đánh giá tính dễ tổn thương do lũ gây ra trên hạ lưu lưu vực sông thạch hãn tỉnh quảng trị - Pdf 10

1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1 – TỔNG QUAN 6
1.1 Các khái niệm về tính dễ bị tổn thương 6
1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương 6
1.1.2 Tổn thương do lũ lụt 8
1.2 Sự cần thiết của đánh giá tổn thương lũ 9
1.3 Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước 10
1.4 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội 11
1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 11
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 16
1.5 Tình hình về lũ lụt và những tổn thương do lũ gây ra trong những năm gần
đây trên lưu vực sông Thạch Hãn. 18
Chƣơng 2 - CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG
DO LŨ 21
2.1 Phương pháp 21
2.2 Xây dựng bản đồ nguy cơ lũ 23
2.2.1 Giới thiệu về mô hình MIKE FLOOD 23
2.2.2 Xây dựng mạng lưới thủy lực cho vùng nghiên cứu 24
2.2.3 Mạng thủy lực kết nối 1 chiều và 2 chiều 29
2.3 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực kết nối 1-2 chiều 33
2.4 Xây dựng bản đồ nguy cơ với các tần suất 1% 39
Chƣơng 3 - ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ TỔN THƢƠNG DO LŨ GÂY RA TRÊN
HẠ LƢU LƢU VỰC SÔNG THẠCH HÃN TỈNH QUẢNG TRỊ 45
3.1 Điều tra khả năng chống chịu của cộng đồng 45
3.2 Thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ gây ra vùng hạ lưu lưu vực sông
Bến Hải, Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Hình 26. Bản đồ thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng 49
Hình 27. Bản đồ sử dụng đất tại vùng nghiên cứu 51
Hình 28. Bản đồ sự lộ diện của các đối tượng trước nguy cơ lũ 54
Hình 29. Bản đồ tổn thương do lũ vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn 56

3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1. Lựa chọn kết nối trong mô hình MIKE FLOOD 32
Bảng 2 Kết quả thực đo và tính toán độ sâu ngập lụt cực đại lũ năm 1999 36
Bảng 3. Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ 42
Bảng 4. Định lượng hóa các phương án trả lời của phiếu điều tra 48
Bảng 6. Ma trận tính toán sự lộ diện các đối tượng trước lũ 53
Bảng 7. Ma trận tính toán mức độ tổn thương do lũ 55

4

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT ATNĐ
Áp thấp nhiệt đới
HD
Hydraulic Dynamic ( Thủy động lực)
IPCC
Intergovermental Panel on Climate Change (Ban Liên chính phủ
về Biến đổi khí hậu)
ISDR
International Strategy for Disaster Reduction ( Chiến lược giảm

hội bị gián đoạn
Để tăng cường ứng phó với lũ lụt ngoài các biện pháp công trình (đê kè, hồ
chứa thượng lưu, ) thì các biện pháp phi công trình đóng vai trò rất quan trọng, mà
phần lớn trong số đó có tính dài hạn và bền vững như các biện pháp quy hoạch sử
dụng đất và bố trí dân cư, nâng cao nhận thức của người dân. Mặt khác, ứng phó
nhanh với lũ lụt bằng các biện pháp tức thời như cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời
và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn, đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế
những thiệt hại về người và tài sản.
Do vậy, để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt gây ra đối với kinh
tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên
tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của lũ gây ra. Đây
cũng là lý do dẫn đến sự hình thành luận văn “ Nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng
do lũ lụt hạ lƣu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị”. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ
sở khoa học, thực tiễn cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định
chiến lược phát triển bền vững và đảm bảo an ninh xã hội. Bố cục luận văn bao
gồm:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Cơ sở khoa học để đánh giá tính dễ tổn thương do lũ
Chương 3: Đánh giá tính dễ tổn thương do lũ gây ra hạ lưu lưu vực sông
Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
6

Chƣơng 1 – TỔNG QUAN
1.1 Các khái niệm về tính dễ bị tổn thƣơng
1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ tổn thương
Định nghĩa được tính dễ bị tổn thương sẽ giúp ta biết được cách tốt nhất để
giảm thiểu chúng. Mục đích của việc đánh giá tính dễ bị tổn thương nhằm cung cấp

tác động của thiên tai.
Trong cách tiếp cận của ngành khoa học xã hội, thì tính dễ bị tổn thương lại
tập trung vào năng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời
khôi phục lại các thiệt hại và những tổn thất. Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức
về hệ thống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội.
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổn
thương, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương mà
ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống.
Trong lĩnh vực vật lý, ngành khoa học tự nhiên đã giải thích tính dễ bị tổn
thương do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu
(IPCC) đã phát triển các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm. Năm
1992, họ xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với
những hậu quả của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Năm 1996, SAR [25] đã xác định tính dễ bị tổn thương như mức độ mà biến
đổi khí hậu có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụ thuộc vào độ
nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với
điều kiện khí hậu mới. Được xem như những tác động còn lại của biến đổi khí hậu
sau khi các biện pháp thích ứng được thực hiện (Downing, 2005) [11]. Định nghĩa
này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các
mối nguy hiểm do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
IPCC TAR (2001) [14] đã giải thích khái niệm tính dễ bị tổn thương như
mức độ dễ bị ảnh hưởng của hệ thống hoặc khả năng không thể đối phó được với
8

các tác động của biến đổi khí hậu. Tính dễ bị tổn thương là một hàm đặc trưng của
cường độ, tốc độ biến đổi khí hậu khi hệ thống bị lộ diện, bao gồm cả độ nhạy và
khả năng thích ứng.
Các định nghĩa này đã thể hiện sự phát triển, với định nghĩa của SAR và
TAR đã bao gồm các thành phần xã hội để giải thích tính dễ bị tổn thương. Trong
những năm 1980 và đặc biệt là những năm 1990 thì những nghiên cứu về mối quan

mục tiêu quản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại
do lũ lụt gây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Vì
thế, việc đánh giá những thiệt hại, tổn thương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn
trọng trong quản lý rủi ro lũ.Việc đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ đang đạt được
những kết quả quan trọng phục vụ cho việc đưa ra các quyết định trong quản lý rủi
ro lũ thông qua các bước sau:;
Đánh giá tổn thương lũ: Các đối tượng trong vùng lũ như nhà ở, cộng đồng,
công trình vv…. bị tổn thương một cách biến động không chỉ theo không gian, thời
gian mà còn phụ thuộc vào khả năng chống chịu của người dân tại đó. Ví dụ, các
cộng đồng phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt, họ sẽ phát triển các chiến lược đối
phó với các hiện tượng đó. Còn các cộng đồng không phải đối mặt với các trận lũ
lụt thường bỏ qua việc thích nghi với các nguy cơ lũ, vì thế họ sẽ bị tổn thương lớn
hơn khi phải đối diện với lũ. Do đó, những đánh giá về tổn thương lũ đóng vai trò
quan trọng trong bài toán xác định phương án giảm rủi ro thích hợp, như phát triển
các kế hoạch khẩn cấp và thực hiện các bài tập trong tình huống khẩn cấp.
Bản đồ hóa tổn thương lũ: Bản đồ tổn thương lũ là một phần quan trọng
trong quản lý rủi ro lũ, cung cấp những thông tin về đối tượng, thể hiện một cách
trực quan về những rủi ro tiềm tàng trong vùng có nguy cơ lũ.
Quyết định tối ưu cho các phương án giảm nhẹ lũ: An toàn lũ và giảm thiểu
tổn thương lũ là mục đích của bài toán, do vậy việc lựa chọn các phương án giảm
thiểu tổn thương lũ phải được xác định, và những lợi ích, chi phí cho các lựa chọn
khác phải được định lượng và so sánh. Những bước này nhằm sử dụng chi phí quản
10

lý rủi ro một cách hiệu quả, do vậy những đánh giá thiệt hại, tổn thương lũ là một
yếu tố quan trọng.
Đánh giá tài chính ngay sau lũ được thực hiện khi lũ xảy ra, Cơ quan quản lý
thiên tai và Chính phủ cần đánh giá nhanh những thiệt hại, tổn thương do lũ, để dự
thảo ngân sách và đưa ra các quyết định về bồi thường thiệt hại cho các đối tượng
trong vùng bị lũ lụt.

Nghiên cứu của Conner (2007) [22] đã đưa các biện pháp công trình và phi công
trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, thể hiện khả năng chống chịu của cộng
đồng dân cư. Sebastian (2010) [24] đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp
giữa xác suất tác động (thiệt hại) và khả năng chống chịu. Theo cách tiếp cận này
thì tính tổn thương lũ của các cộng đồng sống ven sông ngang bằng với những cộng
đồng sống ở vùng cao.
Các cách tiếp cận đánh giá tổn thương lũ ở trên chỉ xem tính tổn thương lũ là
một yếu tố trong việc xác định rủi ro lũ và chỉ tập trung vào một mặt nhất định như
kinh tế hay khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong nghiên cứu của Villagra’n
de Leo’n JC (2006) [28] và UNESCO – ihe (2007) [31] thì tổn thương lũ được xác
định qua khả năng chống chịu, tính nhạy và sự lộ diện của các đối tượng trước nguy
cơ lũ, và đó cũng là hướng lựa chọn để tiệm cận nghiên cứu của luận văn này. Cơ
sở khoa học của phương pháp của nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết trong
chương 2, đồng thời . áp dụng để đánh giá tổn thương lũ vùng hạ lưu lưu vực sông
Thạch Hãn.
1.4 Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Lưu vực sông Thạch Hãn nằm trong phạm vi từ 16
0
18 đến 16
0
54 vĩ độ Bắc
và 106
0
36 đến 107
0
18 kinh độ Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị; phía Bắc giáp với lưu
vực sông Bến Hải; phía Nam giáp với lưu vực sông Ô Lâu; phía Tây là biên giới
Việt - Lào và phía Đông là Biển Đông, với diện tích là 2.660km

Phía Nam sông Thạch Hãn là tầng chứa nước có quy mô lớn. Ngoài các
thành tạo hạt mịn nguồn gốc biển lộ ra ở phía Tây Quốc lộ 1A còn có diện lộ của
các thành tạo nguồn gốc sông, sông biển hỗn hợp (amQ
II-III
) có khả năng chứa nước
tốt nhất, diện tích lộ ra khoảng 109,85 km
2
. Phía Bắc sông Thạch Hãn tầng chứa
nước phân bố dưới các trầm tích Holocen.
Thổ nhưỡng trên lưu vực sông Thạch Hãn được phân bố theo các vùng bao
gồm: vùng đồng bằng ven biển, vùng gò đồi, vùng đồi núi dãy Trường Sơn.
- Vùng đồng bằng ven biển phân bố dọc bờ biển, địa hình đụn cát có dạng
lượn sóng, độ dốc nghiêng ra biển. Lớp vỏ phong hoá khá dày, thành phần cơ giới
trên 97% là cát. Đất nghèo các nguyên tố vi lượng. Đồng bằng chủ yếu là đất
Bazan, cát khả năng giữ nước kém làm tăng lượng bốc hơi nước trên lưu vực.
- Vùng gò đồi hầu hết có dạng địa hình đồi thấp, một số dạng thung lũng
sông thuộc địa phận huyện Gio Linh, Cam Lộ trên vỏ phong hoá Mazma. Nhiều nơi
hình thành đất trống, đồi trọc. Thực vật chủ yếu là cây dạng lùm bụi, cây có gai. Đất
đai ở những nơi không có cây bị rửa trôi khá mạnh. Đá xuất lên bề mặt tạo lên dòng
chảy mạnh gây ra xói lở.
- Vùng đồi, núi dãy Trường Sơn bị chia cắt mạnh, thực vật nghèo.
+ Tiểu vùng đất bazan Khe Sanh, Hướng Phùng thuộc các xã Tân Hợp, Tân
Độ, Tân Liên, nông trường Khe Sanh, Hướng Phùng có dạng địa hình lượn sóng,
14

chia cắt yếu, đất đai phù hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp dài ngày.
+ Tiểu vùng đất sa phiến thạch thuộc địa phận Lao Bảo, Lìa: nằm trong vùng
đứt gãy dọc đường 9, giáp khu vực Lao Bảo.
d. Thảm phủ thực vật
Đến năm 1990, nhiều diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên tái sinh do

2
/năm. Số giờ nắng trung bình là 1.700 –
1.800 giờ/năm, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 20
0
C – 25
0
C. Mùa mưa thường
từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, tổng lượng mưa khoảng 2.000 – 2.700 mm/năm, độ
ẩm trung bình tháng từ 85% - 90%.
Đặc trưng khí hậu ở Quảng Trị là gió Tây Nam khô nóng và bão lớn. Hàng năm
tỉnh chịu từ 40 – 60 ngày khô nóng và nhiều cơn bão gây gió xoáy giặt kèm theo
mưa lớn.
g. Mạng lưới sông ngòi trên lưu vực
Hệ thống sông Thạch Hãn có 37 con sông lớn nhỏ, gồm 17 sông nhánh cấp I
(với 3 nhánh tiêu biểu là Vĩnh Phước, Rào Quán và Cam Lộ), 13 sông nhánh cấp II
và 6 sông nhánh cấp III. Lưu vực sông Thạch Hãn có diện tích là 2660km
2
, độ dài
sông chính: 156km, độ cao bình quân lưu vực: 301m, độ dốc bình quân lưu vực:
20,1%, độ rộng trung bình lưu vực: 36,8 km, mật độ lưới sông: 0,92; hệ số uốn
khúc: 3,5.
Do địa hình hẹp, dãy Trường Sơn chạy dọc phía Tây tạo nên độ dốc địa hình
lớn, vừa hình thành nên mạng lưới thủy văn ngắn, khả năng tập trung nước nhanh,
vừa là dạng địa hình đón gió dễ hình thành các hình thế gây mưa lớn cho khu vực,
vì vậy vùng hạ lưu lưu vực sông Thạch Hãn luôn bị uy hiếp bởi các trận lũ lớn, gây
ra nhiều thiệt hại về tính mạng và tài sản của nhân dân.
Mặt khác, trên lưu vực có sự phân hóa giữa đồng bằng và miền núi là rất rõ
rệt, hầu như không có phần trung du và địa hình chuyển tiếp, các dãy núi từ dải
Trường Sơn chạy ra sát biển tiếp nối với các khu vực trũng ven biển. Do vậy, khi
xảy ra lũ lớn thường gây ra ngập lụt trên diện tích đồng bằng rộng lớn. Bên cạnh đó,

c, Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế phát triển trên lưu vực tương đối toàn diện và liên tục. Nông,
lâm nghiệp và thủy sản chiếm 30.4%, dịch vụ 36,2%, công nghiệp và xây dựng
33,4% tổng sản lượng của tỉnh (số liệu năm 2010). Có tới 70% dân số sống nhờ vào
sản xuất nông nghiệp, 12% sống dựa vào công nghiệp, 5% dựa vào ngư nghiệp, 8%
sống nhờ vào lâm nghiệp còn lại là nhờ dịch vụ buôn bán nhỏ và các ngành khác.
17

d. Cơ sở hạ tầng
Y tế : Mạng lưới y tế ở vùng đồng bằng phát triển rộng khắp ở các cộng đồng
dân cư nhất là y tế cộng đồng, phòng ngừa quản lý và phát hiện các dịch bệnh. Mỗi
huyện có một bệnh viện với quy mô 80 giường bệnh, công tác y tế đã đóng vai trò
tích cực trong việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân và phát huy thắng lợi chương trình
sinh đẻ có kế hoạch. Tuy nhiên, ở các xã miền núi, hệ thống y tế còn chưa được
phát triển, nhìn chung mỗi xã có 1 trạm y tế, song do khoảng cách từ các cụm dân
cư tới trạm xá còn xa và do mê tín dị đoan, nên tệ nạn chữa bệnh bằng cúng vái vẫn
còn tồn tại ở một số địa phương.
Giao thông: Hệ thống giao thông ở đây tương đối phát triển, tuy nhiên vẫn
có sự khác biệt giữa vùng đồng bằng ven biển và miền núi. Có 3 tuyến quốc lộ
chính đi qua: tuyến đường 1A từ ranh giới Quảng Bình - Quảng Trị đến Thừa Thiên
Huế, tuyến đường 9 từ thị xã Đông Hà đi Lào và cửa Việt (đường 9 đến cửa khẩu
Lao Bảo dài 82km). Tuyến đường 14 từ cầu Đakrông đi sang thượng nguồn sông
Hương. Tuyến đường này cùng với đường mòn Hồ Chí Minh trở thành tuyến đường
Trường Sơn công nghiệp. Đường thuỷ có trục đường theo sông Bến Hải, Sông
Hiếu, sông Thạch Hãn từ biển vào sâu đất liền, tuy nhiên tuyến đường thuỷ này
cũng chỉ cho phép thuyền trọng tải 10 tấn đi lại. Tuyến đường sắt chạy theo hướng
Bắc Nam có ga chính Đông Hà là nơi trung chuyển hàng hoá ra Bắc và vào Nam.
Ngành dịch vụ thương mại, du lịch: Ngành dịch vụ ở đây phát triển đã lâu.
Dịch vụ chủ yếu là buôn bán hàng hoá qua Lào, Thái Lan theo trục đường 9 và phục
vụ sản xuất nông nghiệp như sửa chữa công cụ lao động, cung cấp vật tư và bao tiêu

hàng năm. Đây là thời kỳ mưa lớn trong năm và lũ thời kỳ này có thể xảy ra lũ quét
sườn dốc gây đất đá lở hay ngập lụt ở hạ du. Lũ này thường đi liền với bão gây thiệt
hại lớn cho kinh tế xã hội, gây chết người và hư hỏng công trình, cơ sở hạ tầng. Lũ
kéo dài 5 – 7 ngày, đỉnh lũ cao, tổng lượng lớn. Do đó những tổn thất do lũ lụt gây
ra cho tỉnh Quảng Trị là đáng kể [6,7].
Đặc biệt trong những năm gần đây, do tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh
cùng với việc các trận lũ xuất hiện với cường độ ngày càng lớn làm cho những thiệt
hại về kinh tế - xã hội ngày càng tăng [2,8]. Mức độ thiệt hại do lũ lụt trên địa bản
tỉnh Quảng Trị được thể hiện trên hình 2 và hình 3. Với tình hình phát triển kinh tế
hiện tại thì với các trận lũ lớn thì người dân không thể khống chế hay làm giảm lũ
lụt mà chỉ có thể tránh và chủ động làm giảm mức thiệt hại do lũ gây ra . Do đó các
biện pháp phi công trình như; cảnh báo lũ sớm, chủ động thu hoạch hoa màu khi có
lũ, lập các phương án ứng cứu khẩn cấp, nâng cao nhận thức của người dân về lũ
20

vv…đóng vai trò chủ đạo trong công tác phòng chống lũ lụt trong tỉnh cũng như
trên các lưu vực sông.
Lũ lụt trên địa bản lưu vực sông Thạch Hãn đã ảnh hưởng sâu rộng tới sự
phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Do vậy, để giảm thiểu những tổn thương do lũ
gây ra cần có cách tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng hợp rủi ro thiên
tai. Trong đó việc nghiên cứu đánh giá những tổn thương do lũ lụt gây ra có vai trò
quan trọng để đưa ra các biện pháp giảm thiểu những thiệt hại do lũ. Cơ sở khoa
học để đánh giá tổn thương do lũ sẽ được trình bày trong chương 2. 21

Chƣơng 2 - CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN
THƢƠNG DO LŨ
2.1 Phƣơng pháp

của các cơ quan chức năng, công tác cảnh báo lũ, sự phục hồi sau lũ. Dựa trên công
thức (3) tác giả đã xây dựng khung tính toán tính tổn thương lũ (hình 4).

Hình 4. Các bước xác định tính tổn thương lũ
Qua hình 4, để xây dựng được bản đồ tổn thương lũ cần xác định đựơc sự
phơi bày của các đối tượng trước lũ và khả năng chống chịu của cộng đồng. Trong
đó sự phơi bày của các đối tượng trước lũ được thành lập dựa trên bản đồ nguy cơ
lũ và bản đồ sử dụng đất. Ở đây bản đồ nguy cơ lũ được tích hợp dựa trên ba bản
đồ; bản đồ độ sâu ngập, bản đồ thời gian ngập, bản đồ vận tốc đỉnh lũ. Các bản đồ
23

này là kết quả đầu ra của mô hình thủy lực, cụ thể là mô hình thủy lực Mike Flood
đã được sử dụng để xây dụng bản đồ nguy cơ lũ.
2.2 Xây dựng bản đồ nguy cơ lũ
Bản đồ nguy cơ lũ có thể được đánh giá thông qua các chỉ số cơ bản như bản
đồ ngập lụt, thời đoạn lũ, vận tốc lũ, xung lượng lũ (là tích của mực nước lũ và vận
tốc lũ), vật liệu trong dòng lũ (trầm tích, muối, các chất hóa học, nước thải và đất
đá) vv…Trong các yếu tố đó thì độ sâu ngập lụt, vận tốc đỉnh lũ, thời gian ngập lụt
đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định các thiệt hại về lũ. Sự tích hợp giữa
độ sâu ngập và vận tốc đỉnh lũ thể hiện khả năng phá hủy các đối tượng trên vùng
mà lũ đi qua, ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng như nhà cửa, các công trình,
tính mạng của người dân và sức khỏe của cộng đồng. Thời đoạn lũ hay thời gian
ngập lụt lại ảnh hưởng gián tiếp đến sự phá hủy như làm ngập úng hoa màu, gián
đoạn các hoạt động kinh tế xã hội, gây ô nhiễm, bệnh dịch vv… Để đánh giá được
nguy cơ lũ trong vùng nghiên cứu luận văn đã sử dụng bộ mô hình MIKE FLOOD
để mô phỏng lại các trận lũ trong lịch sử để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình và qua
đó mô phỏng cho trận lũ với tần suất 1% . Dựa trên phương pháp chồng xếp bản đồ
độ sâu ngập, vận tốc lũ, thời gian ngập (kết quả đầu ra của mô hình MIKE FLOOD)
theo trọng số luận văn đã xây dựng bản đồ nguy cơ lũ ứng với tần suất lũ 1%.
2.2.1 Giới thiệu về mô hình MIKE FLOOD

trình trao đổi dòng chảy giữa hạ lưu 2 hệ thống sông Thạch Hãn và Bến Hải nhưng
chủ yếu các cống chỉ hoạt động điều tiết trong mùa hạn nhằm ngăn mặn giữ ngọt
phục vụ nông nghiệp, và mở hoàn toàn trong mùa lũ. Do đó, khi lũ trên sông Thạch
Hãn lớn hơn lũ trên sông Bến Hải, một phần dòng chảy sẽ được chuyển qua sông
Cánh Hòm và ngược lại. Còn sự trao đổi nước giữa lưu vực sông Thạch Hãn và Ô
Lâu thông qua sông Vĩnh Định và đập tràn An Tiêm trên sông Vĩnh Định. Đập tràn
này có nhiệm vụ phân lũ từ sông Thạch Hãn trong mùa lũ chính vụ sang sông Vĩnh
Định để bảo vệ kênh chính Thạch Hãn, không cho lũ hè thu và tiểu mãn từ sông
25

Thạch Hãn đổ vào sông Vĩnh Định để bảo vệ sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng
Nam Thạch Hãn . Vì vậy để có bức tranh tổng thể về hiện tượng ngập lụt vùng hạ
lưu lưu vực sông Thạch Hãn thì mô hình thủy lực được mở rộng để mô phỏng dòng
chảy lũ đồng thời trên cả 3 hệ thống sông: sông Bến Hải, sông Thạ
Ô Lâu [1].
2.2.2.1 Mạng lưới thủy văn và sơ đồ mạng thủy lực 1 chiều (1D)
, tác giả
, chủ
:
-
Lương.
-
.
-
31,8 km. Ngoài ra còn có sông Thác
Ma được tính toán từ trạm thủy văn Hải Sơn đến điểm gia nhập vào sông Ô Lâu với
chiều dài 4.08km.

Trích đoạn Điều tra khả năng chống chịu của cộng đồng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status