân
hàng phát hành thẻ.
b. Hoạt động thanh toán thẻ
* Quy trình thanh toán thẻ:
Như ta đã biết theo tính chất thanh toán thẻ có các loại như thẻ tín dụng,
thẻ ghi nợ. Với mỗi loại thẻ này quy trình thanh toán là khác nhau.
13
Sơ đồ 2: Quy trình thanh toán thẻ tín dụng:Quy trình chung
1) Chủ thẻ xuất trình thẻ tại ĐVCNT/ĐƯTM để thực hiện giao dịch thanh
toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt;
2) ĐVCNT/ĐƯTM thực hiện giao dịch thanh toán bằng thẻ, nếu thẻ đủ
điều kiện thanh toán, thì lập hoá đơn, giao tiền/hàng và trả lại thẻ cho khách
hàng;
3) ĐVCNT/ĐƯTM nộp hoá đơn thanh toán thẻ hoặc truyền thông tin giao
dịch thanh toán bằng thẻ về ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ của
ĐVCNT/ĐƯTM để được tạm ứng thanh toán số tiền trên các hoá đơn giao dịch;
4) NH thanh toán (NHTT) kiểm tra tính hợp lệ trên hoá đơn hoặc tiếp
nhận thông tin ĐVCNT/ĐƯTM truyền về, sau đó làm thủ tục tạm ứng thanh toán
cho ĐVCNT/ĐƯTM (sau khi đã nhận được thanh toán của NHPH);
14
Chủ thẻ
(Card Holder)
NH thanh toán
(Acquiring bank)
ĐVCNT/ĐƯTM
(Merchant)
- POS
NH phát hành
(Acquiring bank)
ĐVCNT/ĐƯTM
(Merchant)
- POS
(1)
(2)
(6)
(5)
(4)
(3)
(7)
3) ĐVCNT/ĐƯTM nộp hoá đơn thanh toán thẻ hoặc truyền thông tin
giao dịch thanh toán bằng thẻ về ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ của
ĐVCNT/ĐƯTM để được tạm ứng thanh toán số tiền trên các hoá đơn giao dịch;
4) NH thanh toán (NHTT) kiểm tra tính hợp lệ trên hoá đơn hoặc tiếp nhận thông
tin ĐVCNT/ĐƯTM truyền về, sau đó làm thủ tục tạm ứng thanh toán cho
ĐVCNT/ĐƯTM (sau khi nhận được thanh toán của NHPH);
5) NHTT truyền thông tin các giao dịch thanh toán bằng thẻ đã tạm
ứng thanh toán cho các ĐVCNT/ĐƯTM về NH phát hành thẻ tương ứng;
6) NH phát hành thẻ (NHPH) sau khi tiếp nhận các thông tin giao dịch
của các chủ thẻ từ NHTT sẽ thực hiện thanh toán cho NHTT;
7) NHPH ghi nợ vào tài khoản thẻ của chủ thẻ;
1.2. Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan điểm về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại bao gồm các nội dung
như: gia tăng số lượng khách hàng sử dụng thẻ của ngân hàng, gia tăng các tiện
ích đi kèm theo việc thanh toán bằng thẻ, dịch vụ thẻ ngày càng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó gia tăng thu nhập cho ngân hàng từ các
loại phí, từ việc sử dụng số dư tài khoản chủ thẻ, từ đó đảm bảo thực hiện mục
tiêu của ngân hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất.
17
thanh toán, chuyển khoản, mua hàng qua mạng, thanh toán các hóa đơn điện,
nước, ... và rất nhiều tiện ích khác giúp cho thẻ thực sự là phương tiện thanh toán
hiện đại, như vậy nếu dịch vụ thẻ của ngân hàng càng cung cấp nhiều tiện ích rõ
ràng càng có thế mạnh trong việc thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển
nói chung của dịch vụ này.
1.2.2.2. Số lượng thẻ phát hành và số lượng khách hàng sử dụng thẻ
Số lượng khách hàng sử dụng thẻ và số lượng thẻ phát hành không phải là
một. Trong xu thế hiện nay, một khách hàng có thể sử dụng nhiều loại thẻ cùng
lúc, trong đó có những loại thẻ được sử dụng với tần suất nhiều hơn (có thể coi là
thẻ “chính”), với các loại thẻ này, ngân hàng sẽ có thu nhập lớn hơn. Nhu vậy,
mục tiêu của ngân hàng không chỉ gia tăng số lượng khách hàng sử dụng thẻ và
thanh toán bằng thẻ, mà còn làm thế nào để cho thẻ mà ngân hàng mình phát
hành, được sử dụng như là những thẻ “chính” của khách hàng. Số lượng khách
hàng không ngừng gia tăng cùng với số lượng thẻ phát hành cũng là mục tiêu
của bất cứ một ngân hàng nào, đó là một trong các tiêu chí đánh giá sự phát triển
dịch vụ thẻ của ngân hàng.
Khi thị trường tài chính nói chung và thị trường thẻ ngân hàng nói riêng
ngày càng phát triển thì mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay
gắt. Chính vì vậy, để có thể thu hút khách hành, các ngân hàng thường có các
chính sách khuyếch trương quảng cáo sao cho số lượng thẻ của ngân hàng được
nắm giữ càng nhiều càng tốt. Số lượng thẻ phát hành càng nhiều chứng tỏ dịch
vụ thẻ của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, số
lượng thẻ được phát hành càng nhiều làm cho thu nhập của ngân hàng càng cao
và ngược lại. Chính vì vậy, việc gia tăng số lượng thẻ, gia tăng khách hàng, sự
trung thành của khách hàng trong việc sử dụng thẻ của ngân hàng là một trong
các tiêu chí quan trọng mà ngân hàng nào cũng hướng tới.
18
1.2.2.3. Số lượng thẻ hoạt động trên tổng số lượng thẻ phát hành
Con số thẻ được phát hành không đồng nghĩa với việc ngần ấy thẻ đang
Xét cho cùng, ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ với mục đích gia tăng thu
nhập, gia tăng số lượng dịch vụ để giảm rủi ro và nâng cao khả năng cạnh tranh
cho ngân hàng. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thẻ có thể liệt kê theo cac
nguồn như sau:
* Thẻ nội địa: Nguồn thu từ phí phát hành, phí duy trì thẻ,…Thu từ việc sử
dụng số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, thu lãi cho vay từ khoản tín dụng
tiêu dùng...
* Thẻ quốc tế: - Thẻ ghi nợ có nguồn thu từ các khoản phí liên quan, số dư
trên tài khoản thanh toán, phí từ Interchange - là một số phần trăm tính trên
doanh số chủ thẻ giao dịch và phí do Visa/MasterCard trả cho ngân hàng phát
hành.
- Thẻ tín dụng : Phí phát hành, thường niên,…, thu lãi cho
vay từ khoản tín dụng tiêu dùng, thu phí Interchange - là một số phần trăm tính
trên doanh số chủ thẻ giao dịch, phí do Visa/MasterCard trả ngân hàng phát
hành.
* Thu từ POS: Thu từ các điểm bán hàng một số phần trăm tính trên doanh số
thanh toán, trả cho tổ chức thẻ quốc tế một phần, còn lại là thu của ngân hàng.
20
* Thu từ ATM: Đây là nguồn thu nếu áp dụng việc tính phí giao dịch trên
ATM: phí rút tiền, phí chuyển khoản, phí rút từ các khách hàng có thẻ ATM của
ngân hàng khác trong liên minh,...
1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương
mại
1.3.1. Nhân tố chủ quan
1.3.1.1. Mức độ đầu tư cho dịch vụ thẻ
Để phát triển dịch vụ thẻ đòi hỏi chi pí đầu tư rất lớn. Đó là chi phí đầu tư
cho phát triển cơ sở hạ tầng về phát hành và thanh toán thẻ, như chi phí đầu tư
máy móc thiết bị, bên cạnh đó còn chi phí đầu tư cho các đơn vị chấp nhận thẻ,
chi phí chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân viên,...đòi hỏi các ngân hàng phải
có mức độ đầu tư thỏa đáng cho lĩnh vực kinh doanh này.
là một hình thức thanh toán hiện đại, mang tính chuẩn hóa cao độ và có quy trình
vận hành thống nhất, vì vậy cần phải có đội ngũ nhân lực có trình độ, có khả
năng tiếp cận với công nghệ cao. Để làm được các dịch vụ về thẻ, các nhân viên
phải nắm vững quy trình phát hành và thanh toán thẻ, hiểu biết về lĩnh vực tin
học, năng động, sáng tạo, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ.
Ngân hàng nào có đội ngũ nhân viên tốt và có chính sách đào tạo hợp lý sẽ có
thế mạnh trong việc phát triển dịch vụ thẻ.
1.3.1.4. Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng
22
Thanh toán thẻ được xem là phương thức thanh toán an toàn, tuy vậy nó
vẫn tiềm ẩn những rủi ro như: gian lận, giả mạo thẻ, lộ pin, chủ thẻ bị mất thông
tin, sự cố vận hành hệ thống thanh toán, điều này là cản trở cho sự phát triển của
dịch vụ thẻ bởi khách hàng có thể e ngại khi sử dụng dịch vụ. Do đó ngân hàng
phải có kỹ năng trong việc phòng chống rủi ro trong việc phát hành và thanh
toán, gia tăng sự tin tưởng cho khách hàng.
Bên cạnh rủi ro nêu trên, còn có rủi ro cho bản thân ngân hàng khi phát
triển dịch vụ này, song song với các hoạt động kinh doanh khác, đó là rủi ro hoạt
động như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất,... khi ngân hàng cung
cấp càng nhiều dịch vụ thì yêu cầu năng lực quản trị rủi ro càng cao mới có thể
đảm bảo sự phát triển ổn định của ngân hàng.
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Môi trường pháp lý
Các quy chế, quy định trong lĩnh vực kinh doanh thẻ ngân hàng có thể
khuyến khích việc kinh doanh và sử dụng thẻ nếu đó là những cơ chế hợp lý,
đồng bộ cũng như phù hợp với điều kiện thực tế, nhưng nó cũng có tác động
ngược lại nếu quá chặt chẽ hay quá lỏng lẻo hay không phù hợp với tình hình
thực tiễn.
1.3.2.2. Sự phát triển kinh tế xã hội
* Sự phát triển ổn định của nền kinh tế: Sự phát triển của lĩnh vực kinh
doanh thẻ thanh toán phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế. Kinh tế
24
này gây khó khăn khi phát triển dịch vụ cho các ngân hàng nhỏ và những ngân
hàng mới gia nhập thị trường.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI VIB
2.1. Khái quát về VIB
2.1.1. Lịch sử hình thành và khái quát hoạt động kinh doanh của VIB
2.1.1.1. Lịch sử hình thành
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (tên gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế -
VIB Bank) được thành lập theo Quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc
Tế bao gồm các cá nhân và doanh nhân hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên
trường quốc tế; Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Ngân hàng Quốc Tế đang tiếp tục củng cố vị trí của mình trên thị trường tài
chính tiền tệ Việt Nam. Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/09/1996 với số vốn
điều lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam, Ngân hàng Quốc Tế đang phát triển
thành một trong những tổ chức tài chính trong nước dẫn đầu thị trường Việt
Nam.
Ngân hàng Quốc Tế cung cấp một loạt các sản phẩm, dịch vụ tài chính trọn gói
cho khách hàng với nòng cốt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động lành
mạnh và những cá nhân, gia đình có thu nhập ổn định.
25