LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của con người ngày
càng đầy đủ thì nhu cầu của con người ngày càng cao. Các quốc gia trên thế
giới đều cố gắng tạo cho dân cư nước mình một cuộc sống no đủ cả về vật
chất và tinh thần. Các quốc gia cũng quan tâm đến nhau hơn cùng nhau giải
quyết các vấn đề kinh tế và xã hội. Toàn cầu hoá trở thành một xu thế tất yếu
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển.
Việt Nam cũng hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu
hoá và không ngừng đổi mới để theo kịp sự phát triển của loài người. Từ khi
Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề phát triển kinh tế ngày càng
được quan tâm. Hàng hoá của chúng ta đã có mặt ở rất nhiều quốc gia trên thế
giới và cũng có nhiều nước biết đến Việt Nam như một điểm đến đầy hấp
dẫn.
Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước ngành dệt may luôn đóng một
vai trò quan trọng. Đây là một trong bảy ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động nhàn rỗi
mang về nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Ngành dệt may đã thể hiện được
lợi thế cạnh tranh của nước ta với một nguồn lao động trẻ dồi dào, giá nhân
công rẻ và chi phí sản xuất tương đối thấp. Bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất
ngành còn đặt ra mục tiêu phải mở rộng thị trường tiêu thụ, đa dạng hoá thị
trường, giải quyết được đầu vào và đầu ra cho sản phẩm. Ngày nay khi Việt
Nam đã là thành viên của WTO sẽ đem lại cho dệt may nhiều cơ hội mới
nhưng ngành cũng phải đối mặt với nhiều thách thức mới. Toàn ngành đang
nỗ lực hết sức mình để dệt may Việt Nam có thể cất cánh bay lên một tầm cao
mới.
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
1
Công ty Cổ phần may Sông Hồng đã có hơn 20 năm công tác xuất khẩu
dệt may ra thị trường thế giới.Trong những năm qua Công ty đã có rất nhiều
nỗ lực và cố gắng sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may ra thế giới. Hiện nay
Sông Hồng. Từ năm 1992 đến năm 1997, những cố gắng của công ty đã
mang lại nhiều kết quả bất ngờ: sản phẩm của công ty bắt đầu có uy tín trên
thị trường xuất khẩu, nhiều khách hàng khó tính nhất đã ký kết làm ăn lâu
dài với công ty…
Tháng 7 năm 2004 vừa qua, công ty đã chuyển thành Công ty Cổ phần
May Sông Hồng với 100% vốn là do các cổ đông đóng góp. Đây là một bước
ngoặt đánh dấu sự trưởng thành và lớn mạnh của Công ty. Rất nhiều thương
hiệu may mặc nổi tiếng thế giới đã đặt hàng sản xuất với số lượng lớn tại
Sông Hồng như: GAP, Old Navy, Timberlands, JcPenny, Diesel, Spyder,
Champion, Sag Harbor, Liz Claiborne, Reset, Cabela’s, Benetton, C&A….
Tháng 10 năm 2005 Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất về thị trấn
Xuân Trường huyện Xuân trường với diện tích hơn 7 ha.
Tháng 11 năm 2006, Công ty đã mở một văn phòng đại diện tại Hồng
Kông với mục tiêu nhận trực tiếp đơn hàng từ khách hàng mà không qua các
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
3
hệ thống trung gian (trực tiếp lo từ đầu vào là nguyên vật liệu,thiết kế,… để
cuối cùng đầu ra một sản phẩm hoàn chỉnh) gọi tắt là hàng FOB, xu hướng sẽ
bỏ dần kiểu truyền thống là gia công cố hữu.
Chức năng chính của công ty là gia công may mặc các loại áo jacket, quần
Short và sản xuất chăn ga gối đệm cao cấp, siêu cao cấp đáp ứng nhu cầu theo
đơn đặt hàng xuất khẩu trong và ngoài nước
2. Chứ năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức:
Công ty cổ phần may Sông Hông được thành lập vào năm 1988.Tổng
giám đốc của công ty là ông Bùi Đức Thịnh.Diện tích của công ty (theo năm
2007) là160.000m2.Trong đó đến 90.000m2 là diện tích nhà xưởng.Công ty
có 10 xưởng may,trên 6.200 thiết bị may và các thiết bị chuyên dùng cho sản
xuất bông,chăn,giặt thuộc các thế hệ thiết bị mới nhâtSố công nhân của công
ty theo năm 2007 là 5.700 người.Công ty có các loại sản phẩm may mặc
chính : áo jacket, gilê, lông vũ các loại, quần, quần short nam nữ, trẻ em, áo
TTNĐ
Giám đốc
Điều hành
công tác
XNK
Giám đốc
Điều hành
Quản trị
NNL &
Hành Chính
Phòng Kế
hoạch thị
trường
Phòng Kỹ
thuật Đầu
Tư
Phòng Kế
toán tài chính
Phòng
xuất nhập
khẩu
Phòng Tổ
chức hành
chính
Đại diện lãnh
đạo về sức
khoẻ và an
toàn
Phòng
Thương Mại
1.Cơ sở lý luận về Xuất khẩu
1.1.Khái niệm
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ ra thị
trường nước ngoài hoặc bán hàng hoá dịch vụ cho người nước ngoài ở trong
nước hoặc bán hàng hoá dịch vụ cho các thuộc các khu công nghiệp, khu chế
xuất ở trong nước trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiên thanh toán, với mục
tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc
với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của
từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá
giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng
hoạt động này.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của
hoạt động ngoại thương . Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển
của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho
đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của
nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc
hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu
đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói
riêng.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có
thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể
được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Mục
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
6
tiêu của xuất khẩu khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao
động quốc tế, và thực hiện mục tiêu chủ yếu quan trọng là xuất khẩu thu
ngoại tệ để nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu của kinh tế nước nhà bao gồm:
nhu cầu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá cho tiêu dùng và tạo thêm
là tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp nói riêng cả quốc gia nói chung.
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương
và là hoạt động đầu tiên của thương mại quốc tế. Xuất khẩu có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên
toàn thế giới.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá là một trong
bốn khâu của quá trình sản xuất mở rộng. Đây là cầu nối giữa sản xuất và tiêu
dùng của nước này với nước khác. Có thể nói sự phát triển của của xuất khẩu
sẽ là một trong những động lực chính để thúc đẩy sản xuất.
Trước hết, xuất khẩu bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiện của
sản xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và
nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nước kém lợi
thế hơn thì chắc chắn sẽ đem lại lợi nhuần lớn hơn.
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo như hầu hết các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều
khẳng định và chỉ rõ để tăng trưởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có
bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ. Nhưng
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
8
hầu hết các quốc gia đang phát triển (như Việt Nam ) đều thiếu vốn, kỹ thuật
công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ
1.2.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước
Đối với nước ta hiện nay để thực hiện để thực hiện đường lối của Đảng
và nhà nước đến năm 2020 thực hiện xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải
cần một nguồn vốn ngoại tệ lớn để nhập các trang thiết bị kỹ thuật công nghệ
hiện đại. Ngoài những nguồn vốn viện trợ chúng ta cần phải tăng cường xuất
khẩu để đảm bảo cho khả năng thanh toán, cân bằng cán cân thanh toán quốc
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng
nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất
về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa ra của sản
xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó
các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan
điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất
khẩu. Nó thể hiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều
này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các
ngành khác như bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy…sẽ có điều kiện phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phầnổn
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
10
định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng thị trường tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc
gia có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lương lớn hơn nhiều lần giới
hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ
không có khả năng sản xuất được.
+ Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu
hoá như ngày nay, mỗi loại sản phẩm người ta nghiên cứu thử nghiệm ở nước
thứ nhất, chế tạo ở nước thứ hai, lắp ráp ở nước thứ ba, tiêu thụ ở nước thứ tư
và thanh toán thực hiện ở nước thứ 5. Như vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi
quốc gia và tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngược trở lại của
chuyên môn hoá tới xuất khẩu.
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hướng vươn ra
thị trường quốc tế là một xu hướng chung của tất cả các quốc gia và các
doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con đường quen thuộc để các
doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trướng, phát triển, mở rộng thị
trường của mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của
doanh nghiệp không chỉ được các khách hàng trong nước biết đến mà còn có
mặt ở thị trường nước ngoài.
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
12
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó
nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK
cũng như các đơn vị tham gia như: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong
khả năng xuất khẩu các thị trường mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi
thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị
tham gia xuất khẩu trong và ngoài nước. Đây là một trong những nguyên
nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lượng
hàng hoá xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá
thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết
kiệm các nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được thu hút được
nhiều lao động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân
viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên
quá giá trị trong nước hay nói một cách khác, nó làm hạ thấp tương đối mức
giá cả trong nước của hàng hóa có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả
quốc tế. Điều này phù hợp với thực tiễn thương mại của các nước nhỏ. ở
nhiều nước phát triển khi nói tới thuế quan tức là đồng nhất với thuế nhập
khẩu. Tuy nhiên ở những nước đang phát triển người ta vẫn sử dụng khá phổ
biến thuế xuất khẩu đặc biệt là đánh vào các sản phẩm truyền thống nhằm
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
14
tăng thêm lợi ích cho quốc gia. Ví dụ: Zambia đánh thuế đồng xuất khẩu của
mình theo các mức thuế khác nhau.
Thuế quan xuất khẩu cũng làm tăng nguồn thu cho Ngân sách, nhưng nó
lại làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả trong
nước. Tuy nhiên tác động của thuế quan xuất khẩu nhiều khi lại trực tiếp đưa
đến cho khả năng xuất khẩu. Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là
nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế xuất khẩu sẽ làm
hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu
xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm sản lượng trong nước của
mặt hàng có thể xuất khẩu sẽ giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất
lợi cho những mặt hàng này. Trong một số trường hợp, việc đánh thuế xuất
khẩu làm cho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi cho nước
xuất khẩu, nếu như họ có tác động đáng kể đến giá quốc tế. Ví dụ: có sự độc
quyền việc xuất khẩu sâm của Triều Tiên.
Như vậy, thuế xuất khẩu sẽ làm giảm lượng cung quá mức trong nước
đối với hàng có thể xuất khẩu, đồng thời chúng sẽ tác động đến hoạt đông
thương mại khác cũng như phân phối lại lợi ích. Vì vậy Nhà nước tuỳ theo
những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu hay không khuyến khích xuất
khẩu mà có biểu thuế khác nhau do đó nó tác động rất lớn đến các mặt hàng
xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu.
2.1.2 Hạn ngạch
Các nước thường áp dụng hạn ngạch để bảo hộ sản xuất trong nước. Ví
khẩu. Sự khác biệt thứ hai là hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp duy
nhất trong nước thành một doanh nghiệp độc quyền có thể đặt mức giá bán
cao để họ thu lợi nhuận tối đa.
Từ sự khác nhau đó các nhà kinh tế nhìn nhận nói chung hạn ngạch có
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
16
hại nhiều hơn thuế quan. Nhưng theo họ có thể giải quyết bằng cách là chính
phủ thực hiện bán đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thì sẽ khắc
phục được tình trạng nói trên.
Hạn ngạch nhập khẩu thường được quy định theo một loại sản phẩm đặc
biệt hay sản phẩm và thị trường đặc biệt. ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch
nhập khẩu chỉ áp dụng với 4 loại hàng: ô tô 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy,
kinh kiện điện tử dạng LKD, SKD, nguyên liệu phụ liệu sản xuất thuốc lá.
Để quản lý nhập khẩu các nước cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu. Hạn
ngạch xuất khẩu được quy định theo mặt hàng, theo nước và thời gian nhất
định. ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch xuất khẩu chỉ quy định đối với mặt
hàng gạo.
2.1.3 Trợ cấp xuất khẩu
Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu còn có những công cụ
dùng để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu. Chính phủ có thể áp dụng các biện
pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu
trong nước. Bên cạnh đó Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay
ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm
do nước mình sản xuất ra, và để xuất khẩu ra bên ngoài. Đây chính là các
khoản tín dụng "viện trợ" mà Chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp
dụng, khi cho các nước đang phát triển vay (thường có kèm theo các điều kiện
chính trị).
Giả sử để nâng đỡ một ngành sản xuất nào đó, Chính phủ sẽ trợ cấp trực
tiếp một khoản tiền nhất định cho bộ phận sản phẩm được đem vào xuất khẩu.
Khi ấy các nhà sản xuất trong nước sẽ thu lợi về chính khoản tiền trợ cấp đó.
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
18
lượng nhập khẩu, các nhà sản xuất kinh doanh thường đầu tư vào lĩnh vực có
lợi nhất cho nên lợi nhuận sản xuất thay thế nhập khẩu phải giữ ở mức độ phù
hợp với lợi nhuận xuất khẩu. Điều này có nghĩa là bảo hộ bằng thuế quan
không được cao hơn mức trợ cấp xuất khẩu và cũng phải thấp nhất đối với
các mặt hàng.
Thứ ba, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, chính sách
đẩy mạnh xuất khẩu phải duy trì giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất
trong nước ở mức độ phản ảnh sự khan hiếm của chúng. Nguyên tắc cơ bản
là xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều nhất yếu tố sản xuất có sẵn của
nền kinh tế. Để đảm bảo cho các doanh nghiệp bất cứ thành phần nào của
nền kinh tế quyết định đầu tư hay sản xuất phù hợp với nguyên tắc đó thì
giá cả tương đối họ trả cho lao động, vốn, đất đai không được quá chênh
lệch với giá được hình thành bởi những lực lượng thị trường cạnh trên cơ
sở quan hệ cung cầu các nguồn lực đó. Nếu lao động dồi dào thì tiền lương
và các chi phí khác về nhân công phải thấp, còn vốn khan hiếm thì giá phải
cao đối với nhà đầu tư.
2.2. Các nhân tố vi mô
2.2.1 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,
khả năng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng quản lý có
hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua các
chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
- Vốn huy động
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
19
định cách thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho các nhu cầu mong muốn được
thoả mãn và cách thoả mãn của con người sống trong đó. Chính vì vậy, văn
hoá là yếu tố chi phối lối sống nên các nhà xuất khẩu luôn luôn phải quan
tâm tìm hiểu yếu tố văn hoá ở các thị trường mà mình tiến hành các hoạt
động xuất khẩu.
Các yếu tố chính trị pháp luật: các yếu tố chính trị pháp luật có ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu. Các công ty kinh doanh xuất khẩu
đều phải tuân thủ các quy định của các Chính phủ có liên quan, tập quán và
luật pháp quốc gia, quốc tế:
- Các quy định của luật pháp đối với hoạt động xuất khẩu (thuế, thủ tục
quy định về mặt hàng xuất khẩu, quy định quản lý về ngoại tệ…).
- Các hiệp ước, hiệp định thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp xuất
khẩu tham gia.
- Các quy định nhập khẩu của các quôc gia mà doanh nghiệp có quan hệ
làm ăn.
- Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan đến việc xuất khẩu
(Công ước Viên 1980, Incoterm 2000…).
Ngoài những vấn đề nói trên, Chính phủ còn thực hiện các chính sách
ngoại thương khác như: hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan…
Chính sách ngoại thương của Chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay
đổi. Sự thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh
xuất khẩu. Vì vậy, họ phải nắm được chiến lược phát triển kinh tế của đất
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
21
nước để nắm được xu hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của
Nhà nước.
Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu: các yếu tố hạ tầngphục
vụ cho hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt đông xuất khẩu,
chẳng hạn như:
- Hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển: mức độ trang bị, hệ
3.Vai trò của thị trường Mỹ đối với xuất khẩu của công ty Cổ phần
may Sông Hồng
3.1. Tổng quan nền kinh tế Mỹ
Hoa Kỳ là một quốc gia rộng lớn có diện tích 9.327.614 km2 với số dân
280 triệu (năm 2000). Với diện tích đứng thứ 4 thế giới và đông dân thứ 3 thế
giới nên có thể nói Mỹ là thị trường riêng lẻ lớn nhất thế giới. Mỹ lại là nước
tham gia và giữ vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc tế quan trọng
như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân
hàng thế giới (WB), là thành viên lớn nhất của khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA), Hiện nay Hoa Kỳ cũng là thị trường xuất khẩu quan trọng
nhất của các nước ASEAN chính vì vậy việc tìm hiểu về nền kinh tế Mỹ và hệ
thống luật pháp của Mỹ là yếu tố tiên quyết cho chiến lược thâm nhập thị
trường Mỹ.
Nền kinh tế Mỹ là một nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thị
trường. Với vị thế to lớn của mình trên thế giới Mỹ thống trị thế giới với hơn
24 nước gắn trực tiếp các đồng tiền của họ vào đồng USD, 55 nước neo giá
vào đồng USD, các nước còn lại vẫn dựa vào sự biến động của đồng USD để
định giá đồng tiền của nước mình. Mỹ là môi trường thuận lợi cho đầu tư
nước ngoài cũng là nơi đầu tư ra nước ngoài hàng đầu thế giới. Có thể nói
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
23
mọi sự biến động của nền kinh tế Mỹ đều ảnh hưởng lớn đến sự biến động
của nền kinh tế thế giới. Và chắc chắn rằng trong hiện tại và cả trong những
thập kỷ tới Mỹ vẫn tiếp tục là nền kinh tế mạnh nhất, có ảnh hưởng lớn đến
nền kinh tế toàn cầu.
Hệ thống chính trị của Mỹ hoạt động theo nguyên tắc tam quyền phân
lập, quyền lập pháp tối cao được quốc hội thực hiện thông qua Thượng nghị
viện và Hạ nghị viện. Hệ thống luật pháp của Mỹ được phân thành hai cấp đó
là các bang và trung ương. Mỗi bang lại là một đơn vị độc lập có quyền tự
quyết và hệ thống luật pháp riêng. Một đặc điểm lớn trong chính sách đối
Công nghiệp sản xuất hàng dệt may giữ một vị trí quan trọng trong nền
kinh tế Mỹ. Đây là ngành có trình độ công nghệ kỹ thuật tiên tiến do luôn được
đầu tư máy móc hiện đại. Ngành đã đạt đến trình độ phân hoá cao thoát khỏi
tình trạng tập trung nhiều lao động. Các doanh nghiệp dệt may của Mỹ chủ yếu
hoạt động theo quy mô lớn. Đặc biệt đồ lót và jean là thế mạnh của Mỹ, rất
nhiều Công ty của Mỹ thành công trong lĩnh vực này, đạt được thương hiệu
quốc tế và điều hành cả một thị trường lớn. Các hãng thời trang cao cấp của
Mỹ luôn được đánh giá cao tại nhiều nước trên thế giới. Lợi thế cạnh tranh của
các nhà sản xuất hàng dệt may Mỹ là: nhãn hiệu, chất lượng và đáp ứng nhanh.
Ngành dệt may Mỹ hiện tại đang tập trung vào các loại vải cao cấp và
bán với giá cao hơn. Các sản phẩm vải cho may mặc đang bị giảm bớt và ít
được sản xuất ở Mỹ. Trong khi đó ngày càng nhiều nhà bán lẻ Mỹ chọn các
mặt hàng kém chất lượng hơn được nhập từ nước ngoài với giá rẻ để kinh
doanh do hàng trong nước trở nên quá đắt. Đây là một điều thuận lợi cho các
nước xuất khẩu dệt may vào Mỹ.
3.2.2. Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Các mặt
hàng may mặc nhập khẩu vào Mỹ cũng rất đa dạng và phong phú, chủ yếu là
Nguyễn Toàn Thắng - Kế Hoạch 46 A - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
25