Tài liệu TIỂU LUẬN: Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo doc - Pdf 10



TIỂU LUẬN:
Nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà
nước cho Chương trình mục tiêu Quốc
gia Giáo dục & Đào tạo
LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát
của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta là: Đưa đất nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá. Con đường công nghiệp hoá - hiện
đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có
những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt ". Để đạt được các mục tiêu nêu
trên, giáo dục và khoa học công nghệ có vai trò quyết định, nhu cầu phát triển giáo
dục là rất bức thiết.
Với quan điểm đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, từ trước đến nay kể
cả trong những giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước đã quan
tâm chú trọng đầu tư cho phát triển giáo dục & đào tạo, mức đầu tư cho giáo dục

tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước cho
Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
NỘI DUNG
Chương I. Những vấn đề chung về chi Ngân sách Nhà nước cho Chương trình
mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
1.1. Sự cần thiết phải phát triển Giáo dục và Đào tạo
Con người với vai trò vị trí vừa là động lực quan trọng nhất của sự phát triển
xã hội, vừa là mục tiêu, là sản phẩm của xã hội và cũng đồng thời là yếu tố quan
trọng nhất của lực lượng sản xuất; mà sản phẩm trực tiếp đó chính là kết quả của
nền giáo dục đào tạo.
Mỗi thời đại và từng quốc gia có chính sách quản lý, phát triển giáo dục

là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Người nói:” Một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu”, “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp to lớn
của Đảng và nhân dân, do đó các ngành, các cấp Đảng và Chính quyền địa phương
phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này. Phải chăm sóc nhà trường về
mọi mặt, đẩy mạnh phát triển giáo dục của ta lên một bước phát triển mới…”, “ Vì
lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Tư tưởng ấy của Người đã được
Đảng và Nhà nước ta phát triển thành đường lối, chủ tương, chiến lược, chính sách
cụ thể qua từng thời kỳ.
GD&ĐT tạo ra những con người phát triển toàn diện, có năng lực nghề
nghiệp, có tinh thần ham hiểu biết, có tư duy sáng tạo, làm chủ khoa học kỹ thuật
hiện đại, có ý thức và năng lực hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng xã
hội, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt… đúng với mục tiêu của nước ta trên
chặng đường xây dựng xã hội mới - Xã hội chủ nghĩa: “Con người phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, đòi hỏi phải có những
con người có trình độ hiểu biết, thực sự dám nghĩ, dám làm; Đó là kết quả của một
nền giáo dục toàn diện. Nhận thức được vai trò quan trọng của GD&ĐT là nền tảng
đưa nước ta thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, là chìa khóa mở cửa tiến
vào tương lai, Nghị quyết Trung ương IV khóa VII của BCH Trung ương Đảng đã
đề ra: “Cùng với khoa học công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: Mở rộng quy
mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực
GD&ĐT trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH
tạo điều kiện cho nhân dân đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu
cực và yếu kém trong GD&ĐT”; Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:
“GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước trong một thời gian nhất
định.
Một chương trình mục tiêu quốc gia gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện
các mục tiêu của chương trình. Đối tượng quản lý và kế hoạch hóa được xác định
theo chương trình, việc đầu tư được thực hiện theo dự án.
Dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia là một tập hợp các hoạt động để
tiến hành một công việc nhất định nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã
được định rõ trong chương trình với nguồn lực và thời hạn thực hiện được xác định. 1.2.2. Nội dung của chương trình
Thực hiện Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 và Quyết định số
26/2003/QĐ-TTg ngày 17/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT thực
hiện CTMTQG GD&ĐT giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005, thông qua 7 Dự án
sau đây:
Dự án 1 : “Củng cố và phát huy kết quả Phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù
chữ, thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở”
Dự án 2: “Đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa”
Dự án 3: “Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường, đẩy mạnh
dạy ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Dự án 4: “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các trường sư
phạm”
Dự án 5: “Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng còn nhiều
khó khăn”
Dự án 6: “Tăng cường CSVC các trường học, các Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - Hướng nghiệp; xây dựng một số trường Đại học, THCN trọng điểm”
Dự án 7: “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”

trực tiếp, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN thực chất là việc thực hiện quan hệ tiền tệ, được hình thành trong
quá trình phân phối, đồng thời sử dụng NSNN vào việc cấp phát kinh phí cho bộ
máy quản lý Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà Nhà nước giao
cho, theo những nguyên tắc nhất định. Bên cạnh đó, chi NSNN còn là sự phối hợp
giữa quá trình phân phối và quá trình sử dụng NSNN vào các mục tiêu:
* Quá trình phân phối NSNN là quá trình thực hiện cấp phát kinh phí từ
NSNN, nhằm tạo ra sự hoạt động của các quỹ, trong sự vận hành và phát triển của
nền kinh tế.
* Quá trình sử dụng NSNN là quá trình trực tiếp sử dụng khoản kinh phí,
được cấp phát từ nguồn NSNN, phục vụ cho các mục tiêu phát triển của đất nước
Đầu tư cho GD&ĐT luôn được ưu tiên hàng đầu. Dù ở cơ chế kế hoạch hóa
tập trung hay ở cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì trong tất cả các
nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung, CTMTQG GD&ĐT nói
riêng, NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo có tính chất quyết định đối với việc hình
thành, mở rộng, phát triển hệ thống GD&ĐT và chiếm một tỷ trọng lớn, vì:
- Đây là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát triển hệ thống giáo
dục đào tạo theo định hướng, mục tiêu của Nhà nước.
- Giải quyết những vấn đề thuộc chính sách xã hội, công bằng trong giáo dục
đào tạo như vấn đề về quyền lợi được hưởng giáo dục ở khu vực vùng sâu,
xa và người bị thiệt thòi, con em của những gia đình chính sách hoặc gia
đình gặp khó khăn về đời sống kinh tế.
- Giải quyết những vấn đề phát triển của hệ thống giáo dục ở tầm quốc gia và
ở những khu vực mà các thành phần kinh tế xã hội khác chưa quan tâm hoặc
chưa đủ năng lực để thực hiện.
Để đạt được mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT thì nguồn vốn từ NSNN phải
tăng theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế và được cân đối trong dự toán chi ngân sách
Trung ương.
Chương II
Thực trạng chi Ngân sách Nhà nước
cho chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục & Đào tạo
2.1. Khái quát về GD&ĐT của nước ta trong thời gian qua
Trong những năm qua GD&ĐT đã đạt được một số kết quả:
Về thực hiện phổ cập giáo dục:Dự án củng cố và phát huy kết quả phổ cập
giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã thực hiện có chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu
học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây
dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục ( Chính vì vậy mà mặc dù Việt Nam là nước có thu nhập thấp
nhưng tỷ lệ người lớn biết chữ đã đạt tới 90% - Nguồn báo cáo phát triển thế giới
2007 của World Bank- Tạp chí nhà quản lý trang 17, số 44 tháng 2/2007)
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, đến tháng 7 năm 2007 có
39/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 61%) đạt chuẩn Quốc gia phổ cập giáo dục Tiểu học
đúng độ tuổi và 35/64 tỉnh, thành phố (đạt tỷ lệ 55%) được công nhận đạt chuẩn
Quốc gia phổ cập giáo dục THCS, 2 tỉnh đang hoàn thiện thủ tục để chuẩn bị được
kiểm tra là Tiền Giang và Tây Ninh.
Nhiệm vụ đổi mới chương trình, nội dung giáo dục phổ thông theo tinh thần
Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được hoàn thành cơ bản: Hoàn chỉnh nội dung,
chương trình, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 ở bậc tiểu học, từ lớp 6 đến lớp 9 ở
bậc trung học cơ sở và đưa vào thực hiện từ năm học 2001-2002. Năm học 2006 -
2007 đã tiếp tục tập trung thực hiện tốt đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp giáo dục, phân ban kết hợp với tự chọn ở lớp 10 THPT. Bên cạnh đó 8 chương
trình, SGK dạy tiếng dân tộc (KhMer, HMông, Jrai, Chăm) đã được ban hành theo
yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Năm học 2006 - 2007, hầu hết các địa phương, các Bộ Ngành liên quan đều
chủ động hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, xoá "xã trắng" về giáo

Trong giai đoạn 2001-2005 các nguồn kinh phí huy động như sau:
2.2.1. Tổng mức kinh phí từ Ngân sách Trung ương đã chi cho các dự án thuộc
CTMTQG GD&ĐT Giai đoạn 2001 – 2005
Nguồn kinh phí này được trích trực tiếp từ NSTW để thực hiện chương trình.
Đây là khoản chi rất lớn, mang tính chất thường xuyên nên khoản chi này được chi
theo dự toán, các khoản chi này nằm trong dự toán đã được xây dựng trước. Hàng
năm ngành GD&ĐT xây dựng dự toán cho khoản chi này, dự toán này sẽ là căn cứ
chính thức để phân bổ khoản chi và giao nhiệm vụ cho từng cấp từ Trung ương
xuống địa phương. Đồng thời Bộ GD&ĐT đã dự toán kinh phí chi CTMTQG
GD&ĐT để thực hiện ở cấp Trung ương và cấp địa phương
Tổng số kinh phí đã chi để thực hiện CTMTQG GD&ĐT là 7.537,7 tỷ đồng,
trong đó: NSTW là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14%; Nguồn NSĐP
và nguồn huy động từ cộng đồng là 1.585,4 tỷ đồng chiếm 20,4%; Nguồn vay nợ và
viện trợ nước ngoài là 657 tỷ đồng, chiếm 8,46%. Số

Tên các Dự án Năm

Năm

Năm


i
dung SGK
246,7

380 520

800
1.946,7 35,2
3
Đào tạo cán bộ tin học, đư
a
tin học vào nhà trường, đẩ
y
10,0

50 65 75
200,0 3,6
Bảng số 01: Ngân sách Trung ương thực cấp qua các năm của giai đoạn 2001-
2005 Đơn vị tính: tỷ đồng
Nguồn:Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài chính
Căn cứ vào nội dung hoạt động và phạm vi triển khai của các dự án, Bộ
GD&ĐT đã xây dựng dự toán chi tiết cho từng dự án, có phân chia theo từng năm.
Việc xây dựng dự toán ban đầu chưa tính đến nguồn kinh phí bổ sung của các dự án
hợp tác quốc tế và đóng góp của Ngân sách địa phương và cộng đồng, mà chỉ tính
phần Ngân sách Trung ương hỗ trợ.
Nhu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng GD&ĐT toàn diện ngày càng đòi
hỏi các dự án đề ra phải có chất lượng tốt, đạt hiệu quả do đó NSTW chi cho các Dự

Tăng cường CSVC các trư-
ờng học, Trung tâm kỹ thuậ
t
tổng hợp, HN, các trườ
ng
ĐH, THCN trọng điểm
330 265,0

165 195

230
1.185,0 21,4
7
Tăng cường năng lực đào tạ
o
nghề
110,0

130 200

340
780,0 14,1

Tổng cộng 600 937,7

970 1.250

1.770

5.527,7

đề nghị
2001 -2005
(Bộ
GD&ĐT)
Dự toán
thực phân
bổ
(NSTW)
2001 -
2005
Tỷ lệ
thực
phân bổ
so
với Dtoán

1
Củng cố và phát huy kết quả phổ
cập GDDH và XMC, thực hiện PC
200 195 97,5 %
THCS
2
Đổi mới chương trình, nội dung
SGK
2500 1.946,7 77,9 %
3
Đào tạo cán bộ tin học và đưa tin

hiện trong giai đoạn 2001- 2005 nhằm thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội nên đã
được ưu tiên bố trí kinh phí, chiếm 35,2% tổng kinh phí CTMTQG Các dự án còn
lại đầu được bố trí kinh phí tăng hàng năm theo những mức độ khác nhau. Mặc dù
vậy, kinh phí CTMTQG hàng năm được giao mới chỉ đáp ứng được từ 60% đến 70
% nhu cầu của ngành GD&ĐT.
2.2.2. Tình hình huy động các nguồn tài chính khác để thực hiện
CTMTQG GD&ĐT giai đoạn 2001-2005
Do tính chất và nhu cầu chi cho mục tiêu của chương trình nên các nguồn tài
chính huy động để chi cho chương trình đều tăng qua từng năm. Cho đến năm 2005
nguồn kinh phí huy động được từ các nguồn tài chính khác thì nguồn từ NSTW hỗ
trợ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong từng năm. Trong giai đoạn I, tổng vốn NSTW hỗ
trợ là 5.527,7 tỷ đồng (vốn sự nghiệp) chiếm 71,14% tổng vốn đầu tư. Điều đó cho
thấy vốn huy động để thực hiện chương trình thì vốn từ NSTW hỗ trợ vẫn là chủ
yếu. Việc cấp kinh phí hỗ trợ của Trung ương để thực hiện CTMTQG GD&ĐT đã
có tác động tích cực, khuyến khích các địa phương huy động thêm các nguồn tài
chính khác để thực hiện chương trình. Trong khi NSTW hỗ trợ 71,14 % thì các tỉnh,
thành phố phải huy động thêm 28,86% bằng các nguồn tài chính khác. Nguồn vốn
NSĐP và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác đã góp phần quan trọng trong
việc thực hiện các mục tiêu của CTMTQG GD&ĐT. Điều này cũng chứng tỏ việc
xác định mục tiêu, các đối tượng thụ hưởng của dự án đã phù hợp với yêu cầu,
nguyện vọng của địa phương.
Ngân sách địa phương:
Theo báo cáo thực hiện của các tỉnh, thành phố, bình quân hàng năm kinh
phí từ ngân sách địa phương và huy động từ cộng đồng… bổ sung thực hiện
CTMTQG GD&ĐT đạt từ 15% đến 25% tổng kinh phí CTMTQG thực hiện tại địa
phương. Cụ thể như sau:


nội dung SGK
68,3 108,0 141,0 223,5
540,8
3
Đào tạo cán bộ tin học
và đưa tin học vào nhà
trường, đẩy mạnh dạy
ngoại ngữ trong hệ
thống GDQD
8,0 10,0 11,6
29,6
4
Đào tạo và bồi dưỡng
giáo viên, tăng cường
CSVC các trường sư
phạm
9,5 9,8 6,3 5,4 7,2
38,3
5
Hỗ trợ GD miền núi,
vùng dân tộc ít người và
vùng có nhiều khó khăn
32,0 32,4 25,5 30,0 37,5
157,4
6
Tăng cường CSVC các
trường học, các trung
tâm kỹ thuật tổng hợp-
HN, các trường ĐH,
THCN trọng điểm

- Dự án triển khai đảm bảo đúng tiến độ. Chất lượng phổ cập của các đơn vị
đã đạt chuẩn khá vững chắc. Hầu hết các đơn vị đạt chuẩn PCGD THCS đều đã đạt
chuẩn PCGD tiểu học đúng độ tuổi.
- Với chủ trương xã hội hóa giáo dục được triển khai sâu rộng tại các địa
phương, các Sở, Ban, Ngành, các tổ chức chính trị xã hội đã tích cực tham gia với
nhiều hình thức phong phú có hiệu quả, hỗ trợ cho sự nghiệp giáo dục
- Kinh phí NSTW phân bổ còn ít, nhiều tỉnh đã phải cắt giảm kinh phí chi
thường xuyên để bổ sung thực hiện dự án, điều này đã trở thành gánh nặng đối với
những tỉnh Miền núi, có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Dự án 2: “Dự án đổi mới chương trình nội dung sách giáo khoa”
Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 14/2001/CT-
TTg quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Quốc hội. Bộ GD&ĐT
đã xây dựng các kế hoạch và khẩn trương tổ chức thực hiện trong toàn ngành
Tại cấp Trung ương, Kết quả đạt được:
- Về chương trình: Đã xây dựng, hoàn thiện được các bộ chương trình mới
sau đây: Chương trình GD Mẫu giáo, Mầm non (2004); Chương trình GD Tiểu học
(2001); chương trình GD THCS (2002); Chương trình GD THPT (2002); Chương
trình GD THPT kỹ thuật (2004); Chương trình GD THCN; Chương trình GD không
chính quy (Bổ túc văn hóa- 2003);
- Về tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa: Đã biên soạn được các bộ tài liệu
và sách giáo khoa mới sau đây: Bộ tài liệu dùng cho nhà trẻ và mẫu giáo; Bộ sách
GD tiểu học (9 môn); Bộ sách giáo khoa THCS (13 môn học); Bộ sách giáo khoa
THPT (13 môn học); Bộ tài liệu kỹ thuật- nghề THPT kỹ thuật; Bộ giáo trình
THCN mới; Bộ sách giáo khoa bổ túc văn hóa (từ lớp 6 đến lớp 9); 05 bộ sách giáo
khoa dạy chữ dân tộc (H’mông, Khmer, Bana, Jrai, Chăm); Xây dựng chương trình
và sách giáo khoa, sách giáo viên tiếng Pali và ngữ văn Khmer cho trường bổ túc

Kinh
phí
CTMT
thực
cấp
Tỷ lệ
1
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 1, lớp
6
2002 711,5 227,7 32.0%
2
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 2, lớp
7
2003 725,6 360,0 49.6%
3
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 3, lớp
8, lớp 10 thí điểm
2004 1.029,0 470,0 45.7%
4
Thiết bị, đồ dùng dạy học; SGK,
SGV; Tập huấn GV dạy lớp 4, lớp
9, lớp 10 thí điểm vòng 2, lớp 11
thí điểm vòng 1
2005 1.500,0 745,0 49.7%

Tổng cộng 3.966,1 1.802,7 45.5%


đồng đạt tỷ lệ thấp (25%) so với dự toán, trong đó:
- Chi cho các trường ĐH, CĐ trực thuộc Bộ GD&ĐT: 52 tỷ đồng
- Cấp cho các địa phương: 148 tỷ đồng
Kết quả đạt được :
- Dự án triển khai đúng mục đích, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất
định.
- Theo báo cáo của các địa phương, tính đến hết năm học 2003-2004, hầu hết
các trường THPT (gần 2.140 trường) đã có ít nhất 01 máy vi tính được kết nối
Internet. Đến hết năm 2005 đã có 50% số trường THCS có ít nhất 01 máy vi tính
được nối mạng.
- Các Trung tâm GDTX, các Phòng Giáo dục đều đã có ít nhất 01 máy được
nối mạng Internet. Một số tỉnh có điều kiện đã kết nối mạng giữa Sở GD&ĐT với
các trường và các đơn vị trực thuộc.
- Kinh phí ngân sách Trung ương cấp hàng năm còn thấp, chưa đáp ứng được
mục tiêu thực hiện dự án, theo yêu cầu của Quyết định số 331/QĐ-TTg ngày
06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển nguồn nhân lực
CNTT đến năm 2010.
- Nhiều trường THPT ở một số tỉnh Miền núi chưa từng được trang bị máy vi
tính, do đó thiếu phương tiện thực hành nên chất lượng giảng dạy tin học không
cao, thậm chí nhiều trường THCS còn chưa được học môn tin học và ngoại ngữ.
Để thực hiện được đầy đủ mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực CNTT, đẩy mạnh
giảng dạy, ứng dụng CNTT ở tất cả các ngành học, bậc học… thì đòi hỏi phải tiếp
tục tăng nguồn kinh phí, tập trung đầu tư thực hiện dự án này trong giai đoạn tới.
Dự án 4: “Dự án đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, tăng cường CSVC các
trường sư phạm”
Từ năm 2001 đến năm 2005, kinh phí CTMT cấp cho dự án này là 580 tỷ
đồng, đạt 64,4% nhu cầu kinh phí, trong đó:

giáo viên trường sư phạm.
- Trong những năm qua, kinh phí CTMT đã ưu tiên cho các trường sư phạm
mới thành lập mỗi năm bình quân cấp 2.500 triệu đồng đến 3.000 triệu đồng/trường.
Kinh phí CTMT được đầu tư chủ yếu cho xây dựng nhà học, các công trình phụ trợ
như nhà thí nghiệm, các nhà học đa chức năng và cải tạo các ký túc xá, giúp các
trường cải thiện nơi ở của sinh viên sư phạm.
- Các trường sư phạm trực thuộc khác được cấp bình quân 500 triệu đến
1.000 triệu đồng/năm, chủ yếu chi chống xuống cấp CSVC, mua sắm bổ sung trang
thiết bị, bồi dưỡng giáo viên…
- Kinh phí mua sắm máy móc thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, đồ dùng dạy học
phục vụ giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học của học sinh và giáo viên trường
sư phạm còn nhiều hạn chế, trong khi các trường sư phạm không có nguồn thu học
phí và luôn chịu áp lực về tăng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo.
Dự án 5: “Dự án hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có
nhiều khó khăn”
Từ năm 2001 đến hết năm 2005, kinh phí của Dự án được cấp là 641 tỷ
đồng, đạt 80,1% tổng nhu cầu kinh phí.
Năm năm qua (2001-2005) cùng với các nguồn vốn huy động khác của địa
phương, Dự án đã đạt được kết quả như sau:
- Xây dựng mới các trường PTDTNT. Số trường được xây dựng mới tăng lên
rõ rệt (từ 2001 đến nay tăng 1 trường PTDTNT TW, 5 trường PTDTNT tỉnh, 76
trường PTDTNT huyện). Đặc biệt các trường nội trú dân nuôi phát triển mạnh: Bậc
THCS có 296 trường với trên 20.000 học sinh nội trú; Bậc học Tiểu học có 639
trường với gần 40.000 học sinh nội trú; Số lớp ghép: 7.900 lớp với gần 16.200 học
sinh. Số lượng các loại hình trường và học sinh được thống kê chi tiết theo bảng
dưới đây:
Bảng số 05: Số lượng các loại hình trường và học sinh

10/3500 10/3700 11/4200 11/4400 11/5000
Nguồn: Phòng SNVX- Vụ Tài chính HCSN- Bộ Tài
chính
- Các trường PTDTNT tỉnh cơ bản đã có đủ phòng học, nhà ở, nhà ăn… với
những quy mô khác nhau.

Trích đoạn Quản lý công tác lập kế hoạch chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT Quản lý công tác chấp hành dự toán chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT Quản lý Công tác quyết toán chi NSNN cho CTMTQG GD&ĐT Kiểm tra, giám sát và chế độ báo cáo 1 Kiểm tra, giám sát và kiểm toán: Chế độ báo cáo định kỳ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status