Công tác thẩm định dự án đầu tư tại SeABank chi nhánh Hai Bà Trưng - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Thương mại ( NHTM ) là một trung gian tài chính của nền
kinh tế thực hiện các hoạt động kinh doanh về tiền tệ, tín dụng và cung ứng
các dịch vụ ngân hàng ( NH ) cho nền kinh tế. Bởi vậy hoạt động kinh doanh
của các NH cũng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro có thể xảy ra. Trong đó hoạt
động kinh doanh tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất vì nó
thường có quy mô lớn nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại nguồn lợi
nhuận chủ yếu cho NH. Đồng thời đây cũng là hoạt động kinh doanh chứa
đựng nhiều rủi ro nhất và dễ xảy ra rủi ro nhất.Vấn đề đảm bảo an toàn cho
các khoản vay và chất lượng công tác thẩm định trước khi cho vay nhất là cho
vay dự án đầu tư ( DAĐT ) có ý nghĩa vô cùng quan trọng và rất cần thiết.
Trong thời gian thực tập tại SeABank chi nhánh ( CN ) Hai Bà Trưng,
nhận thấy được tầm quan trọng của việc thẩm định các DAĐT, cùng với sự
quan tâm giúp đỡ của tập thể cán bộ tại Phòng khách hàng và thẩm định cũng;
em xin thực hiện chuyên đề với đề tài: “ Công tác thẩm định dự án đầu tư tại
SeABank chi nhánh Hai Bà Trưng “
Chuyên đề của em, ngoài Lời mở đầu và Kết luận,gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại và công tác
thẩm định dự án đầu tư tại các Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng công tác thẩm định các dự án đầu tư tại SeABank
chi nhánh Hai Bà Trưng
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thẩm định các dự
án đầu tư tại SeABank chi nhánh Hai Bà Trưng
Tôi xin chân thành cảm ơn bà Nguyễn Hương Giang – Giám đốc
SeABank CN Hai Bà Trưng đã tạo điều kiện cho tôi có cơ hội được thực tập
tại quý NH, ông Nguyễn Việt Dũng – Phó Trưởng phòng khách hàng và thẩm
định cùng toàn thể đội ngũ cán bộ trong phòng đã tận tình giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập; cám ơn thầy giáo Lục Diệu Toán đã tận tình chỉ bảo,
1
hướng dẫn em để em có thể hoàn thành đề tài này; cám ơn toàn thể các thầy
cô giáo trong trường đã dạy dỗ em trong suốt 4 năm học vừa qua.

đảm bảo cho hoạt động của NH. Căn cứ vào chức năng, NH được chia làm
hai loại: NHTM và Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản
nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương
mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm
vào nơi khan thiếu.
Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt
đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và
phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của
NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
3
1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại.
1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự sự tiếp xúc với 2 loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế: (1) Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu,
tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những
người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu
tức thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ
và vì vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại của 2 loại cá nhân và tổ chức này
hoàn toàn độc lập với NH. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang
nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi.
Từ đó hình thành quan hệ tín dụng trực tiếp. Tuy nhiên quan hệ tín dụng
trực tiếp bị giới hạn nhiều do sự không phù hợp về quy mô, thời gian, không
gian … Điều này làm cản trở quan hệ tín dụng trực tiếp phát triển và là điều
kiện nảy sinh trung gian tài chính. NH với chức năng làm trung gian tài chính,
do chuyên môn hoá đã làm tăng thu nhập của người tiết kiệm đồng thời giảm
phí tổn cho nhà đầu tư, từ đó khuyến khích tiết kiệm cũng như đầu tư, hay nói
rộng ra là khuyến khích sự phát triển của nền kinh tế.

toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các
NH còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung
Ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua
NH càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở
rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống
nhất trong thanh toán không chỉ giữa các NH trong một quốc gia mà còn giữa
các NH trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã
làm tăng hiệu quả của thanh toán qua NH, biến NH trở thành trung tâm thanh
toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.3. Phân loại ngân hàng thương mại
Có thể phân chia NH theo các tiêu thức khác nhau tuỳ theo yêu cầu của
người quản lý
5
1.3.1. Các loại hình ngân hàng thương mại phân chia theo hình thức
sở hữu
* Ngân hàng sở hữu tư nhân: là NH do cá nhân thành lập bằng vốn của
cá nhân. Loại NH này thường nhỏ, phạm vi hoạt động trong từng địa phương
( các NH này thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương ).
Chủ NH thường rất am hiểu tình hình của người vay, vì vậy hạn chế được sự
lừa đảo của khách hàng. Tuy nhiên, do kém đa dạng nên khi địa phương đó
gặp rủi ro NH thường không tránh được tổn thất.
* Ngân hàng sở hữu của các cổ đông ( NH cổ phần ): Ngân hàng này
được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu. Việc nắm giữ cổ phiếu cho
phép người sở hữu có thể tham gia quyết định các hoạt động của NH, tham
gia chia cổ tức từ thu nhập của NH đồng thời phải gánh chịu các loại tổn thất
có thể xảy ra. Do vốn sở hữu được hình thành thông qua tập trung, các NH cổ
phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng, vì vậy thường là các NH lớn. Các tổ
hợp NH lớn nhất thế giới hiện nay đều là NH cổ phần. Các NH cổ phần
thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa năng, có nhiều CN hoặc
công ty con. Khả năng đa dạng hoá cao nên các NH cổ phần có thể giảm rủi

chức NH để phục vụ cho các thành viên của tập đoàn ).
* Tính đa năng
Là NH cung cấp mọi dịch vụ NH cho mọi đối tượng. Đây là xu hướng
hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM. NH đa năng thường là NH lớn
( hoặc sở hữu công ty ). Tính đa dạng sẽ giúp các NH tăng thu nhập và hạn
chế rủi ro.
1.3.3. Các loại hình ngân hàng thương mại chia theo cơ cấu tổ chức
* Ngân hàng sở hữu công ty và NH không sở hữu công ty
Ngân hàng sở hữu công ty là NH nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho
phép NH được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty.
Do luật nhiều nước cấm hoặc hạn chế NHTM tham gia trực tiếp vào một số
loại hình kinh doanh như chứng khoán, bất động sản … nên các NH lớn đã
thành lập, hoặc mua lại một số công ty chứng khoán, quỹ đầu tư … nhằm mở
7
rộng hoạt động. Các NH không sở hữu công ty có thể do vốn nhỏ, hoặc quy
định của Luật không cho phép, hoặc do không bị cấm trong việc đưa ra các
dịch vụ tài chính.
* Ngân hàng đơn nhất và NH có CN
Ngân hàng đơn nhất được hiểu là NH không có CN, tức là các dịch vụ
NH chỉ do một hội sở NH cung cấp. Ngân hàng có CN thường là NH có vốn
tương đối lớn, cung cấp dịch vụ NH thông qua nhiều đơn vị ngân hàng. Việc
thành lập CN thường bị kiểm soát chặt chẽ bởi Ngân hàng Nhà nước thông
qua các quy định về vốn chủ sở hữu, về chuyên môn của đội ngũ cán bộ, về
sự cần thiết của dịch vụ NH trong vùng …
1.4. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Mỗi NHTM đều có rất nhiều hoạt động, tuy nhiên về cơ bản có thể chia
thành ba loại hoạt động sau: hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn
và thực hiện các dịch vụ uỷ thác theo yêu cầu của khách hàng.
1.4.1. Hoạt động huy động vốn
Để thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ, NH cần rất nhiều vốn.

cho NH.
Tất cả những ai có nhu cầu vay đều có thể đến NH xin vay nếu họ có thể
đáp ứng đủ các yêu cầu mà NH đề ra. Nếu phân chia theo mục đích sử dụng,
có ba hình thức cho vay là: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ
dự án. Còn nếu phân loại cho vay theo thời hạn sử dụng tiền vay có thể phân
thành các khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Hoạt động cho vay
mang lại nguồn thu nhập lớn nhất nhưng đồng thời cũng là hoạt động ẩn chứa
nhiều rủi ro nhất. Vì vậy các NH thường rất thận trọng trong việc cho vay để
hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Khi khách hàng đến NH vay
vốn họ phải chứng minh được tính chất pháp lý của họ (nếu là các tổ chức),
họ phải chứng minh được năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của họ …
Ngoài ra khi các cá nhân đến NH vay vốn họ phải có tài sản đảm bảo và phải
9
chứng minh được thu nhập thực tế của họ. Nguồn thu định kì của khách hàng
chính là yếu tố quan trọng để NH xem xét khách hàng khi cho vay.
1.4.3 Thực hiện các dịch vụ theo uỷ thác của khách hàng.
* Bảo quản tài sản hộ.
Các NH thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản
khác cho khách hàng trong két ( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két ). Ngân
hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ có giá, hoặc những giấy tờ
quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện.
* Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào NH, NH không chỉ bảo quản mà còn thực
hiện các lệnh chi trả hộ cho khách hàng. Thanh toán qua NH đã mở đầu cho
thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến NH
để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả hộ cho khách hàng, khách hàng mang
giấy đến NH sẽ nhận được tiền. Các ưu điểm của loại thanh toán này (an toàn,
nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí ) đã góp phần rút ngắn thời gian
kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng.Cùng với sự phát triển của
công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi,

thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán.
Nhiều NH đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các
NH bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài
trường hợp, các NH đứng ra tổ chức công ty chứng khoán hoặc công ty môi
giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
* Cung cấp dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, các NH đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, tàn phế hay gặp
rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng còn liên doanh
11
với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, NH cung cấp dịch
vụ tiết kiệm gắn liền với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí …
* Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều NH trong quá trình hoạt động không thể thiết lập CN hoặc văn
phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều NH cung cấp dịch vụ làm đại lý cho các NH
khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm NH đầu mối
trong đồng tài trợ …
II. DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
2.1. Dự án đầu tư
2.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư.
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở
rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng
về số lượng cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ
nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
Dự án đầu tư được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau: về bản chất,
DAĐT là tập hợp những đề xuất về việc sử dụng vốn để mở rộng hoặc cải tạo

dụng cho vay vốn để tiến hành đầu tư.
- Dự án là căn cứ quan trọng để đánh giá và có những điều chỉnh kịp thời
những tồn tại và những vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác
công trình.
- Dự án là một trong những cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh
chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư.
Riêng đối với chủ đầu tư, dự án còn là cơ sở để xin phép được đầu tư,
xin phép nhập khẩu vật tư máy móc, xin hưởng các ưu đãi về đầu tư, xin gia
nhập khu chế xuất, khu công nghiệp…
13
* Yêu cầu cơ bản của dự án :
Với vai trò quan trọng của mình, DAĐT phải đảm bảo những tính chất
sau :
- Tính khoa học : Được thể hiện trên các mặt, thông tin, số liệu phải đảm
bảo trung thực. Hình thức phải đảm bảo rõ ràng, sạch đẹp. Phương pháp lý
giải phải đảm bảo tính logic và chặt chẽ giữa các nội dung đã nêu trong dự án.
Phương pháp tính toán phải đảm bảo độ chính xác.
- Tính thực tiễn : Các nội dung của dự án phải được nghiên cứu và xác
định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đầu tư. (Về thời
gian và không gian).
- Tính thống nhất : Được thể hiện từ những bước tiến hành đến nội dung
hình thức, cách trình bày của dự án cần tuân thủ những quy định chung mang
tính quốc tế.
2.1.3. Nội dung của dự án đầu tư.
Một DAĐT thông thường bao gồm những nội dung chính sau :
+ Các căn cứ lập dự án, sự cần thiết phải đầu tư xây dựng dự án. Cần nêu
căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn của toàn bộ quá trình hình thành và thực
hiện toàn bộ dự án.
+ Nghiên cứu về thị trường của dự án, cần đề cập đến các vấn đề :

- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ.
+ Kết luận và kiến nghị. Thông qua các nội dung nghiên cứu trên, cần
kết luận tổng quát về khả năng thực hiện của dự án, những khó khăn và những
thuận lợi trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án, đồng thời đề xuất những
kiến nghị đối với các tổ chức có liên quan đến dự án.
15
2.1.4. Các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự án đầu tư.
Để hình thành và vận hành một DAĐT phải trải qua nhiều bước, nhiều
giai đoạn kế tiếp nhau được gọi là chu trình của dự án.
Có nhiều cách phân chia, xem xét liên quan đến quá trình hình thành và
quản lý dự án. Để phù hợp với yêu cầu của công tác chuẩn bị đầu tư và hoạt
động chủ yếu trong quá trình hình thành và quản lý vận hành dự án, có thể
phân chia chu trình dự án thành các giai đoạn được mô tả theo sơ đồ sau :
Sơ đồ :
+ Nghiên cứu cơ hội đầu tư : Giai đoạn này có nhiều ý tưởng ban đầu về
dự án được hình thành dựa trên cơ sở cảm tính trực quan hoặc là dựa trên cơ
sở quy hoạch định hướng phát triển của từng khu vực hay của quốc gia. Kết
thúc giai đoạn này có kết quả là một kế hoạch mang tính chỉ đạo về phương
hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu.
+ Nghiên cứu tiền khả thi :
Là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ về các yếu tố cơ bản của DAĐT như vị
trí, quy mô, thiết bị, công nghệ, nhu cầu về vốn cũng như tổ chức thực hiện
dự án. Trong giai đoạn này, người ta cũng xác định chỉ tiêu cơ bản để đánh
giá hiệu quả cơ bản của dự án để làm cơ sở cho việc xem xét lựa chọn dự án.
Kết quả của giai đoạn này làm cơ sở cho việc quyết định tiếp tục hoặc
chấm dứt việc nghiên cứu dự án ở các bước tiếp theo.
16
Nghiên cứu cơ hội đầu tư Nghiên cứu tiền khả thi
Thực hiện dự án Nghiên cứu khả thi
Vận hành khai thác Đánh giá sau dự án

Giai đoạn này kể từ khi đưa DAĐT đi vào hoạt động, khai thác cho đến
khi kết thúc dự án. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động theo chức năng của
dự án và quản lý dự án theo các kế hoạch đã tính trước.
Tuy nhiên có một số dự án có thể vận hành và khai thác ngay cả trong
thời đoạn thực hiện (sử dụng từng phần, từng công đoạn). Một số dự án được
chia thành giai đoạn phát triển nên quá trình khai thác và sử dụng có thể tiến
hành xen kẽ nhau.
+ Đánh giá sau dự án.
Thực chất của giai đoạn này là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh
tế – kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành và khai thác. Đánh giá trong
giai đoạn này nhằm :
- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế – kỹ thuật để đảm bảo mức đã dự kiến
trong nghiên cứu khả thi trên cơ sở phát hiện và tìm các biện pháp cần thiết để
đảm bảo các thông số vận hành của dự án.
- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố
của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo tính hiệu quả của dự
án. Dựa vào kết quả đánh giá, phân tích tình hình vận hành khai thác dự án để
có quyết định đúng đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt
động của dự án.
+ Kết thúc dự án :
Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án như
thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác.
Trong công tác nghiên cứu soạn thảo một DAĐT, các giai đoạn được
nghiên cứu rất kỹ lưỡng, tỉ mỉ nhưng không tránh được khỏi những sai sót.
Do đó, chúng ta cần có một quy trình thẩm định các DAĐT nhằm phát hiện
và sửa chữa những sai sót đó, đồng thời bổ sung thêm các biện pháp để đảm
bảo tính khả thi cao cho việc thực hiện dự án.
18
2.2. Công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng thương mại.
2.2.1. Khái niệm.

A. GIAI ĐOẠN RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ.
Thực chất của việc thẩm định trong giai đoạn này là thẩm định kết quả
của nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi.
+ Thẩm định tổng quát dự án đầu tư.
- Thẩm định các điều kiện pháp lý của dự án.
Xem xét kiểm tra tính pháp lý của các văn bản trong hồ sơ trình duyệt
của chủ đầu tư, kiểm tra các nội dung, các bước của dự án xem có đúng thủ
tục và hợp lệ hay không… Trong thẩm định các điều kiện pháp lý phải đặc
biệt chú ý tới tư cách pháp nhân của chủ đầu tư và năng lực kinh doanh của
chủ đầu tư. Nội dung xem xét vấn đề sau :
* Quyết định thành lập, thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nước hoặc
giấy phép hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
* Người đại diện chính thức, địa chỉ liên hệ, giao dịch.
* Năng lực kinh doanh : được thể hiện bằng năng lực tài chính (khả năng
về vốn tự có, điều kiện thế chấp, tình trạng nợ). Sở trường, uy tín của chủ đầu
tư, năng lực quản lý điều hành sản xuất kinh doanh.
Đối với các DAĐT của nước ngoài cần kiểm tra thêm.
* Các cam kết thực hiện dự án nếu được phê duyệt và cấp giấy phép.
* Các cam kết đã cung cấp thông tin chính xác với những vấn đề liên
quan đến liên doanh mà phía trong nước và cơ quan quản lý yêu cầu.
* Một số văn bản về thoả thuận, cam kết tuân thủ pháp luật của phía
nước ngoài.
- Thẩm định sự cần thiết đầu tư và mục tiêu của DAĐT.
Xem xét dự án có thật sự cần thiết hay không, nó có đóng góp vào mục
tiêu chung về phát triển kinh tế của đất nước như thế nào, nếu thực hiện sẽ tồn
20
tại những vấn đề gì? Bao nhiêu các khía cạnh cụ thể cần xem xét: Dự án có vị
trí ưu tiên như thế nào trong quy hoạch phát triển chung, có nằm trong ngành
nghề được ưu tiên khuyến khích hay không. Các mục tiêu trước mắt và lâu
dài của dự án và ảnh hưởng của nó tới quá trình thực hiện, khai thác dự án tới

khích hay hạn chế sản xuất tiêu dùng hay sản phẩm, các ưu đãi dành cho dự
án khi tham gia vào thị trường sản phẩm.
Đánh giá chi phí sản phẩm: Định mức tiêu hao nguyên liệu lao động,
công nghệ…giá bán của sản phẩm trên thị trường.
Xem xét đến các khả năng, giải pháp phân phối tiêu thụ các hình thức
thanh toán…
- Thẩm định về công nghệ dự án: Thẩm định công nghệ là quá trình xem
xét đánh giá thích hợp của công nghệ đã nêu trong dự án so với nội dung và
các mục tiêu của DAĐT trên cơ sở các chủ trương chính sách của nhà nước
tại thời điểm thẩm định dự án để đưa ra kiến nghị về việc quyết định đầu tư
hoặc cấp giấy phép đầu tư cho dự án.
Thực chất của quá trình này là so sánh công nghệ sử dụng trong dự án,
các chỉ tiêu của công nghệ với các tiêu chuẩn, các định mức kinh tế – kỹ
thuật.
* Xem xét thẩm tra xuất xứ của công nghệ, trang thiết bị trong dây
truyền công nghệ.
* Xem xét đánh giá các phương hướng dự án công nghệ, quy trình sản
xuất. Đánh giá mức độ trình độ, tính hợp lý kinh tế và hạn chế, ưu việt của
công nghệ được lựa trọng trong dự án.
* Đánh giá khả năng lựa chọn chuyển giao công nghệ các thiết bị phụ
tùng thay thế, các điều kiện vận hành bảo dưỡng…trong hiện tại và tương lai.
* Kiểm tra tính đồng bộ của thiết bị, công suất mức độ tiêu hao nguyên
liệu, nhiên liệu, tuổi thọ công nghệ.
22
* Kiểm tra các điều kiện nhập khẩu (khi công nghệ nhập) trách nhiệm
của các bên tham gia.
* Xem xét việc bảo dưỡng, cung cấp nguyên vật liệu, nhiên liệu do công
nghệ, bán thành phẩm, chất thải của công nghệ, đánh giá các giải pháp bảo vệ
môi trường.
* Kiểm tra giải pháp xây dựng (nếu có) căn cứ vào yêu cầu công nghệ,

* Xem xét cơ chế, nguyên tắc hoạt động của bộ máy quản lý, các quy
định về phân cấp, uỷ quyền, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ công nhân
viên trong bộ máy quản lý.
* Đánh giá tính toán hợp lý các chi phí quản lý…thành phần cán bộ quản
lý của các bên tham gia dự án.
- Thẩm định về môi trường :
Là xem xét đánh giá những ảnh hưởng đối với môi trường của dự án vào
các quy định về bảo vệ môi trường của nhà nước đặt ra. Đánh giá những giải
pháp phương án về môi trường của dự án để từ đó đặt ra quyết định đầu tư.
Nội dung bao gồm :
* Đánh giá tác động toàn diện của dự án tới các yếu tố môi trường. Tác
động đối với các dạng môi trường vật liệu, thuỷ quyển, khí quyển, thanh
quyển. Tác động tới các dạng tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái. Tác
động đối với các tài nguyên và môi trường được sử dụng như nông nghiệp,
thuỷ lợi, năng lượng, khai khoáng.
* Đánh giá tác động đối với các điều kiện trực tiếp ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống, điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá, mỹ thuật, kiến trúc…
* Đánh giá các diễn biến của môi trường hiện tại và trong tương lai, các
ảnh hưởng mang tính dây truyền khi thực hiện và vận hành theo từng phương
án, những tổn thất về tài nguyên môi trường theo từng phương án, những tổn
thất về tài nguyên môi trường theo từng phương án đầu tư, do việc khai thác
24
tài nguyên đầu vào và chất thải đầu ra. Đồng thời dự báo biến động các tác
động, tổn thất này.
Xem xét đánh giá các phương án giải pháp môi trường, các phương tiện
sử dụng để chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Các giải pháp xử lý ô nhiễm
môi trường. Các tính toán khối lượng, mức độ độc hại của các loại chất thải.
Trình bày so sánh các giải pháp có tính kỹ thuật, công nghệ tổ chức điều hành
mà dự án đưa ra.
- Thẩm định về tài chính của dự án :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status