ước lượng chi phí của khoản nợ vay có rủi ro - Pdf 10

Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ
TÀI SẢN QUỐC GIA 5
1.THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CÁC CÁCH PHÂN LOẠI 5
1.1.Khái niệm chung về thị trường tài chính 5
1.2.Chức năng của thị trường tài chính 6
1.3.Cấu trúc của thị trường tài chính: 9
2. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 11
3. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ Ở VIỆT NAM 12
4. CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN QUỐC GIA 14
4.1.Khái quát về công ty quản lý tài sản quốc gia 14
4.2.Hoạt động mua bán nợ của Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia 20
CHƯƠNG 2: SỰ RA ĐỜI CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG CỦA
DOANH NGHIỆP (DATC) VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO DATC 30
1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÔNG TY MUA BÁN NỢ VÀ TÀI SẢN TỒN ĐỌNG
CỦA DOANH NGHIỆP 30
2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÔNG TY 34
3. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO DATC 38
3.1. Thành tựu đạt được 38
3.2. Những vấn đề đặt ra cho DATC 39
CHƯƠNG 3: ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ CỦA KHOẢN NỢ 42
CÓ RỦI RO 42
1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 42
1.1. Rủi ro là gì 42
1.2. Chi phí vốn 43
2. MÔ HÌNH XÁC ĐỊNH CHI PHÍ VỐN VAY CÓ RỦI RO THEO MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ

 k
s
= chi phí (hay suất sinh lợi kỳ vọng) vốn chủ sở hữu trong trường hợp
có vay nợ
 ρ = suất sinh lợi vốn chủ sở hữu trong trường hợp không vay nợ
 k
b
= Chi phí (hay suất sinh lợi kỳ vọng) nợ vay
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
 WACC = Chi phí vốn bình quân có trọng số
 R
f
= tỷ lệ lãi suất phi rủi ro
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, thị trường mua bán nợ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
rất phát triển, ngay ở các thị trường mới như Châu Á thì sự phát triển của thị
trường mua bán nợ cũng đang diễn ra mạnh mẽ. Tại Hàn Quốc, có Công ty Quản
lý tài sản KAMCO, tại Trung Quốc có bốn AMC hoạt động sôi nổi trên thị
trường, tại Thái Lan,…
Tại Việt Nam, thị trường mua bán nợ đang trong những bước đầu hình
thành và phát triển. Trên thị trường hiện nay, tình trạng nợ xấu, nợ tồn đọng, tại
các Ngân hàng và các doanh nghiệp khác chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Điều này
làm cho tình hình tài chính của các Công ty ngày càng xấu đi. Mặt khác, các
ngân hàng hay bản thân các doanh nghiệp cũng không có đủ công cụ pháp lý
cũng như khả năng để giải quyết tình trạng này. Bởi lẽ đó việc ra đời các định
chế tài chính để thực hiện các công việc này là hết sức cần thiết. Sự ra đời của
các Công ty Quản lý Tài sản (AMC) nói chung và sự ra đời của Công ty Mua

giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu lựa chọn đề tài, xác định hướng nghiên
cứu, sửa chữa, nâng cao kiến thức cho bản thân trong quá trình hoàn thiện báo
cáo thực tập chuyên đề này.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
Mặc dù vậy, do còn có những hạn chế nhất định trong kiến thức và kinh
nghiệm thực tiễn nên chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy em mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các
thầy cô cùng toàn thể bạn đọc để em có thể nâng cao lý luận và kiến thức thực
tiễn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA
BÁN NỢ VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN QUỐC
GIA
1.THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CÁC CÁCH PHÂN LOẠI
1.1.Khái niệm chung về thị trường tài chính
Nhu cầu về vốn để tiến hành đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát
sinh từ các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Trong đó, thường xảy ra tình
huống thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư
hoặc không biết đầu tư vào đâu. Từ đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ
tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được thực hiện và điều chỉnh trong khuôn khổ
một thị trường đó là thị trường tài chính. Trên thị trường tài chính, những người
thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ
phiếu, trái phiếu,… Những người có vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào
máy móc thiết bị, nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay cung cấp dịch vụ, sẽ đầu
tư (mua) các công cụ tài chính được phát hành bởi những người cần huy động
vốn.
Vậy, thị trường tài chính là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người dư
thừa vốn tới những người thiếu vốn. Thị trường tài chính cũng có thể được định

6
Người đi vay
vốn
4.hộ gia đình
5.doanh
nghiệp
6.chính phủ
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường, tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp. Trong tài trợ trực tiếp, những người
cần vốn huy động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách bán các chứng
khoán cho họ. Các chứng khoán này là các công cụ tài chính, nó cung cấp các
quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản và các quyền khác cho chủ sở hữu đối với
người phát hành.các chứng khoán được mua bán rộng rãi trên thị trường cấp một
và thị trường cấp hai. Cách thức thứ hai để dẫn vốn là tài trợ gián tiếp thông qua
các trung gian tài chính. Các trung gian tài chính như các ngân hàng, các tổ chức
tín dụng, các tổ chức bảo hiểm và các trung gian tài chính khác có vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, đồng
thời các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn và hỗ trợ cho
dòng tài chính trực tiếp như thông qua các hoạt động: đại lý, bảo lãnh, thanh toán
v.v
Như vậy thông qua việc dẫn chuyển vốn , thị trường tài chính có vai trò
quan trọng trong việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, trên
cơ sở đó làm tăng năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Thị trường tài
chính trực tiếp cải thiện mức sống cho cả những ngưòi có vốn và những người
cần vốn.
- Xác định giá cả của các tài sản tài chính
Thông qua quan hệ giữa người mua và người bán (quan hệ cung cầu trên
thị trường) giá cả của các tài sản tài chính được xác định, hay nói cách khác, lợi

hoà lưu thông tiền tệ, đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
Chức năng này được thể hiện thông qua mua bán các trái phiếu, tín phiếu
và các giấy tờ có giá khác của Ngân hang trung ương trên thị trường tài chính và
thị trường tiền tệ. Thông qua đó Chính phủ có thể huy động được nguồn vốn lớn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
8
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
để bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, Ngân hàng Trung
ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trương ngoại hối để điều chỉnh lượng
cung và cầu ngoại tề nhằm giúp Chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái.
Như vậy, thị trường tài chính có chức năng hết sức quan trọng không
những đối với nền kinh tế mà cả đối với từng cá nhân, tổ chức kinh tế. Thị
trường tài chính tạo điều kiện cho phép vốn được chuyển từ người nhàn rỗi và
không có cơ hội đầu tư hiệu quả sang cho người có cơ hội đầu tư, có khả năng
sản xuất, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra
thị trường tài chính cũng trực tiếp cải thiện mức sống của người tiêu dùng bằng
cách giúp họ chọn thời điểm mua sắm tốt hơn. Thị trường tài chính hoạt động
hiệu quả sẽ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
1.3.Cấu trúc của thị trường tài chính:
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau, người ta phân loại thị trường tài chính
thành các thị trường bộ phận.
* Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần:
Căn cứ vào phương thức huy động vốn của tổ chức phát hành, thị trường
tài chính được phân thành thị trường vốn cổ phần và thị trường nợ.
Thị trường vốn cổ phần là nơi mua bán các cổ phiếu, giấy xác nhận cổ
phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữư của công ty và phải chịu
trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền
yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công
ty. Cổ phiếu là vô thời hạn vì chúng không xác định cụ thể ngày mãn hạn. Người

Thị trường sơ cấp ít quen thuộc đối với công chúng đầu tư vì việc bán
chứng khoán tới người mua đầu tiên được tiến hành theo những phương thức và
đặc thù riêng, thông thường chỉ giới hạn ở một số thành viên nhất định.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
Thị trường thứ cấp: thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công cụ
tài chính sau khi chúng được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp
còn được gọi là thị trường cấp hai.
Hoạt động trên thị trường thứ cấp diễn ra trong phạm vi rộng hơn với tổng
mức lưu chuyển vốn lớn hơn nhiều so với thị trường sơ cấp. Tuy nhiên việc mua
bán chứng khoán trên thị trường này không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức
phát hành mà thực chất chỉ là quá trình chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể
khác hay nói cách khác trên thị trường thứ cấp diễn ra việc trao đổi, mua bán các
“quyền sở hữu công cụ tài chính”.
Thị trường thứ cấp làm cho các công cụ tài chính có tính lỏng và tính sinh
lợi cao hơn và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trên thị trường sơ
cấp. Vì vậy, có thể nói thị trường thứ cấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của
thị trường sơ cấp.
Mối quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp là mối quan hệ nội tại, hữư
cơ và biện chứng. Thị trường sơ cấp đóng vai trò là cơ sở, tiền đề cho thị trường
thứ cấp và ngược lại thị trường thứ cấp đóng vai trò là động lực thúc đẩy thị
trường sơ cấp phát triển.
2. VAI TRÒ CỦA THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ.
Là một bộ phận nằm trong thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ
cũng mang đầy đủ vai trò của thị trường tài chính nói chung. Bên cạnh đó, thị
trường mua bán nợ cũng có vai trò nổi bật, cụ thể là:
Thị trường mua bán nợ giúp tình hình tài chính các doanh nghiệp trở nên
lành mạnh hơn.

thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Vì chưa có một hành lang pháp
lý cho hoạt động mua bán nợ, hoạt động của các công ty quản lý nợ còn đơn giản
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
12
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
và nội bộ. Có nhiều biện pháp để xử lý nợ, như bán tài sản bảo đảm, tái cơ cấu
công ty, chứng khoán hoá, phá sản công ty Nhưng hiện nay phần lớn công ty
quản lý nợ vẫn chỉ cách làm truyền thống là xử lý tài sản đảm bảo; không thu hồi
được thì khởi kiện.
Môi trường pháp lý của Việt Nam chưa hỗ trợ đầy đủ cho ngân hàng chủ
động xử lý tài sản đảm bảo mà không có sự can thiệp của toà án. Từ lúc khởi
kiện đến cưỡng chế, một vụ ít nhất mất hai năm, trung bình mất tám đến chin
năm.
Thêm vào đó, thị trường mua bán nợ chưa có người mua lại nợ. Theo ông
Dominic Scriven, giám đốc công ty quản lý quỹ Dragon Capital, quỹ của ông
vẫn đang đứng ngoài quan sát. Vì hệ thống pháp lý chưa hỗ trợ đầy đủ cho thị
trường nợ. “Nợ của ngân hàng mà ngân hàng còn không đòi được, làm sao người
khác dám mua?”.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thì thị trường mua bán nợ đang dần có
những bước phát triển mới. Thị trường nợ đựợc nhận định là thu hút các quỹ
nước ngoài. Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường nổi bật nhất
Châu Á đang thu hút các quỹ trái phiếu toàn cầu vì tỷ lệ tăng trưởng ngày một
tăng cũng như mức định giá tín nhiệm ngày một cao hơn ( hiện nay hạn mức tín
nhiệm nợ vay dài hạn của Việt Nam theo đánh giá của Moody’s là Ba2 )
Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, đặc biệt là trong năm nay nước ta
đã chính thức gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, thì đây sẽ là một điều kiện
có tính chất đòn bẩy để thị trường mua bán nợ bước sang một giai đoạn phát
triển mới đầy triển vọng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

14
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh”.
Trên thực tế,các doanh nghiệp tồn tại rất đa dạng, chúng có thể được phân
loại theo nhiều cách khác nhau tuỳ vào tiêu chí dùng để phân loại. Sau đây là
một số tiêu chí phân loại chủ yếu:
Phân loại theo hình thức sở hữu doanh nghiệp: Nếu lấy tiêu chí hình thức
sở hữu doanh nghiệp để phân loại thì có một số loại doanh nghiệp chính như sau:
 Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước
 Doanh nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
 Doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể
 Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân
 Doanh nghiệp thuộc sở hữu hỗn hợp
Phân loại theo tính chịu trách nhiệm: Việc phân loại theo tiêu chí này để
nhận biết xem giới hạn chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đến đâu đối với các
khoản nợ của doanh nghiệp. Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia làm hai
loại:
 Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn
 Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn
Phân loại theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp:
 Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
 Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp thường được phân loại một cách cụ thể
theo sở hữu và mô hình hoạt động, bao gồm:
 Doanh nghiệp Nhà nước
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
15
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính

đọng trong nền kinh tế. Do đó các Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia phải là
Doanh nghiệp Nhà nước, do Chính phủ hoặc Bộ Tài chính lập ra.
Một số mô hình Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia trong khu vực Châu Á
* Hàn Quốc: Hàn Quốc là quốc gia Châu Á đi đầu trong việc thành lập công
ty chuyên về xử lý nợ và tài sản tồn đọng. Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc
(KAMCO) được thành lập theo luật “Bán hiệu quả các tài sản tồn đọng của các
tổ chức tài chính và thành lập Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc” năm1997.
KAMCO được thành lập nhằm thúc đẩy việc xử lý tài sản tồn đọng do các tổ
chức tài chính nắm giữ , và hỗ trợ có hiệu quả quá trình bình thường hoá quản lý
của các doanh nghiệp có dấu hiệu khó khăn về thanh toán. KAMCO hoạt động
dưới sự điều hành của Ban quản trị và quản lý của Ban Giám đốc. Vốn điều lệ
của KAMCO là 1 nghìn tỷ won.
Hoạt động của KAMCO có một số đặc điểm là:
Thứ nhất, KAMCO đóng vai trò như một “bệnh viện” của các doanh
nghiệp gặp khó khăn về tài chính, lựa chọn hợp lý các doanh nghiệp để khôi
phục bằng việc nỗ lực liên tục triển khai các nhiệm vụ, phát huy chuyên môn,
phát triển nguồn nhân lực và giám sát chặt chẽ việc quản lý kết quả thực hiện
nhằm ngăn chặn không cho các doanh nghiệp đã được khôi phục rơi vào tình
trạng khó khăn một lần nữa.
Thứ hai, KAMCO hợp tác với một số tổ chức hữu quan để tích cực khôi
phục và thúc đẩy thực hiện những vấn đề các bên cùng quan tâm như những
ngoại lệ trong đấu giá toà án hoặc phát hành chứng khoán có tài sản đảm bảo cho
các doanh nghiệp có khả năng phục hồi.
Thứ ba, các doanh nghiệp được khôi phục được xoá tên trong danh sách
các giao dịch xấu để có thể hoạt động bình đẳng cới các tổ chức tài chính.
KAMCO đã lập kế hoạch xoá tên họ trong các giao dịch xấu thông qua hợp tác
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
17
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45

Xây dựng
Khối lượng
NTĐ đã mua
49,29 41,88 32,23 45,10
Chuyển nợ 16,92 1,92 9,77 23,77
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
18
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
thành cổ phần
Bảng 1.1: Khối lượng Nợ tồn đọng đã mua và chuyển thành cổ phần của bốn
AMC Trung Quốc.
(Nguồn: Báo cáo hàng năm của bốn AMC Trung Quốc)
*Thái Lan: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, nợ tồn đọng đã bùng
nổ tại Thái Lan. Theo thống kê tại thời điểm tháng 5/2000, khối lượng nợ tồn
đọng của Thái Lan là 48,63 triệu USD. Để xử lý khối lượng nợ tồn đọng này, Bộ
Tài chính của Thái Lan đã thành lập Công ty Quản lý Tài sản (AMC) với số vốn
hoạt động là 10 tỷ bath. Hoạt động chính của AMC là mua, quản lý, bán nợ và
tài sản tồn đọng. AMC của Thái Lan sử dụng phương pháp xử lý nợ tồn đọng
chủ yếu là cơ cấu thời hạn nợ, xoá, chuyển nợ thành cổ phần, bán nợ. Ở Thái
Lan, AMC còn được giúp đỡ bởi Cơ quan Tái cơ cấu Tài chính ( có vốn là 500
triệu bath). Mục đích hoạt động của Cơ quan Tái cơ cấu Tài chính là sáp nhập,
tăng vốn, bảo lãnh nợ cho các tổ chức tài chính gặp khó khăn về trả nợ.
4.1.2.Vai trò và đặc điểm của Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia
Nhìn chung, Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia có một số vai trò chung
như sau:
 Tạo công cụ thích hợp giúp doanh nghiệp xử lí các khoản nợ và tài sản tồn
đọng.
 Góp phần giải quyết những tồn tại về tài chính nhằm thúc đẩy nhanh quá
trình sắp xếp, cổ phần hoá, giao, bán, khoán, và cho thuê doanh nghiệp.

4.2.1.Khái niệm và phân loại nợ
i. Khái niệm về nợ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
20
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản nợ của doanh nghiệp
thường phát sinh do quan hệ tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại và phát
hành trái phiếu. Trong hoạt động mua bán nợ, nợ được hiểu là một khoản tiền mà
khách nợ phải có nghĩa vụ thanh toán với chủ nợ vào một thời điểm nhất định.
Trong đó, khách nợ là các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nợ phải trả; còn chủ
nợ là các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có nợ phải thu. Một khoản nợ thường
được xác định bởi các yếu tố: chủ nợ, khách nợ, giá trị khoản nợ, thời hạn thanh
toán( thời gian của khoản nợ), lãi suất, tài sản thế chấp…
Đối với Công ty Quản lý Tài sản Quốc gia, việc phân tích và phân loại các
khoản nợ là rất quan trọng vì nó giúp Công ty có thể xác định được giá trị và
mức độ rủi ro của khoản nợ - những yếu tố liên quan trực tiếp đến doanh thu và
chi phí của Công ty.
ii. Phân loại nợ
a. Phân loại theo thời gian
Nợ ngắn hạn: Thời gian của khoản nợ được hiểu là khoảng thời gian từ
thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán đến thời điểm thanh toán khoản nợ đó.
Thông thường những khoản nợ có thời gian dưới 12 tháng được coi là nợ ngắn
hạn. Nợ ngắn hạn thường phát sinh trong quan hệ thương mại và tín dụng.
Nợ trung và dài hạn: là những khoản nợ có thời gian lớn hơn hoặc bằng 12
tháng. Nợ trung và dài hạn thường do phát hành trái phiếu hoặc tín dụng trung và
dài hạn.
b. Phân loại theo nguồn gốc phát sinh
Nợ các tổ chức tín dụng: là loại nợ phổ biến nhất trong nền kinh tế. Trong
quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để bảo đảm nguồn

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nợ bao gồm:
d.1. Nợ nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm:
- Các khoản nợ chưa được cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn mà tổ chức tín
dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
- Một phần các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn (theo quy
định tại khoản 2, Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN).
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
d.2. Nợ nhóm 2: Nợ cần chú ý
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm:
- Các khoản nợ chưa được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày.
- Các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn được phân loại vào
nhóm 2 (theo Khoản 2, Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ -NHNN).
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 2 do khách hàng có bất kỳ khoản nợ bị
chuyển sang nhóm nợ có rủi ro cao hơn (theo quy định tại Khoản 3, Điều 6
Quyết định 493/2005/QĐ -NHNN).
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 2 do chất lượng của khoản nợ đó có dấu
hiệu suy giảm (theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ
-NHNN).
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm:
Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả

24
Nguyễn Ngọc Tú Toán Tài Chính
45
- Các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 4 do khách hàng có bất kỳ khoản nợ bị
chuyển sang nhóm nợ có rủi ro cao hơn (theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Quyết
định 493/2005/QĐ -NHNN).
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 4 do chất lượng của khoản nợ đó có dấu
hiệu suy giảm (theo quy định tại khoản 4 Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ
-NHNN).
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm:
Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao.
d.5. Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
• Theo phương pháp phân loại tại Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-
NHNN, bao gồm:
- Các khoản nợ chưa được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo
thời hạn đã được cơ cấu lại.
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
- Các khoản nợ được phân vào nhóm 5 do khách hàng có bất kỳ khoản nợ bị
chuyển sang nhóm nợ có rủi ro cao hơn (theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Quyết
định 493/2005/QĐ -NHNN).
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
25


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status