Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- NHTM: Ngân hàng thương mại
- NH: Ngân hàng
- DAĐT: Dự án đầu tư
- CN: Chi nhánh
- TTQT: Thanh toán quốc tế
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Thương mại ( NHTM ) là một trung gian tài chính của nền
kinh tế thực hiện các hoạt động kinh doanh về tiền tệ, tín dụng và cung ứng
các dịch vụ ngân hàng ( NH ) cho nền kinh tế. Bởi vậy hoạt động kinh doanh
của các NH cũng luôn đứng trước nguy cơ rủi ro có thể xảy ra. Trong đó hoạt
động kinh doanh tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất vì nó
thường có quy mô lớn nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại nguồn lợi
nhuận chủ yếu cho NH. Đồng thời đây cũng là hoạt động kinh doanh chứa
đựng nhiều rủi ro nhất và dễ xảy ra rủi ro nhất.Vấn đề đảm bảo an toàn cho
các khoản vay và chất lượng công tác thẩm định trước khi cho vay nhất là cho
vay dự án đầu tư ( DAĐT ) có ý nghĩa vô cùng quan trọng và rất cần thiết.
Trong thời gian thực tập tại SeABank chi nhánh ( CN ) Hai Bà Trưng,
nhận thấy được tầm quan trọng của việc thẩm định các DAĐT, cùng với sự
quan tâm giúp đỡ của tập thể cán bộ tại Phòng khách hàng và thẩm định cũng;
em xin thực hiện chuyên đề với đề tài: "Công tác thẩm định dự án đầu tư tại
SeABank chi nhánh Hai Bà Trưng"
Chuyên đề của em, ngoài Lời mở đầu và Kết luận,gồm có 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại và công tác
thẩm định dự án đầu tư tại các Ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng công tác thẩm định các dự án đầu tư tại SeABank
chi nhánh Hai Bà Trưng
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thẩm định các dự
cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại
phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì NH trở thành nơi giữ tiền cho
những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. NH là một
định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng
chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng
cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ NH, đó chính là nguyên tắc cơ bản
đảm bảo cho hoạt động của NH. Căn cứ vào chức năng, NH được chia làm
hai loại: NHTM và Ngân hàng Nhà nước.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản
nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương
mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm
vào nơi khan thiếu.
Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt
đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và
phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của
NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại
hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, hoạt động này đòi hỏi sự sự tiếp xúc với 2 loại
cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) Các cá nhân và tổ chức tạm thời
thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và
vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng
dư trong chi tiêu tức thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho
hàng hoá, dịch vụ và vì vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại của 2 loại cá
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhân và tổ chức này hoàn toàn độc lập với NH. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển
từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi.
tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay
(tạo tín dụng).
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, NH thực hiện thanh toán các giá trị hàng
hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, NH đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán
bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các
NH còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung
Ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua
NH càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở
rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống
nhất trong thanh toán không chỉ giữa các NH trong một quốc gia mà còn giữa
các NH trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã
làm tăng hiệu quả của thanh toán qua NH, biến NH trở thành trung tâm thanh
toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Phân loại ngân hàng thương mại
Có thể phân chia NH theo các tiêu thức khác nhau tuỳ theo yêu cầu của
người quản lý
1.1.3.1. Các loại hình ngân hàng thương mại phân chia theo hình thức
sở hữu
* Ngân hàng sở hữu tư nhân: là NH do cá nhân thành lập bằng vốn của
cá nhân. Loại NH này thường nhỏ, phạm vi hoạt động trong từng địa phương
( các NH này thường gắn liền với doanh nghiệp và cá nhân ở địa phương ).
Chủ NH thường rất am hiểu tình hình của người vay, vì vậy hạn chế được sự
lừa đảo của khách hàng. Tuy nhiên, do kém đa dạng nên khi địa phương đó
gặp rủi ro NH thường không tránh được tổn thất.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ngân hàng hoạt động theo tính đơn năng: loại NH này chỉ tập trung cung
cấp một số dịch vụ NH, ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc
đối với đất nông nghiệp; hoặc chỉ cho vay (không có bảo lãnh hay cho thuê)
… Tính chuyên môn hoá cao cho phép NH có được đội ngũ cán bộ giàu kinh
nghiệm, tinh thông nghiệp vụ. Tuy nhiên loại NH này thường gặp rủi ro lớn
khi ngành, hoặc lĩnh vực đang hoạt động mà NH phục vụ sa sút. NH đơn năng
có thể là NH nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, trình độ cán bộ không đa dạng,
hoặc là những NH sở hữu của nhiều công ty ( nhiều tập đoàn công nghiệp tổ
chức NH để phục vụ cho các thành viên của tập đoàn ).
* Tính đa năng
Là NH cung cấp mọi dịch vụ NH cho mọi đối tượng. Đây là xu hướng
hoạt động chủ yếu hiện nay của các NHTM. NH đa năng thường là NH lớn
( hoặc sở hữu công ty ). Tính đa dạng sẽ giúp các NH tăng thu nhập và hạn
chế rủi ro.
1.1.3.3. Các loại hình ngân hàng thương mại chia theo cơ cấu tổ chức
* Ngân hàng sở hữu công ty và NH không sở hữu công ty
Ngân hàng sở hữu công ty là NH nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho
phép NH được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty.
Do luật nhiều nước cấm hoặc hạn chế NHTM tham gia trực tiếp vào một số
loại hình kinh doanh như chứng khoán, bất động sản … nên các NH lớn đã
thành lập, hoặc mua lại một số công ty chứng khoán, quỹ đầu tư … nhằm mở
rộng hoạt động. Các NH không sở hữu công ty có thể do vốn nhỏ, hoặc quy
định của Luật không cho phép, hoặc do không bị cấm trong việc đưa ra các
dịch vụ tài chính.
* Ngân hàng đơn nhất và NH có CN
Ngân hàng đơn nhất được hiểu là NH không có CN, tức là các dịch vụ
NH chỉ do một hội sở NH cung cấp. Ngân hàng có CN thường là NH có vốn
tương đối lớn, cung cấp dịch vụ NH thông qua nhiều đơn vị ngân hàng. Việc
tạo ra các nguồn thu nhập cho NH. Nếu huy động vốn là điều kiện cần trong
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sự tồn tại và phát triển của một NH thì sử dụng vốn chính là điều kiện đủ, huy
động vốn và sử dụng vốn có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu huy động vốn
tốt sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng vốn và ngược lại sử dụng vốn tốt cũng sẽ
có những tác động tích cực đến huy động vốn. Ngân hàng sử dụng vốn vào
việc: cho vay, đầu tư, tài trợ …; trong đó hoạt động cho vay là hoạt động quan
trọng nhất, có khả năng sinh lời cao. Trong nền kinh tế, luôn tồn tại những cá
nhân hay tổ chức có nhu cầu vay vốn, với mục đích tiêu dùng hay đầu tư kinh
doanh … Tổng nhu cầu vốn của cả nền kinh tế là vô cùng lớn, thậm chí có thể
nói là vô tận, vì vậy hoạt động cho vay mang lại một nguồn thu nhập rất lớn
cho NH.
Tất cả những ai có nhu cầu vay đều có thể đến NH xin vay nếu họ có thể
đáp ứng đủ các yêu cầu mà NH đề ra. Nếu phân chia theo mục đích sử dụng,
có ba hình thức cho vay là: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ
dự án. Còn nếu phân loại cho vay theo thời hạn sử dụng tiền vay có thể phân
thành các khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Hoạt động cho vay
mang lại nguồn thu nhập lớn nhất nhưng đồng thời cũng là hoạt động ẩn chứa
nhiều rủi ro nhất. Vì vậy các NH thường rất thận trọng trong việc cho vay để
hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Khi khách hàng đến NH vay
vốn họ phải chứng minh được tính chất pháp lý của họ (nếu là các tổ chức),
họ phải chứng minh được năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của họ …
Ngoài ra khi các cá nhân đến NH vay vốn họ phải có tài sản đảm bảo và phải
chứng minh được thu nhập thực tế của họ. Nguồn thu định kì của khách hàng
chính là yếu tố quan trọng để NH xem xét khách hàng khi cho vay.
1.1.4.3 Thực hiện các dịch vụ theo uỷ thác của khách hàng.
* Bảo quản tài sản hộ.
Các NH thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản
khác cho khách hàng trong két ( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két ). Ngân
khách hàng có thể mua do vậy còn có thể gọi là hợp đồng thuê mua. Trong
đó NH mua các thiết bị, máy móc rồi cho các khách hàng thuê với điều kiện
khách phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị tài sản cho thuê. Do vậy, cho
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thuê của NH cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín
dụng trung và dài hạn.
* Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính NH nên các NH có rất nhiều
chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.Vì vậy nhiều cá nhân và doanh
nghiệp đã nhờ NH quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ
uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát
hành, uỷ thác đầu tư … Nhiều khách hàng còn coi NH như một chuyên gia tư
vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về
thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp dịch vụ môi giới chứng khoán.
Nhiều NH đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các
NH bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Trong một vài
trường hợp, các NH đứng ra tổ chức công ty chứng khoán hoặc công ty môi
giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới.
* Cung cấp dịch vụ bảo hiểm.
Từ nhiều năm nay, các NH đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó
đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, tàn phế hay gặp
rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng còn liên doanh
với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức công ty bảo hiểm con, NH cung cấp dịch
vụ tiết kiệm gắn liền với bảo hiểm như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí …
* Cung cấp các dịch vụ đại lý.
Nhiều NH trong quá trình hoạt động không thể thiết lập CN hoặc văn
từ dự án biểu hiện bằng giá trị, tính theo giá thị trường. Kết quả kinh tế là lợi
ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị, tính theo giá kinh tế. Giá kinh tế là giá trị
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chi phí các nguồn lực hoặc các khoản thu nhập từ dự án xét trên góc độ chung
của quốc gia. Kết quả xã hội là kết quả được biểu hiện dưới dạng các lợi ích
xã hội (trình độ dân trí, khả năng phòng chống bệnh tật, bảo đảm môi
trường…). Kết quả này biểu hiện rất phong phú và thường không thể đo
lường một cách chính xác.
1.2.1.2. Vai trò của dự án đầu tư.
DAĐT có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà
còn đối với Nhà nước và các bên liên quan :
- Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định việc bỏ vốn đầu tư.
- Dự án là cơ sở để xây dựng kế hoạch đầu tư theo dõi, đôn đốc và kiểm
tra quá trình thực hiện đầu tư.
- Dự án là cơ sở quan trọng để thuyết phục các tổ chức tài chính, tín
dụng cho vay vốn để tiến hành đầu tư.
- Dự án là căn cứ quan trọng để đánh giá và có những điều chỉnh kịp thời
những tồn tại và những vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác
công trình.
- Dự án là một trong những cơ sở pháp lý để xem xét, xử lý khi có tranh
chấp giữa các bên tham gia liên doanh đầu tư.
Riêng đối với chủ đầu tư, dự án còn là cơ sở để xin phép được đầu tư,
xin phép nhập khẩu vật tư máy móc, xin hưởng các ưu đãi về đầu tư, xin gia
nhập khu chế xuất, khu công nghiệp…
* Yêu cầu cơ bản của dự án :
Với vai trò quan trọng của mình, DAĐT phải đảm bảo những tính chất
sau :
- Tính khoa học : Được thể hiện trên các mặt, thông tin, số liệu phải đảm
bảo trung thực. Hình thức phải đảm bảo rõ ràng, sạch đẹp. Phương pháp lý
- Lựa chọn công nghệ và thiết bị.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Nghiên cứu về tổ chức quản trị dự án. Tuỳ theo từng dự án cụ thể để
xác định mô hình tổ chức bộ máy cho thích hợp, từ đó làm cơ sở cho việc tính
toán nhu cầu nhân lực.
+ Nghiên cứu về phương diện tài chính của dự án. Cần giải quyết các nội
dung chủ yếu sau đây :
- Xác định tổng vốn đầu tư, cơ cấu các loại vốn và nguồn tài trợ.
- Đánh giá khả năng sinh lời của dự án
- Xác định khả năng hoàn vốn của dự án
- Đánh giá mức độ rủi ro của dự án
+ Nghiên cứu mặt kinh tế – xã hội của dự án. Cần đánh giá so sánh giữa
lợi ích do các dự án tạo ra và cái giá mà xã hội phải trả cho việc sử dụng các
nguồn lực trên các mặt chủ yếu sau :
- Khả năng tạo ra nguồn thu cho ngân sách
- Tạo công ăn việc làm
- Nâng cao mức sống của nhân dân
- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ.
+ Kết luận và kiến nghị. Thông qua các nội dung nghiên cứu trên, cần
kết luận tổng quát về khả năng thực hiện của dự án, những khó khăn và những
thuận lợi trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án, đồng thời đề xuất những
kiến nghị đối với các tổ chức có liên quan đến dự án.
1.2.1.4. Các giai đoạn hình thành và thực hiện một dự án đầu tư.
Để hình thành và vận hành một DAĐT phải trải qua nhiều bước, nhiều
giai đoạn kế tiếp nhau được gọi là chu trình của dự án.
Có nhiều cách phân chia, xem xét liên quan đến quá trình hình thành và
quản lý dự án. Để phù hợp với yêu cầu của công tác chuẩn bị đầu tư và hoạt
động chủ yếu trong quá trình hình thành và quản lý vận hành dự án, có thể
phân chia chu trình dự án thành các giai đoạn được mô tả theo sơ đồ sau :
Nghiên cứu khả thi được thực hiện trên cơ sở các thông tin chi tiết có độ
chính xác cao hơn giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi. Đây là cơ sở quyết định
đầu tư và làm căn cứ để triển khai thực hiện dự án trên thực tế.
+ Thực hiện DAĐT.
Giai đoạn này là giai đoạn biến các dự định đầu tư thành hiện thực nhằm
đưa dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội. Giai đoạn
này bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế
đến khi đưa dự án vào vận hành, khai thác. Nó bao gồm các công đoạn chính
sau :
- Thiết kế : Bao gồm tất cả các khâu khảo sát, tính toán, thiết kế và thực
hiện các nội dung thiết kế trong hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Một số khâu thiết kế có thể thực hiện trong quá trình xây dựng.
- Xây dựng : Gồm các khâu chuẩn bị mặt bằng (giải phóng mặt bằng), tổ
chức đấu thầu, xây dựng mua sắm và đo lắp đặt kết cấu, trang thiết bị đến
khâu vận hành thử trước khi đưa vào vận hành chính thức.
Đây là giai đoạn hết sức quan trọng có liên quan chặt chẽ với việc đảm
bảo chất lượng, ảnh hưởng đến quản lý chi phí và tiến độ thực hiện của dự án
và các hiệu quả đầu tư.
+ Vận hành DAĐT :
Giai đoạn này kể từ khi đưa DAĐT đi vào hoạt động, khai thác cho đến
khi kết thúc dự án. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động theo chức năng của
dự án và quản lý dự án theo các kế hoạch đã tính trước.
Tuy nhiên có một số dự án có thể vận hành và khai thác ngay cả trong
thời đoạn thực hiện (sử dụng từng phần, từng công đoạn). Một số dự án được
chia thành giai đoạn phát triển nên quá trình khai thác và sử dụng có thể tiến
hành xen kẽ nhau.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Đánh giá sau dự án.
Thực chất của giai đoạn này là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh
sử dụng trong dự án này. Đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có đem
lại nguồn lợi và lợi ích về mặt kinh tế xã hội hay không, nếu có thì bằng cách
nào và liệu có đạt được mục tiêu về hiệu quả tài chính hay không để có thể
mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và các đơn vị, các tổ chức có liên quan khác.
Từ các đánh giá phân tích ở trên ta có thể đưa ra một khái niệm chung về
thẩm định DAĐT như sau :
Thẩm định các dự án đầu tư là hoạt động thẩm tra, đánh giá lại tính
hợp lý, tính hiệu quả và khả thi của dự án một cách có khoa học, khách
quan và toàn diện các nội dung của dự án, dựa trên việc sử dụng các kỹ
thuật phân tích, so sánh, đánh giá; nhằm thoả mãn những nhu cầu của hoạt
động quản lý đầu tư: chủ yếu là đưa ra quyết định đầu tư hoặc cho phép
đầu tư.
1.2.2.2. Nội dung của thẩm định dự án đầu tư.
Nội dung của thẩm định là những vấn đề của dự án mà các cơ quan, cá
nhân thẩm định phải xem xét đến, hay là các phương diện của dự án mà các
cơ quan thẩm định phải thẩm định. Thẩm định dự án có 3 giai đoạn chính,
mỗi giai đoạn có một nội dung khác nhau. Mức độ chi tiết của nội dung thẩm
định tùy thuộc vào quy mô, tầm quan trọng của DAĐT, hình thức, nguồn vốn
và yêu cầu của hoạt động quản lý của Nhà nước về đầu tư, về DAĐT. Nhũng
nội dung của thẩm định về cơ bản bao gồm :
A. GIAI ĐOẠN RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ.
Thực chất của việc thẩm định trong giai đoạn này là thẩm định kết quả
của nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi.
+ Thẩm định tổng quát dự án đầu tư.
- Thẩm định các điều kiện pháp lý của dự án.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Xem xét kiểm tra tính pháp lý của các văn bản trong hồ sơ trình duyệt
của chủ đầu tư, kiểm tra các nội dung, các bước của dự án xem có đúng thủ
tục và hợp lệ hay không… Trong thẩm định các điều kiện pháp lý phải đặc
tư 100% vốn nước ngoài, khu chế xuất – khu công nghiệp, các hình thức
BOT, BT, BTO. Các DAĐT trong nước có các hình thức: doanh nghiệp nhà
nước, Công ty tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, hợp
tác xã.
- Thẩm định thời hạn DAĐT.
Xem thời hạn đầu tư có phù hợp với quy mô, tầm quan trọng của dự án,
thời gian để dự án hoàn vốn và có lãi. Liệu dự án có đóng góp vào mục tiêu
chung của xã hội, cũng như mục tiêu riêng của chủ đầu tư bao nhiêu năm.
DAĐT cần thiết kéo dài bao nhiêu năm là vừa và có hiệu quả, khi nào thì kết
thúc, khi nào cần đầu tư bổ sung.
Xem xét tính hợp lý về thời gian của từng giai đoạn trong dự án, đánh
giá phân tích thời gian dự phòng cho các hoạt động, các công việc của dự
án…
+ Thẩm định chi tiết dự án đầu tư.
- Thẩm định sản phẩm và thị trường của dự án.
Đánh giá khả năng cạnh tranh của dự án về sản phẩm, khả năng cung
ứng, xu hướng phát triển của các nguồn đầu vào. Mức độ đáp ứng nhu cầu
trong hiện tại, tương lai của dự án về sản phẩm, các giải pháp sản phẩm thị
trường.
Xem xét tỷ lệ sản phẩm tiêu dùng, sản phẩm tiêu thụ trong nước sản
phẩm xuất khẩu.
Xem xét đến các quy định của nhà nước có liên quan đến việc khuyến
khích hay hạn chế sản xuất tiêu dùng hay sản phẩm, các ưu đãi dành cho dự
án khi tham gia vào thị trường sản phẩm.
Đánh giá chi phí sản phẩm: Định mức tiêu hao nguyên liệu lao động,
công nghệ…giá bán của sản phẩm trên thị trường.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Xem xét đến các khả năng, giải pháp phân phối tiêu thụ các hình thức
thanh toán…
sự phù hợp của dự án với quy hoạch xây dựng, kiến trúc, phòng cháy chữa
chát trong khu vực đến việc bảo vệ di tích lịch sử, bảo tồn thiên nhiên.
* Đánh giá các điều kiện tự nhiên như khi tượng thuỷ văn, nguồn nước,
địa hình địa chất…
* Xem xét cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở địa điểm như đường giao thông,
điện nước, lao động, tài nguyên, y tế giáo dục, an ninh quốc phòng.
* Các điều kiện xã hội : phong tục tập quán truyền thống, tín ngưỡng tôn
giáo văn hoá của nhân dân.
* Đánh giá việc giải phóng mặt bằng, san lấp đền bù và các chi phí liên
quan đến việc này.
- Thẩm định lao động tiền lương
Là quá trình xem xét đánh giá khả năng sử dụng nguồn lao động của dự
án và thu nhập của người lao động trong dự án cũng như các chế độ nghỉ
ngơi của họ. Nội dung cơ bản như sau : Đánh giá so sánh về việc sử dụng lao
động, trả lương, các chế độ đãi ngộ, nghỉ ngơi, thưởng phạt đối với cán bộ và
công nhân hoạt động trong dự án, với các quy định trong các văn bản pháp
luật của Nhà nước về tiền lương, lao động cho các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước như mức lương tối thiểu, số giờ làm việc tối đa trong ngày, chế độ
thi tuyển nhân viên, chế độ ốm đau, bảo hiểm trợ cấp, an toàn vệ sinh lao
động, các cam kết giữa lao động và chủ, các hình thức lao động, độ tuổi lao
động…
- Thẩm định tổ chức quản lý
* Thẩm định tổ chức quản lý nhằm xem xét đánh giá số lượng, cơ cấu bộ
máy quản lý, bố trí lao động sản xuất kinh doanh.
Nguyễn Hoàng Hải Lớp: Tài chính công 46
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Xem xét cơ chế, nguyên tắc hoạt động của bộ máy quản lý, các quy
định về phân cấp, uỷ quyền, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ công nhân
viên trong bộ máy quản lý.
* Đánh giá tính toán hợp lý các chi phí quản lý…thành phần cán bộ quản