1
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
*****
PHẠM THỊ THANH HUYỀN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN VĂN TÍNH
Hà Nội, 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng những tài liệu, thông tin
được đăng tải trên các sách, tác phẩm, tạp chí và các báo cáo theo danh mục tài liệu
tham khảo của luận văn.
Học viên cao học
2
Phạm Thị Thanh Huyền
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 8
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
ATM Automatic Teller Machine (Máy giao dịch tự động)
Sơ đồ 2.1: Quy trình phát hành thẻ của VPBANK 48
Biểu đồ 2.1: Số dư huy động qua thẻ Autolink từ năm 2009-2011 62
Biểu đồ 2.2: Số lượng thẻ ghi nợ quốc tế phát hành từ 2009-2011 65
Biểu đồ 2.3: Số dư huy động qua thẻ ghi nợ quốc tế từ 2009-2011 66
Biểu đồ 2.4: Số lượng thẻ tín dụng phát hành từ năm 2009-2011 70
Biểu đồ 2.5: Số dư nợ thẻ tín dụng từ năm 2009-2011 71
Biểu đồ 2.6: Lãi thu được từ thẻ tín dụng quốc tế từ 2009-2011 72
Biểu đồ 2.7: Số lượng thẻ E – Card phát hành từ năm 2009-2011 74
Biểu đồ 2.8: Giá trị giao dịch qua thẻ E – Card từ năm 2009-2011 74
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
4
Sau hơn 5 năm gia nhập vào Tổ chức kinh tế thế giới (WTO) đã tạo rất nhiều
điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm phát triển của các nước
tiên tiến nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với nền kinh tế nói chung và các
ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng. Đặc biệt cùng với xu thế phát triển như vũ
bão của nền kinh tế thế giới và khu vực là quá trình phát triển không ngừng của
ngành khoa học công nghệ thông tin, tự động hoá đã tạo ra nhiều bước đột phá trên
con đường phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng trên thế giới. Đặc biệt, thanh
toán không dùng tiền mặt đang dần trở thành xu hướng tất yếu mà các quốc gia đang
hướng tới.
Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi
lúc, mọi nơi vượt qua cả giới hạn về không gian. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động
thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt có thể dẫn đến rất nhiều
bất lợi và rủi ro như: chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (chi phí in ấn
tiền, chi phí vận chuyển, bảo quản , kiểm đếm rất tốn kém…); việc thực hiện các giao
dịch thanh toán dùng tiền mặt dễ bị các đối tượng lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì
hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc chủ nợ; sử dụng
tiền mặt trong thanh toán sẽ tạo điều kiện cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực
tiếp đến lợi ích của các cá nhân, tổ chức và tình hình an ninh cũng như phát triển kinh
- Hệ thống trên phương diện lý luận những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ
trong ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng, đánh giá hoạt động của ngân hàng VPBank trong
lĩnh vực thẻ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ thẻ của VPBank trong
thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các lý thuyết cơ bản về ngân hàng.
- Hoạt động của ngân hàng thương mại.
- Hoạt động dịch vụ thẻ tại ngân hàng VPBank.
- Các quy định hiện hành của cơ quan quản lý về dịch vụ thẻ.
6
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê và tổng hợp, phương pháp so sánh, …
Phương pháp tiếp cận đề tài: nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố
về các vấn đề liên quan; điều tra khảo sát tại chỗ.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn gồm các nội dung sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ thẻ NHTM
Chương 2: Thực trạng về Dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Việt Nam
Thịnh Vượng
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Việt
Nam Thịnh Vượng.
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu, sơ đồ
Danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THẺ
của thẻ nhằm để xác định đúng người sử dụng thẻ khi thanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ thẻ tại đơn vị chấp nhận thẻ.
- Dải băng từ: là nơi lưu trữ các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ đã được mã hoá
theo những tiêu chuẩn nhất định bao gồm 3 rãnh. Trong đó:
Rãnh 1 : Lưu trữ các thông tin như số tài khoản thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu
lực thẻ.
Rãnh 2 : Lưu trữ mã số kiểm tra, loại thẻ, các thông tin khác.
Rãnh 3 : Lưu trữ mã số nhận dạng cá nhân (số PIN) được sử dụng để rút tiền
mặt tại các máy rút tiền mặt tự động.
- Một số thông tin tham chiếu: Bao gồm các thông tin như số điện thoại của
8
NH phát hành thẻ để liên hệ, số kiểm tra để tăng thêm sự an toàn của thẻ nhằm hạn
chế các trường hợp làm giả thẻ.
1.1.2 Phân loại thẻ ngân hàng
Với mỗi sản phẩm thẻ ngân hàng sẽ cung ứng các dịch vụ tương ứng bao
gồm dịch vụ phát hành và thanh toán cho từng loại thẻ. Vì vậy, thẻ ngân hàng được
phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo từng tiêu chí:
a. Phân loại theo đặc tính kỹ thuật
- Thẻ khắc chữ nổi: Là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản được
khắc nổi trên thẻ, loại thẻ này đã nhanh chóng bị thay thế vì tính bảo mật kém, dễ bị
làm giả.
- Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với 1 dải băng từ chứa
3 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong hơn 20
năm gần đây. Tuy nhiên thẻ băng từ có một số nhược điểm sau:
+ Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được,
có thể đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
+ Thẻ mang thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp không áp dụng
được các kỹ thuật mã hóa đảm bảo an toàn. Do đó, trong những năm gần đây khách
hàng sử dụng loại thẻ này thường gặp nhiều rủi ro và đã bị lợi dụng lấy cắp tiền.
- Thẻ điện tử có bộ vi xử lý chip (thẻ thông minh): là thế hệ mới nhất của thẻ
hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng hóa dịch vụ tại những cơ
sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng là một phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt cho phép người sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau. Hình thức của
thẻ tương tự như thẻ thanh toán ngân hàng, điểm khác biệt cơ bản là nội dung kinh
tế: mỗi lần sử dụng giao dịch là một lần nhận nợ vay ngân hàng. Sử dụng thẻ này,
ngân hàng thỏa thuận cấp một hạn mức cho chủ thẻ và chủ thẻ được sử dụng trong
hạn mức đó, đến thời hạn quy định phải hoàn trả cho ngân hàng. Do đó, căn cứ để
sử dụng thẻ tín dụng là phát hành trên tài khoản tiền vay ngân hàng.
- Thẻ trả trước (Prepaid card): đây là loại thẻ mới được phát triển trên thế
giới, khách hàng không cần phải thực hiện các thủ tục phát hành thẻ theo yêu cầu
10
của ngân hàng mà họ chỉ cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng bán
cho một tấm thẻ với mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống như
mọi thẻ bình thường khác, điểm khác là thẻ này chỉ được giới hạn trong số tiền có
trong thẻ và chỉ tiêu trong một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vào quy định
của mỗi ngân hàng.
c. Phân loại thẻ theo phạm vi lãnh thổ:
- Thẻ trong nước: là thẻ do các ngân hàng, tổ chức tín dụng phát hành và
chỉ có giá trị sử dụng trong phạm vi một quốc gia. Thông thường đó là các thẻ
ghi nợ do ngân hàng thương mại phát hành để sử dụng tại hệ thống ATM và
mạng lưới ĐVCNT của ngân hàng phát hành, ngân hàng đại lý và ngân hàng liên
kết với ngân hàng phát hành.
- Thẻ quốc tế: là loại thẻ được sử dụng cả ở các quốc gia phát hành thẻ và
trên phạm vi quốc tế. Thẻ này mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế do
các ngân hàng, tổ chức tín dụng làm đại lý phát hành như VISA, MASTER Để
phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải đăng ký và được chấp nhận
là thành viên của tổ chức thẻ quốc tế.
Với mỗi loại thẻ sẽ có các hạng thẻ khác nhau như thẻ thường, thẻ bạc, thẻ
vàng. Hạng thẻ khác nhau quy định hạn mức tín dụng được cấp, hạn mức rút
tiền, chi tiêu trong ngày khác nhau.
internet hoặc phí bảo hiểm, mua các loại thẻ trả trước
- Vấn tin tài khoản, vấn tin giao dịch: cho phép chủ thẻ quản lý chi tiêu của
mình một cách hiệu quả nhờ vào việc chủ thẻ có thể kiểm tra được số dư tài khoản
thẻ cũng như kiểm tra lại được các giao dịch gần nhất của mình.
- Chuyển khoản: các khách hàng có thể chuyển tiền hoặc nhận tiền từ người
thân qua tài khoản của Ngân hàng, khách hàng cũng có thể nhận được tiền lương,
tiền thưởng và rút tiền lương ra nhờ một chiếc thẻ.
- Gửi tiền vào tài khoản: chủ thẻ có thể gửi tiền vào tài khoản trực tiếp tại
máy ATM chuyên dụng của Ngân hàng.
- Hưởng lãi suất không kỳ hạn trên số dư tài khoản thẻ.
12
Nói chung việc sử dụng thẻ có rất nhiều tiện ích. Khách hàng ưa thích sử
dụng thẻ phần lớn vì thẻ là một chiếc ví điện tử nơi khách hàng có thể khá yên tâm
cất giữ tiền mặt, không những thế khoản tiền mặt này có thể sinh lời với lãi suất
không kỳ hạn.
1.2.2 Vai trò chung của dịch vụ thẻ
Thẻ thanh toán có vai trò quan trọng trong lưu thông tiền mặt, giảm khối
lượng lớn tiền mặt trên thị trường, từ đó giảm bớt nhiều chi phí cho việc phát hành,
lưu thông, bảo quản, chuyên chở , vì thế tiết kiệm những phí tổn không đáng có
cho xã hội.
Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: hầu hết
mọi giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh
toán trực tuyến (ONLINE) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so
với những giao dịch qua các phương tiện thanh toán như séc, ủy nhiệm thu, ủy
nhiệm chi… Thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi
thông tin đều được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.
Thẻ thanh toán sẽ giúp các ngân hàng duy trì, điều chỉnh tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN, tránh hiện tượng lạm phát xảy ra cho
nền kinh tế. NHNN sẽ điều hoà lượng tiền lưu thông trên thị trường, góp phần thực
thi hiệu quả các chính sách tài chính, tiền tệ và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
Với việc ngân hàng cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong thẻ tín
dụng để thanh toán tiền hàng hóa mà không cần phải trả bất cứ một khoản lãi nào
trong một khoảng thời gian nhất định, như vậy ngân hàng đã tạo điều kiện cho
khách hàng mở rộng khả năng thanh toán. Phương thức cấp tín dụng này vừa đơn
giản vừa an toàn, giúp ngân hàng mở rộng tín dụng và mở rộng thị trường.
Sự tiện lợi mà thẻ mang lại cho người sử dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, ngân
hàng… khiến cho ngày càng có nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường chi
tiêu bằng thẻ. Điều này làm cho thẻ trở thành một công cụ hữu hiệu góp phần thực
hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Khuyến khích phát hành, thanh toán thẻ
14
cũng là khuyến khích tăng nhu cầu tiêu dùng. Điều này cũng tạo nên một kênh cung
ứng vốn hiệu quả của các ngân hàng thương mại.
Lợi ích lớn nhất mà thẻ đem lại cho ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ
là lợi nhuận. Thu nhập từ thẻ mà ngân hàng có được là: phí thu từ ĐVCNT, phí sử
dụng thẻ (phí thường niên) và lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh
toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ các dịch vụ ngân hàng và đầu tư kèm theo.
Một yếu tố nữa có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng từ thẻ đó là lòng trung
thành của khách hàng. Một khi khách hàng đã có tài khoản thẻ tại ngân hàng với
nhiều dịch vụ tiện ích thì hiếm khi họ lại muốn chuyển sang một tổ chức đối thủ
khác. Lợi dụng tâm lý này của khách hàng, ngân hàng có thể tăng lãi suất tương đối
cho khoản tín dụng thanh toán thẻ một cách hợp lý để tăng thêm lợi nhuận cho ngân
hàng mà không sợ mất khách hàng đồng loạt.
1.2.3.2 Vai trò của thẻ ghi nợ (Debit Card)
Việc phát hành thẻ ghi nợ cùng với những dịch vụ tiện ích kèm theo là một
trong những công cụ hữu hiệu giúp ngân hàng tạo lập nguồn vốn hiệu quả với chi
phí huy động vốn thấp nhất. Để thực hiện việc thanh toán qua ngân hàng, các cá
nhân, tổ chức phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán và gửi một số tiền nhất định
cho ngân hàng. Loại tiền này luôn ghi dưới dạng số dư có, là nguồn vốn huy động
tạm thời mà chưa được sử dụng đến. Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử
dụng để thực hiện nghiệp vụ tín dụng, nhằm phát triển kinh tế, sau khi duy trì một
tiền cho tất cả các khoản này, việc phân bổ tới các ngân hàng khác có liên quan sẽ
do tổ chức thẻ quốc tế thực hiện. Sau lợi nhuận, khả năng cung cấp dịch vụ toàn cầu
là lợi ích lớn nhất cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa, hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Thẻ thanh toán đang ngày một phát triển nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu
thanh toán của khách hàng. Vì vậy, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thể hiện
ở số lượng và chất lượng của dịch vụ ngân hàng, trong đó có dịch vụ thanh toán.
Tóm lại: thẻ thanh toán là một hình thức thanh toán tiên tiến dựa trên việc sử
dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại. Các ngân hàng đang tăng cường hoạt động kinh
16
doanh thẻ nhằm thu hút nhiều hơn nguồn vốn trong xã hội. Trên cơ sở đó góp phần
đáp ứng nhu cầu vốn và mang lại nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế.
1.3 Phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
Phát triển dịch vụ thẻ là việc gia tăng về số lượng và chất lượng dịch vụ thẻ.
Kinh doanh thẻ là một loại hình kinh doanh dịch vụ mới, điều kiện thị trường
hết sức đa dạng và liên tục thay đổi. Do vậy, để phát triển và chiếm lĩnh được thị
trường này, các NHTM phải luôn theo sát được các nhu cầu và thị hiếu của khách
hàng, phản ứng nhanh chóng và chính xác với từng biến động của thị trường thẻ.
Dịch vụ kinh doanh thẻ hiện nay mới chỉ là một mảng nhỏ trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng, lợi nhuận thu được từ dịch vụ này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong
tổng lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên với tiềm năng phát triển của dịch vụ này
trong tương lai thì các NHTM đều coi đây là một dịch vụ quan trọng.
Để phát triển dịch vụ thẻ, ngân hàng luôn cố gắng đẩy mạnh công tác phát hành
thẻ mới, nghiên cứu đưa ra các sản phẩm thẻ mới đa dạng, phong phú hướng tới nhiều
đối tượng khách hàng khác nhau. Không chỉ chú trọng việc phát triển dịch vụ thẻ về
lượng, các ngân hàng còn quan tâm đến vấn đề chất lượng dịch vụ do mình cung cấp.
Để khách hàng luôn hài lòng và yên tâm khi sử dụng dịch vụ thẻ của mình, ngân hàng
đã có bộ phận chăm sóc khách hàng, sẵn lòng hướng dẫn, giải đáp và giải quyết các
khiếu nại của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng còn liên kết với các tổ chức kinh tế
lớn, có thương hiệu để cho ra đời các sản phẩm thẻ liên kết mà khách hàng sẽ được
tế của khách hàng được thực hiện chính xác, không phải chờ đợi lâu do sự cố hỏng
máy cà thẻ hay sự cố truyền dữ liệu giữa ĐVCNT và ngân hàng thanh toán. Các thông
tin dữ liệu thẻ của khách hàng phải được bảo mật an toàn, dữ liệu thẻ không bị lấy cắp
để thực hiện các giao dịch giả mạo.
1.4Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại
1.4.1 Các nhân tố khách quan
a. Thói quen tiêu dùng của dân cư
Thói quen sử dụng phương tiện thanh toán của dân cư là nhân tố ảnh hưởng
18
lớn đến sự phát triển của dịch vụ thẻ. Nếu thị trường thẻ mà tại đó người dân đa số
sử dụng tiền mặt để thanh toán hàng hóa, dịch vụ thì thị trường đó không thể là điều
kiện tốt để phát triển dịch vụ thẻ. Chỉ khi việc thanh toán được thực hiện qua hệ
thống ngân hàng thị dịch vụ thẻ mới có thể phát huy được thế mạnh của nó. Do đó
để dần đưa phương thức thanh toán mới vào cuộc sống và dần thay đổi thói quen
tiêu dùng tiền mặt của người dân thì các ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong
việc quảng bá, khuyến cáo và hướng dẫn sử dụng thẻ thanh toán.
b. Môi trường kinh tế, xã hội
Tình hình và sự thay đổi của môi trường kinh tế cũng như việc thực hiện các
chính sách tiền tệ và tài khóa của Nhà nước có tác động rất mạnh mẽ đến nhu cầu
và cách thức sử dụng thẻ thanh toán của khách hàng:
Nếu nền kinh tế rơi vào suy thoái, thu nhập giảm sút và thất nghiệp tăng cao,
hoạt động của các doanh nghiệp sụt giảm thì nhu cầu đối với thanh toán thẻ của
ngân hàng cũng suy giảm theo. Trước tình hình đó buộc Ngân hàng Nhà nước phải
áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng để tăng cung tiền, giảm lãi suất, thúc đẩy sản
xuất, giảm thất nghiệp hoặc chính sách tài khóa mở rộng để tăng chi tiêu cho nền
kinh thế thúc đẩy sản xuất phát triển từ đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát
triển. Nhờ vậy, nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế tăng lên và sẽ thúc đẩy việc thanh
toán qua thẻ ngân hàng của dân cư.
Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng, các chỉ tiêu kinh tế đều tăng trưởng
tốt, tình hình sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt cho phát triển thanh toán
quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hóa dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ tài
chính ngân hàng nói riêng Chính những điều kiện đó đã hình thành các tụ điểm dân cư,
trung tâm thương mại, du lịch hoặc trung tâm sản xuất. Thực tế là các trung tâm kinh tế thì
nhu cầu về phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng cao hơn và phát triển hơn. Ở Việt Nam,
các trung tâm kinh tế như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình
Dương là những nơi mà dịch vụ thẻ của tất các các ngân hàng phát triển nhất.
d. Môi trường chính trị pháp luật
Chính trị ổn định thì kinh tế mới phát triển, kinh tế phát triển thì dịch vụ ngân hàng
20
trong đó có dịch vụ thẻ sẽ phát triển. Kinh doanh của ngân hàng là một trong những ngành
kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và cơ quan chức năng của chính phủ.
Hoạt động của ngân hàng thường được điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật.
Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho ngân hàng một loạt các cơ hội mới và cả những thách
thức mới trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ như sự cho phép của ngân hàng nhà
nước đối với các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thanh toán thẻ trong lĩnh thổ Việt
Nam sẽ tạo ra điều kiện cho ngân hàng trong nước học hỏi kinh nghiệm về thanh toán
thẻ , tạo điều kiện cho thanh toán thẻ trong nước phát triển.
Về phía Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cũng đã rất tích cực trong việc đẩy
nhanh việc thanh toán không dùng tiền mặt thông qua việc ban hành các văn bản: Đề án
thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020 theo quyết
định số 291/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 05/2007 về việc trả lương qua
tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo Chỉ thị số
20/2007 /CT-TTg ngày 24/08/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn luôn được quốc tế đánh giá có mức độ ổn định chính
trị cao, cùng với môi trường pháp lý ngày càng được hoàn thiện, là thị trường lý tưởng để
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh mà ngân hàng là một chủ thể tham gia.
e. Đối thủ cạnh tranh
Nếu chỉ thấu hiểu khách hàng thôi chưa đủ, các ngân hàng không thể lơ là trước
các đối thủ cạnh tranh của mình. Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ đã
làm cho sự phát triển của ngân hàng ngày càng tùy thuộc vào sự vật lộn, chia sẻ giữa các
Nam gặp phải là hệ thống chấp nhận thẻ (ATM và POS) còn chưa đủ lớn để khuyến khích
các tầng lớp dân cư sử dụng thẻ trên diện rộng. Trong điều kiện chi phí đầu tư cần thiết để
lắp đặt cho một máy ATM khá lớn thì ngân hàng nào đủ khả năng mang lại sự sẵn sàng
cho người sử dụng (số lượng, địa điểm đặt máy, mức độ bao phủ thị trường) thì ngân hàng
đó sẽ chiếm ưu thế trên thị trường. Thực tế tại Việt Nam cũng cho thấy, việc một số ngân
hàng có số lượng máy ATM nhiều (như Vietcombank, Đông á…), lắp đặt tại những nơi
hợp lí như siêu thị, sân bay, các trung tâm thương mại, trường học… đã giành được khá
nhiều ưu thế về khai thác thị trường thẻ. Một khách hàng sử dụng không thể và không
22
chấp nhận tốn quá nhiều thời gian để đến nơi có máy rút tiền. Mặt khác, có một số ngân
hàng cung cấp thẻ như hệ thống máy ATM không phục vụ 24/24 (có thể do vấn đề an
ninh) cũng là một trong những trở ngại cho việc tìm kiếm thị trường.
Ngoài ra, nhiều ngân hàng của chúng ta với quy mô kinh doanh không lớn nên gặp
rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ, các giải pháp phần mềm
để triển khai hệ thống kinh doanh thẻ.
b. Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào thì nhân lực cũng là nhân tố quan trọng, cốt lõi
tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ có năng lực,
năng động và có nhiều kinh nghiệm đảm bảo quy trình phát hành, sử dụng và thanh
toán thẻ diễn ra một cách thông suốt, an toàn, và hiệu quả, phát huy được những
tiện ích vốn có của thẻ là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển hoạt động
dịch vụ thẻ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, sôi động của thị trường thẻ thanh
toán thì mỗi ngân hàng cần tạo lập cho mình có một nguồn nhân lực vừa phải đảm
bảo đủ số lượng vừa phải có chất lượng cao đảm bảo đáp ứng nhanh chóng và chính
xác nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng nào có sự quan tâm, có chính sách đào tạo
nhân lực trong kinh doanh thẻ hợp lý thì ngân hàng đó sẽ có cơ hội đẩy nhanh việc
kinh doanh thẻ trong tương lai. Việc đào tạo nhân viên am hiểu về nghiệp vụ ngân
hàng, hiểu biết về thẻ của ngân hàng mình và cả ngân hàng khác nhằm giải đáp, hỗ
trợ, tư vấn cho khách hàng là một trong những tiêu chí được đánh giá cao. Bởi tuy
d. Hoạt động quản lý rủi ro
Ngoài các nhân tố trên, không thể không kể đến các loại rủi ro trong phát hành và
thanh toán thẻ. Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có
liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ. Các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt gồm rủi ro
trong hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, rủi ro nghiệp vụ, rủi ro kỹ thuật và rủi ro đạo
đức. Rủi ro khi sử dụng thẻ là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến việc sử
dụng thẻ của khách hàng. Nếu ngân hàng có nhiều chính sách và biện pháp quản lý rủi ro,
đảm bảo an toàn trong sử dụng thẻ thì sẽ tạo được niềm tin ở khách hàng và thu hút được
24
nhiều khách hàng mới sử dụng dịch vụ thẻ. Ngược lại, khi ngân hàng không có những biện
pháp quản lý rủi ro trong hoạt động thẻ, dẫn đến tình trạng thẻ bị giả mạo, thất thoát tiền
của khách hàng sẽ làm khách hàng mất lòng tin và ngừng sử dụng dịch vụ thẻ, ảnh
hưởng không những tới uy tín và còn giảm doanh thu dịch vụ của ngân hàng.
e. Định hướng phát triển của ngân hàng
Định hướng của ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng trong phát triển dịch vụ
thẻ. Với những hoạt động cơ bản giống nhau nhưng mỗi ngân hàng sẽ có một hướng phát
triển khác nhau dựa trên những thế mạnh riêng có của mình. Và bản thân mỗi ngân hàng
trong những thời kỳ khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau. Hoạt động phát hành và
thanh toán thẻ sẽ được mở rộng khi ngân hàng chú trọng đến dịch vụ thẻ. Ngân hàng phải
xây dựng cho mình một chương trình mang tính chiến lược triển khai trong một thời gian
dài dựa trên cơ sở điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, môi trường cạnh
tranh…và dựa vào nội lực của chính mình.
g. Mạng lưới cây ATM và đơn vị chấp nhận thẻ
Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến quyết định sử dụng
dịch vụ thẻ của khách hàng. Với những ngân hàng có nhiều cây ATM, liên kết với nhiều
nhà hàng, khách sạn, các đơn vị chấp nhận thẻ và tham gia vào nhiều liên minh thẻ như
Smartlink, Banknet, VNBC thì sẽ tạo được nhiều thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng
thẻ, khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái và yên tâm khi không cần dùng tiền mặt mà có thể
thanh toán bằng thẻ khi sử dụng dịch vụ ở nhiều nơi. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển thẻ và tăng doanh thu dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, đối với những
Hơn một nửa sự gia tăng này là do sự tăng trưởng ở Trung Quốc, nơi phát hành thẻ
mở rộng cho các khu vực nông thôn và người lao động di cư.
Với lợi thế sẵn có về công nghệ, Hàn Quốc hiện đang thành công trong việc
lựa chọn phát triển thanh toán thẻ là phương tiện thanh toán chủ yếu trong dân cư,
đặc biệt là thẻ tín dụng bằng việc áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế cho các đơn
vị chấp nhận thẻ và người sử dụng thẻ nhờ đó thúc đẩy thanh toán thẻ qua POS và