Mục Lục
Tài liệu tham khảo Error: Reference source not found
Tài liệu tham khảo 2
Lời mở đầu 3
Nội dung 4
1: Phủ định biện chứng và tính kế thừa của phủ định biện chứng 4
1.1: Phủ định biện chứng 4
1.2: Tính kế thừa của phủ định biện chứng 4
2: Vận dụng, phát huy tính kế thừa của phủ định biện chứng trong công cuộc đổi
mới kinh tế ở Việt Nam 4
2.1: Công cuộc đổi mới kinh tế ở Viêt Nam 4
2.1.1: Bối cảnh lịch sử 4
2.1.2 Yêu cầu của đổi mới kinh tế ở Việt Nam 5
2.2: Tính kế thừa của phủ định biện chứng với công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt
Nam 6
2.2.1: Kế thừa những yếu tố tích cực, hợp lý của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập
trung 6
2.2.2: Kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức,văn hoá truyền thống trong phát triển
kinh tế mới 7
2.2.3. Kế thừa những yếu tố tiến bộ của nền kinh tế TBCN 9
Kết luậN 13
1
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình: Lịch sử kinh tế, NXB Thống kê, Hà Nội 2004.
2. Giáo trình: Triết học Mac Lênin, NXB Chính trị quốc gia,Hà Nội
- 2003.
3. Trần Văn Giàu, giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
NXB Tp. Hồ Chí Minh,1993.
4. Tạp chí cộng sản, số 16, năm 2004.
5. Tạp chí cộng sản, số21, năm 2004.
6. Tạp chí cộng sản, số24, năm 2004.
Trớc tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nớc ta cần
liên tục tiến hành và đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc, trong đó đổi mới
kinh tế đóng vai trò then chốt và chủ đạo. Đồng thời đổi mới về chính trị cũng mang tính
cấp bách bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
không thể tách rời. Chính vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ giữ vật chất và ý thức sẽ cho phép
ta vận dụng nó vào mối quan hệ giữ kinh tế và chính trị của đất nớc, giúp cho công cuộc
xây dựng nền kinh tế nớc ta ngày càng giàu mạnh.
Chính từ những lý luận trên đã thúc đẩy em tìm hiểu vấn đề :Quan điểm toàn
diện với cuộc đổi mới ở nớc ta hiện nay.
3
Nội dung
1: Phủ định biện chứng và tính kế thừa của phủ định biện chứng.
1.1: Phủ định biện chứng.
Phủ định biện chứng là gì? Bất cứ sự vật, hiện tợng nào trong thế giới cũng đều
trải qua quá trình sinh, trụ,dị, diệt với thời gian dài ngắn khác nhau .Sự vật cũ mất đi đợc
thay thế bằng sự vật mới. Sự thay thế đó là tất yếu trong quá trình vận động và phat triển
của sự vật. Không nh vậy, sự vật không phát triển đợc.Sự thay thế đó đợc triết học gọi là
sự phủ định.Sự phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận
động và phát triển.
Phủ định biện chứng là gì? Trong lịch sử triết học,tuỳ theo thế giới quan và phơng
pháp luận, các nhà triết học và các trờng phái triết học co s quan niệm khác nhau về sự
phủ định.Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hoá từ những sự thay đổi về lợng
dẫn đến những thay đổi về chất, sự đấu tranh thờng xuyên giữa các mặt đối lập làm cho
mâu thuẫn đợc giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế. Sự
thay thế liên tục tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của sự vật. Sự vật mới ra
đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ. Điều đó cũng có nghĩa là sự phủ định là tiền đề
cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.Đó là phủ định biện chứng.
Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát
triển tự thân,là mắt khâu quan trọng trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ
hơn sự vật cũ.
nhiều doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc, tăng cờng vai trò kinh tế t nhân.
Còn ở một số nớc đang phát triển, quá trình điều chỉnh kinh tế cũng diễn ra nhất là ở một
số nớc Đông Nam á và Đông á. Từ đầu những năm 70 của thế kỉ 20 các nớc này đã thực
hiện cải cách kinh tế và trở thành khu vực phát triến năng động của thế giới.
ở các nớc xã hội chủ nghĩa, trớc những khó khăn của nền kinh tế các nớc xã hội chủ nghĩa
nh Liên Xô, Đông Âu , Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế. Cải cách ở các nớc này
đã diễn ra ở các thời điểm khác nhau song đều có nét chung là nhằm khắc phục sự trì trệ
của nền kinh tế do hậu quả của cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong khi đó, cải cách và
mở cửa kinh tế ở Trung Quốc từ những năm 1978 đã đạt đợc những thành tựu to lớn: nền
kinh tế tăng trởng nhanh, mức sống của nhân dân đợc nâng lên đáng kể Nh vậy, làn sóng
cải cách kinh tế rộng khắp ở các nớc trên thế giới từ cuối thập kỷ 70 đã tạo nên áp lực
mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Trong bối cảnh phát triển sôi động của kinh
tế thế giới, đặc biệt là các nớc trong khu vực, Việt Nam không thể đứng yên.
2.1.2 Yêu cầu của đổi mới kinh tế ở Việt Nam.
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm
1976-1980 quá cao và phát triển sản xuất vợt quá khả năng của nền kinh tế. Đặc biệt là đã
đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt
nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ trơng
sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập chung quan liêu bao cấp đã tác động xấu đến nền
kinh tế, ảnh hởng không tốt tới đời sống của nhân dân Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu
kinh tế chỉ đạt khoảng 50-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trởng rất chậm chạp: tổng sản
phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%.
Đại hội Đảng lần thứ V cũng cha tìm ra đợc đầy đủ những nguyên nhân đích thực
củ sự trì trệ trong nền kinh tế của nớc ta và cũng cha đề ra các chủ trơng chính sách và
toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế. Trong 5 năm 1981-1985 chúng ta cha kiên quyết
khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý
kinh tế, lại phạm những sai lầm mới nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối lu thông.
Trong cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội đã nhận
định: Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm
tòi, xây dựng đờng lối, xác định đúng mục tiêu và phơng hớng xã hội chủ nghĩa. Nhng
ớc có chiến tranh, viẹc áp dụng mô hình này đã thực sự mang lại những kết quả to lớn
không thể phủ nhận. Chúng ta đã huy động mọi lực lợng, tập trung vừa đánh bại cuộc
chiến tranh rất ác liệt do đế quốc Mỹ gây ra, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc,
vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,tạo cơ sở vật chất-kỹ thuật quan trọng cho chủ
nghĩa xã hội.
Thực tế mô hình chủ nghĩa xã hội này,nhất là thời kỳ 10 năm sau ngày giải phóng miền
Nam (1976 1986) đã chứng tỏ những điều không phù hợp với quy luật đi lên chủ nghĩa
xã hội. Cơ chế kế hoạch hoá tập trung và sự thừa nhận chỉ có hai thành phần kinh tế
( quốc doanh, tập thể ) đã kìm hãm sức sản xuất, làm cho nhiều năng lực của xã hội
không đợc phát huy,các vấn đề mấu chốt của đời sông nhân dân không đợc giải quyết.Vì
thế chúng ta không tạo ra những thay đổi ;không tạo ra đợc sự bứt phá trong phơng hớng
phát triển bền vững; không tạo ra nguồn sinh lực mới cho xã hội. Tình trạng mất cân đối
trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng,nhân dân kém nhiệt tình lao động và mất đi những
động lực sáng tạo. Tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực quý giá khác chậm đợc khai
thác, sản xuất và đời sống ngày càng suy giảm dẫn đến tình trạng trì trệ trong xã hội.
Thực tế cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nớc đã lâm vào tình
trạng khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêm trọng. Tuy vậy, xét cho cùng, khi nớc ta bắt
đầu bắt tay vào đổi mới, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần gắn với thị trờng, dới sự quản lý của nhà
nớc, theo đinh hớng xã hội chủ nghĩa thì việc kế thừa và phát huy những yếu tố tích cực
hợp lý của cơ chế cũ là rất cần thiết và không thể phủ nhận.Chúng ta đổi mới nhng không
phủ định sạch trơn.
Trong sản xuất nông nghiệp, Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và
ngời lao động. Đây là một hình thức quản lý tiến bộ, thích hợp với điều kiện lao động của
ta chủ yếu cồn là thủ công và là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Chỉ thị 100 có tác dụng gắn chặt
trách nhiệm và lợi ích của ngời lao động với sản phẩm cuối cùng. Các hợp tác xã và tập
đoàn sản xuất đã phát huy tốt hơn khả năng lao động, tạo ra đợc khí thế lao động sôi nổi,
tận dụng đợc điều kiện về vốn, vật t, chú trọngcác biện pháp thâm canh,tăng năng
suất,tăng thu nhập, giải quyết tốt việc kết hợp 3 lợi ích ( lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể, lợi
đề ra các định hớng lớn và xác định chủ trơng đổi mới, đặc biệt là đổi mới về kinh tế. Và
đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, ta đã đánh giá tình hình chính trị xã hội Việt
nam sau hơn bốn năm thực hiện đờng lối đổi mới: công cuộc đổi mới bớc đầu đã đạt đợc
những thành tựu bớc đầu rất quan trọng. Tình hình chính trị của đất nớc ổn định, nền kinh
tế có những chuyển biến tích cực, bớc đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, nguồn lực sản xuất của xã
hội đợc huy động tốt hơn, tốc độ lạm phát đợc hạn chế bớt: đời sống vật chất tinh thần của
một bộ phận nhân dân có phần đợc cải thiện
Thật vậy, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc ở một nớc mà cho đến nay,
có thể nói, vẫn đang là một nớc nghèo lạc hậu thì trớc tiên chúng ta phải chú trọng phát
triển kinh tế, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu. Song sẽ là sai lầm nghiêm trọng với những hậu
quả khó lờng một khi tăng trởng kinh tế lại không gắn liền với phát triển văn hoá, xây
dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Để có một nền kinh tế phát triển
nhanh, lành mạnh và vững chắc, chung ta không thể chỉ trông chờ vào các động lực kinh
tế thuần tuý, chỉ dựa vào các động lực kinh tế thuần tuý ấy. Bởi lẽ, thực tiễn cho thấy, môi
trờng văn hoá và cùng với nó, môi trờng xã hội,chính trị và cả bối cảnh kinh tế cũng đã
trở thành những tác nhân hết sức quan trọng đối với sự tăng trởng kinh tế nhanh, bền
vững.
Với t cách là cái phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của đời sống con
ngời, của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng dân tộc, là thớc đo: trình độ ngời trong các mối
quan hệ xã hội. Văn hoá thể hiện vai trò động lực của nó qua việc làm cho con ngời phát
triển toàn diện, trở nên phong phú về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, lối sống, mang lại cho con
ngời nhân cách cao đẹp, giúp con ngời thực hiện khát vọng vơn tới hệ giá trị chân thiện
- mỹ. Văn hoá làm cho chất lợng con ngời ngày một hoàn thiện, khả năng hoạt động sáng
tạo của con ngời ngày một nâng cao, phơng thức ứng xử của con ngời ngày một cao đẹp.
Cùng với đó, bằng việc tham gia có hiệu quả vào quá trình nâng cao cả mặt bằng dân
trí và đỉnh cao dân trí, bồi dỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con ngời,mang lại cho
con ngời năng lực t duy, khả năng tiếp thu cái mới, hiểu biết thực tiễn, văn hoá trở thành
động lực không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Phát triển kinh tế thị trờng, văn hoá kinh tế là cái không thể. Nó mang lại cho chúng ta
mỗi dân tộc đêù có đặc điêm tâm lý, điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau nên thái độ cần
cù cũng khác nhau. Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, con ngời Việt Nam đã vừa
phải chống chọi với thiên tai, lũ lụt, hạn hán vừa phải chống giặc ngoại xâm. Chính hoàn
cảnh này đã góp phần hình thành nên những nét độc đáo riêng cho đức tính cần cù của
dân tộc , nó không giống với bất kỳ dân tộc nào khác.
Đất nớc bình yên, cả nớc đi vào công cuộc xây dựng đất nớc. Nhiệm vụ cách mạng
trong xây dựng con ngời Việt Nam giai đoạn mới phải có 5 đức tính cơ bản mà hội nghị
lần thứ 5 ban chấp hành trung ơng đảng khoá 8 đã đề ra, trong đó cần cù lao động và học
tập là những đức tính lớn: lao động chăm chỉ với lơng tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật ,
sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hộiThờng xuyên
học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lc.
Trong điều kiện của một xã hội thông tin nh hiện nay cần cù trong lao động đòi hỏi phải
đi đôi với cần cù trong học tập. Bởi lẽ con ngời không có tri thức đặc biệt là tri thức khoa
học thì khó có thể lao động đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cuả thời đại, của sự phát triển
xã hội. Có lẽ câu nói của ông cha ta: học ăn, học nói, học gói, học mở đủ cho thấy rằng
nhân dân ta có nhân sinh quan và thái độ đúng đắn, toàn diện trong cuộc sống. Nếu nh,
V.I. Lê Nin có quan niệm rất hay là: học, học nữa, học mãi thì ông cha ta từ lâu đã có
một quan niệm để đời, thấm sâu vào tâm trí của ngời Việt là: học đến già. Rõ ràng đức
tính cần cù là một đức tính lớn của dân tộc Việt Nam góp phần làm nên bản sắc của nền
văn hoá.
Trong những năm qua, có thể nói đức tính cần cù đợc nhân dân ta kế thừa và phát huy
một cách tích cực. Điều này đợc thể hiện rõ nét trong lối sống của những cá nhân trong
cộng đồng xã hội. Khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng, nhà nớc cho phép nhiều
thành phần kinh tế cùng tồn tại, đặc biệt là kinh tế t nhân thì đức tính cần cù, đặc biệt là
8
lao động cần cù đợc nhân dân ta xem là một phẩm chất quý nhất và đợc kế thừa phát huy
cao độ.
Đất nớc ta bớc vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá bên cạnh những mặt tích cực của
bộ .Tuy nhiên, hai nhiệm vụ đó không ngang nhau. Cốt yếu cơ bản của quá trình đó chính
là sự kế thừa, phát huy những thành tựu mà loài ngời đạt đợc trong chủ nghĩa t bản để tạo
dựng xã hội mới.Điều đó phù hợp với những t tởng của V.I.LêNin,cho rằng: phủ định biện
chứng không phải là phủ định sạch trơn, không phải là sự phủ định không suy nghĩ,
không phải là sự do dự, hay nghi ngờ.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chế đôax hội chủ nghĩa,khoa học công nghệ là tài
sản của toàn nhân chỉ không phải của riêng một nhóm ngời nào. Dới chủ nghĩa t bản,
khoa học chịu sự chi phối, thao túng của các nhà t sản, tài phiệt.Vì thế, nó trở thành
những công cụ làm giàu cho thiểu số ngời giàu,co quyền lửctong xã hội, đồng thời, trở
thành phơng tiện áp bức, bóc lột nhân dân lao động một cách ngày càng tinh vi,xảo quyệt
hơn. Ngợc laị, trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, tiến bộ của khoa học công nghệ hớng
về con ngòi bởi vì mục đích cao cả và đầy tính nhân văn của chủ nghĩa xã hội là giải
phóng con ngời, phát triển con ngời toàn diện. Hơn nữa, xu thế toàn cầu hoá cùng với sức
mạnh nh vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật có tác dụng rút ngắn khoảng
cách ngoại giao.
Mặt khác, chúng ta cũng không hề phủ nhận những thành công trong quản lý của chủ
nghĩa t bản, kể từ hoạt động quản lý vĩ mô của nhà nớc đến hoạt động quản trị doanh
nghiệp. Tôi chỉ xin đa ra một số vận dụng điển hình trong hoạt động quản lý kinh doanh
có hiệu quả cao:
9
Trong điều kiện hiện nay, để tồn tại và cạnh tranh có hiệu quả trên thị trờng Việt Nam
cũng nh trên thị trờng quốc tế, tất cả các doanh nghiệp nói chung và các doanh ghiệp Việt
Nam noi riêng đêu cần coi trọng hoạt động quản trị nhân lực,hoạt động nay có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Quản trị kinh
doanh,xét cho cùng, cũng là quản trj con ngời. Con ngời chính là yếu tố quan trọng nhất,
quyết định sự thành bại của mỗi doanh nghiệp và là nguồn lực quý giá nhất của doanh
nghệp đó. Phát huy có hiệu quả nguồn lực này là yếu tố dẫn đến thành công của mọi
doanh nghiệp.
Thật vậy,yếu tố giúp ta nhận biết đợc một doanh nghiệp có hoạt động tốt hay không
tốt, thành công hay không thành công chính là nguồn nhân lực của doanh nghiệp
các nhân viên . Theo ông, đây là điểm cơ bản trong nghệ thuật quản trị nhân sự. Với việc
nhận biết điểm khác biệt trong hoạt độngu của các thành viên, công ty có thể khen
thuêỏng nhnngx ngời giỏi, sa thải những ngời làm việc không có hiệu quả. chính điều này
đã giúp GE phát hiện những tài năngvà những tài năng này đã góp phần xây dụng nênmột
GE vĩ đại.
Welch đã dần biến GE thành một công ty của con ngời theo cách gọi của ông.Welch
luôn mong muốn đa con ngời trở thành trung tâm của GE,ông coi đay là nguồn lực quý
giá cua công ty. Việc đanh giá các nhân viên của GE dợc tiến hành hết sức nghiêm túc.
Ngoài ra, GE cũng là một công ty không ngừng khuyến khích các ý tởng mới từ phía
nhân viên. Đối với một tập đoàn lớn, đa dạng nh GE ,ý tởng mới là yếu tố đảm bảo sự
thành công.Một châm ngôn của GE là: mỗi ngời một ý kiến .GE luôn tạo cơ hội cho
10
nhân viên đợc nói lên tiếng nói của mình, lắng nghe,tôn trọng những ý kiến đó và sẵn
sàng biến bất kì những ý tởng, giấc mơ nào có tính khả thi thành hiện thực.
GE cũng xây dựng trong tập đoàn mình một môi trờng học tập không biên giới. GGE
tận dụng lợi thế về quy mô và sự phân tán trong các ngành kinh doanh khác nhau nh một
nguồn không giới hạn cơ hội học tập, một kho kiến thức ý tởng cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu mà khó một công ty nào khác có thể có đợc.Trung tâm của môi trờng này là sự nhận
thức rõ ràng rằng, công ty luôn mong muốn học hỏi không ngừng và sẵn sàng đa ra các ý
tởng đó vào thực tiễn một cách mau chóng. Đây chính là lợi thế cạnh tranh rất lớn của
GE.GE luôn khuyến khích mọi nguời nghĩ rằng, ở đâu đó đang có một ngời có những ý t-
ởng hay hơn và họ phải tìm cho ra ngời đó và đa chúngvào thực hiện. Một công ty toàn
cầu, kinh doanh đa dạng tất nhiên có thể có nhiều kinh nghiệm cũng nh ý tởng; nhng
những kinh nghiệm ,ý tởng này chỉ có thể chuyển thành lợi thế cạnh tranh quan trọng của
công ty đó luôn khao khát có đợc ý tởng ,có trách nhiệm chia sẻ chúng và nhanh chóng
đua chúng vào thực hiện.
Có thể nói, quản trị nhân lực luôn là một công việc hết scs khó khăn và phức tạp của mọi
nhà quản trị, bởi lẽ nó gắn vơi những con ngời cụ thể ,với những hoành cảnh cụ thể,
nguyện vọng,sở thích,năng lực và cảm xúc riêng biệt. Muốn lôi cuốn, đọng viên và khai
thác khả năng của những con ngời nay,nhà quản lý phải tìm hiểu thế giới nội tâm của họ,
cách có hiệu quả trên thị trờng.
Thứ ba là, các doanh nghiệp cần chú ý đến công tác đào tạo cán bộ quản trị. Có một
thực tế ở các doanh nghiệp Việt Nam là, một số nhân viên trong các bộ phận, đặc biệt là
bộ phận sản xuất, sau một thời gian công tác tốt đợc đề bạt làm quản lý, nhân viên này th-
ờng không có những kiến thức về quản trị, nhng lại không đợc qua một lớp bồi dỡng cán
bộ quản lý nào. Và đơng nhiên, sau một thời gian công tác, họ có thể tự bổ túc kiến thức,
11
tích luỹ thêm kinh nghiệm cho mình, nhng điều này cần nhiều thời gian và nhiêu khi
không hiệu quả. Sẽ là tốt hơn, nếu các doanh ngiệp quan tâm đào tạo những nhân viên
này về mặt quản lý, điều nay sẽ giúp họ nhanh chóng làm quen với các công việc mới
cũng nh nhanh chóng xây dựng đợc nhng phơng pháp quản trị phù hợp với bộ phận của
mình.
Thứ t là, các nhà quản trị cũng phải lu ý rằng, mỗi con ngời là một sự khác biệt. Nhận
biết sự khác biệt đó để khai thác và phát triển có hiệu quả là nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng của nhà quản trị. Tuy nhiên, làm thế nào để nhận biêts đợc sự khác biệt ấy lại phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố, nh môi trờng kinh doanh, đặc điểm doanh nghiệp, đặc điẻm
và mối quan hệ của nhân viên và đặc biệt là tài năng của nhà quản trị. Nhà quản trị phải
nh một nhạc rởng biết phối hợp hoạt động của đội ngũ nhân viên một cách hài hoà nhằm
đem lại hiệu quả tối u.
Không chỉ trong hoạt động của các doanh nghiệp, biết cách quản trị nhân lực, biết phát
huy nguồn lực con ngời sẽ giúp chúng ta vững vàng tiến lên trong công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và thành công trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay.
12
Kết luậN
Thành tựu lý luận về nền kinh tế thị trờng ở nớc ta đợc kết tinh trong văn kiện các Đại hội
Đảng. Đó cũng là sự phản ánh thành tựu chung của giới lý luận nớc ta trong đổi mới kinh
tế vận dụng sáng tạo tính kế thừa của phủ định biện chứng trong xây dựng các đờng
lối, chính sách kinh tế xã hội.