TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu
nhằm lựa chọn công nghệ phù hợp
khi chuyển giao công nghệ ở nước ta Phần mở đầu
Công nghệ là sản phẩm của lao động, của tinh hoa trí tuệ con người tạo ra
cho xã hội, nó là công cụ, là phương tiện chủ yếu cho con người đạt được những
lơị ít cần thiết.
Sự phát triển của nhiều nước cho thấy công nghệ là nhân tố quyết định khả
năng của một nước đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ
cao và ổn định. Công nghệ là phương tiện, là động lực có hiệu lực nhất để mỗi
được lựa chọn hay thiết kế để đáp ứng chức năng, mục tiêu và nó cần được quản
lý một cách đúng đắn.
* Những tổ chức quốc tế về công nghệ đã bỏ nhiều công sức để đưa ra được
định nghĩa về công nghệ thể hiện được các khía cạnh cơ bản của công nghệ.
- Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) thì:
Công nghệ là việc áp dụng khoa học và công nghiệp, bằng cách sử dụng các
nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.
- Tổ chức ESCAP - uỷ ban KTvà XH Châu á và Thái Bình Dương - đưa ra
định nghĩa” Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để
chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm tất cả các kỹ năng kiến thức, thiết bị
và phương pháp sử dụng trong sản xuất , thông tin, dịch vụ công nghiệp và dịch
vụ quản lý”.
ở Việt Nam “Công nghệ là kiến thức, kết quả của khoa học ứng dụng nhằm
biến đổi các nguồn lực thành các mục tiêu sinh lợi”.
* Có rất nhiều định nghĩa về công nghệ nhưng cuối cùng cúng có một định
nghĩa được coi là khai quát nhất về công nghệ:
“Công nghệ” là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra.
b. Chuyển giao công nghệ:
Theo quy ước của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế thì “Chuyển giao
công nghệ là nhận và chuyển công nghệ qua biên giới”.
2. Sự cung cầu thiết khách quan của việc lựa chọn công nghệ trong
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
- Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ của KHKT, quan hệ giữa các nước
ngày càng mở rộng, đặt biệt trong lĩnh vực kinh tế. Quan hệ kinh tế giữa các
nước là cần thiết khách quan trên cơ sở tận dụng lợi thế so sánh của mỗi nước để
thúc đẩy sự phát triển kinh tế nói chung và của từng nước nói riêng. Một trong
nghĩa là chúng ta mua công nghệ nhằm phát triển kinh tế đất nước với những
ràng buộc về tài chính, trình độ kỹ thuật và quản lý hiện thời của mình. Do vậy,
để phát triển kinh tế đất nước, chúng ta cần phải lựa chọn nhưng công nghệ tốt
nhất nhưng phải phù hợp với điều kiện của ta. Vậy công nghệ nào là công nghệ
thoả mãn những tiêu chuẩn vừa nêu trên - Có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau
được đưa ra. Chính vì điều đó, chúng ta cần phải có các tiêu thức lựa chọn công
nghệ thích hợp.
3. Các tiêu thức lựa chọn công nghệ thích hợp.
Công nghệ thích hợp có mục tiêu cơ bản là đáp ứng nhu cầu cos bản của
nhân dân, đặc biệt dân nông thôn.
Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút số lượng lớn lao động, trong đó
có lao động nữ.
- Công nghệ thích hợp bảo tồn và phát triển công nghệ truyền thống và tạo
ra các ngành nghề mới.
- Công nghệ thích hợp đảm bảo chi phí thấp, kỹ năng thấp.
- Công nghệ thích hợp tạo ra khả năng hoạt động cho các cơ sở sản xuất
nhỏ vừa lớn kết hợp.
- Công nghệ thích hợp tiết kiệm tài nguyên.
- Công nghệ thích hợp có khả năng thu hút sử dụng dịch dụ và nguyên vật
liệu trong nước.
- Công nghệ thích hợp phải sử dụng được phế liệu và không gây ô nhiễm
môi trường
- Công nghệ thích hợp tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế xã hội và đông đảo
quần chúng nhân dân.
- Công nghệ thích hợp tạo ra sự phân phối rộng rãi và giảm sự không bình
đẳng trong thu nhập.
- Công nghệ thích hợp không gây xáo trộn đối với VHXH.
- Cơ cấu nhân lực còn bất hợp lý và mất cân đối nghiêm trọng, không đáp
ứng được yêu cầu của CNH - HĐH.
- Kỷ luật và tác phong lao động còn lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc đối với công
việc, thiếu động lực để sáng tạo và lao động.
- Mức độ và trình độ tin học hoá và xử lý thông tin còn thấp và chậm làm
cho các quyết định về quản lý sản xuất, kinh doanh còn kém chính xác, chậm trễ,
chắp vá dẫn đến ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh thị trường.
- Điều kiện lao động nhìn chung còn chưa đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh, an
toàn lao động, cũng như về môi trường lao động.
Ngoài ra thì còn có một số vấn đề vướng mắc:
- Tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, năng lượng. Giá thành sản phẩm cao, các
chỉ tiêu này so với mức trung bình của thế giới và khu vực thì thua kém từ vài lần
cho đến vài chục lần tuỳ theo loại sản phẩm.
- Chất lượng sản phẩm sản xuất ra còn thấp, khó cạnh tranh với các sản
phẩm cùng loại của nước ngoài.
- Mẫu mã đơn điệu, kém hấp dẫn và chắp vá.
- Chi phí quản lý trong các ngành sản xuất cao: lắp ráp điện tử: 21 - 37%;
thi công bê tông: 14,5%; thủy tinh 11%.
- Năng lực và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Việt Nam yếu.
- Thị trường cho sản phẩm và dịch vụ Việt Nam còn hạn hẹp.
- Sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ Việt Nam còn chậm, hàng hoá ứ đọng
nhiều.
Qua số liệu trên đây đã phần nào khẳng định bức tranh công nghệ khong
mấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam.
Sau đây là kết quả nghiên cứu, một vài nhận xét có liên quan đến công nghệ
ở các doanh nghiệp chọn lựa ở Việt Nam rút ra từ một dự án do Tổ chức phát
triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tài trựo và Viện chiến lược phát
triển thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư thực hiện 1998 như sau:
được lắp ráp dưới dạng CKD). Chi phí lắp ráp cao (gấp 5 lần so với chính quốc).
Tỷ lệ khai thác năng lực máy móc thiết bị thấp.
* Các doanh nghiệp cơ khí: Máy móc cũ kỹ và hỗn tạp, hệ thống sản xuất
lỗi thời. Trình độ công nghệ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất cơ khí
không phù hợp để sản xuất các sản pamr có chất lượng và hiệu quả cao
Từ những số liệu trên cho ta thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do:
- Công nghệ không đồng bộ, mất cân đối làm cho nhiều loại máy móc thiết
bị ít hoặc không được sử dụng.
- Máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hay hư hỏng, thời gian ngừng việc để sửa
chữa lớn.
- Sức ép của đối thủ cạnh tranh nước ngoài, làm doanh nghiệp phải giảm
hoặc ngừng sản xuất dẫn đến tình trạng không dùng hết công suất của máy móc
thiết bị. Đánh giá một cách khách quan tình hình lạc hậu, yếu kém của công nghệ
và thiết bị, sự cạnh tranh gay gắt đã tạo ra sức ép.
2. Thực trạng về chuyển giao công nghệ ở nước ta:
a. Công nghệ được chuyển giao chưa phải thuộc loại tiên tiến, hiện đại như
đã nên ở trên theo đánh giá chung, số máy móc, thiết bị trong các doanh nghiệp
Nhà nước đạt trình độ hiện đại trung bình của TG nhìn chung còn ít. Số công
nghệ nhập đạt trình độ hiện đại, tiến tiến lại càng hiếm. Nguyên nhân của thực
trạng này có nhiều, cos trừ giá chuyển giao, cả từ giá nhận chuyển giao công
nghệ.
- Về giá chuyển giao công nghệ, các đối tác nước ngoài vì mục tiêu tìm
kiếm lợi nhuận cao và nhanh nên ít chịu đầu tư chuyển giao loại công nghệ hiện
đại tiên tiến thường là đắt tiền, thời gian hoàn vốn dài hơn,. Thậm chí có nhiều
trường hợp lợi dụng sự kém hiểu biết của bên nhận chuyển giao để trục lợi. Theo
ý kiến đánh giá của chuyên gia, có tới 25% trong số hàng vạn thiết bị đã nhập về
là đã qua sử dụng, được tân trang lại và nâng cấp bằng các cơ cấu điều khiển bán
- Thiếu thông tin về công nghệ
- Nhiều vướng mắc và cản trở trong môi trường sản xuất, kinh doanh còn
chưa được tháo gỡ.
- Thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết (tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị
trường )
- Thiếu phối hợp giữa các nguồn lực cũng như các tổ chức quản lý và sản
xuất kinh doanh.
b. Chưa có thiết kế tổng thể về vấn đề lựa chọn công nghệ.
+ Sự thiếu hụt này bao gồm từ định hướng chiến lược với những ưu tiên
công nghệ cho tới việc xây dựng khung chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho
các doanh nghiệp.
+ Về phía nhà nước, còn thiếu một chiến lược phát triển khoa học công
nghệ dài hạn ở tầm quốc gia những quan điểm, định hướng, phối hợp hành động
ở cấp bộ, ngành và các doanh nghiệp. Do vậy mà sự trùng lắp, thừa thiếu đồng
bộ, sự thiệt hại lớn về kinh tế trong các hợp đồng mua bán công nghệ, là hệ quả
tất yếu của sự thiếu hụt này.
+ Chưa có sự hỗ trợ cần thiết về chính sách, cơ chế cũng như các hỗ trợ
khác (những ưu đãi hoặc bảo hộ, hệ thống thông tin về công nghệ) sự lúng túng
trong quản lý công nghệ ở các bộ, ngành có nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ
thiếu hụt này.
+ Tình trạng thiếu đồng bộ, chắp vá, chồng chéo thậm chí còn mâu thuẫn
nhau là những biểu hiện của thiếu hụt này.
- Còn chưa xây dựng được một năng lực nội sinh của quốc gia về khoa học
công nghệ, trước hết là về nghiên cứu, triển khai, đủ sức hỗ trợ cho việc tiếp thu
công nghệ trong nền kinh tế nói chung và trong doanh nghiệp nói riêng.
- Về phía các doanh nghiệp nhà nước:
+ Còn thiếu một chiến lược sản phẩm làm cơ sở định hướng. Nhìn chung,
- Năng lực lựa chọn và quyết định về công nghệ còn rất hạn chế. Sự thiếu
hụt này một phần bắt nguồn từ những thiếu hụt về thông tin, về đội ngũ cán bộ
một phần khác cũng rất quan trọng, đó là ý thức, phẩm chất những cán bộ có
trách nhiệm và liên quan tới việc lựa chọn và quyết định công nghệ.
- Năng lực đàm phán trong hoạt động công nghệ còn yếu, điều này thể hiện
ở sự bị động, thụ động trong đàm phán ký kết các hợp đồng về chuyển giao công
nghệ.
Một báo cáo gần đân của Bộ khoa học công nghệ và môi trường cho thấy:
Trong số hơn 2000 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép mới chỉ có 94 hợp
đồng chuyển giao công nghệ (chiếm 0,047%) được trình lên Bộ khoa học công
nghệ và môi trường.
e. Sự thiếu đồng bộ, thiếu hoàn chỉnh của cơ sở hạ tầng kinh tế cho hoạt
động chuyển giao công nghệ thể hiện:
- Hệ thống giao thông vận tải yếu kém không chỉ làm nản lòng các nhà đầu
tư chuyển giao công nghệ mà làm cho hoạt động đổi mới công nghệ bị hạn chế
phát huy tác dụng vừa được phân bổ không đều giưã các vùng, khu vực và lãnh
thổ của đất nước,.
- Hệ thống dịch vụ hỗ trợ (tài chính ngân hàng, xúc tiến đầu tư) còn yếu
kém.
3. Những tồn tại và mâu thuẫn chủ yếu trong chuyển giao công nghệ ở
nước ta trong thời gian qua.
a. Chuyển giao công nghệ trong điều kiện đổi mới công nghệ lẻ tẻ.
Thiếu quy hoạch và chiến lược, thiếu sự gắn bó giữa phương hướng đổi
mới, chuyển giao công nghệ với chiến lược phát triển cũng như chiến lược kinh
doanh. Điều này thể hiện qua các mặt sau:
- Các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ do sức ép của thị
trường chứ không phải do chủ động theo kế hoạch.
đầu tư, đổi mới công nghệ (cũng bằng con đường chuyển giao là chính) ở các
doanh nghiệp khác, trình độ công nghệ còn thấp hơn, nghĩa là mục tiêu đổi mới
công nghệ nâng cao trình độ kỹ thuật về cơ bản là chưa đạt hoặc đạt mức thấp,
ngay sau khi chuyển giao công nghệ đã nảy sinh nhu cầu đổi mới hoặc tìm kiếm
công nghệ khác để thay thế.
Thực tế này không những gây lãng phí mà còn làm tăng thêm sự lạc hậu về
công nghệ của nền kinh tế. ở đây có hai nguyên nhân chủ yếu là phía Việt Nam
thiếu thông tin về các loại công nghệ cần thiết có thể chuyển giao và những tiêu
cực nảy sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hành chuyển giao công nghệ.
c. Những nhân tố tạo ra sức cản nhất định đối với chuyển giao công
nghệ. Những nhân tố chủ yếu, quan trọng nhất là:
- Cơ sở vật chất phục vụ việc sử dụng công nghệ chưa được nâng câp tới
mức độ cần thiết. Khâu yếu nhất cần cải tiến là hệ thống giao thông vận tải phục
vụ việc cung ứng NVL và tiêu thụ sản phẩm. Bản thân từng doanh nghiệp không
thể tự mình giải quyết vấn đề này, vì đây không phải là một vài km đường nội bộ
hoặc đường nhánh nối với các quốc lộ, mà là toàn bộ hệ thống đường xá, bến bãi,
cầu phà của toàn vùng của cả nước.
- Các hoạt động hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng lao động
(cả lao động kỹ thuật lẫn lao động quản lý), dịch vụ đời sống xã hội cho lực
lượng lao động và dân cư có liên quan tới việc sử dụng công nghệ mới được
chuyển giao (kể cả văn hoá, y tế, giáo dục ) cũng chưa được tăng cường. Vấn đề
cần lưu ý là khi tiến hành chuyển giao công nghệ, dù muốn hay không cũng sẽ
dẫn tới sự hình thành các cụm công nghiệp, các trung tâm công nghiệp và gắn
với chúng là các khu dân cư có quan hệ chặt chẽ với bộ phận công nghiệp này.
- Sức ép về giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động. Vì việc
chuyển giao công nghệ không chỉ là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, mà có liên quan
tới công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của công nhân viên nên thông thường
trường nội địa còn kém phát triển nhưng cũng có tiềm năng nhất định mà nền
kinh tế có thể và cần phải khai thác. Một mặt các doanh nghiệp cần chủ động,
nhưng mặt khác các cơ quan quản lý và tổ chức nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật và công nghệ cần nghiên cứu, thiết kế, tìm kiếm và chuyển giao, triển khai
những công nghệ phù hợp với thị trường này.
d. Kết quả của chuyển giao công nghệ chưa phát huy được tác dụng tích
cực của nó đối với việc tiếp tục nâng cao năng lực công nghệ, tiếp tục đổi mới và
tự đổi mới công nghệ trong nước. Biểu hiện của mâu thuẫn này là:
- Sự chuyển giao công nghệ được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất
hàng tiêu dùng, thí dụ dệt, may, giày dép, chế biến lương thực - thực phẩm
Ngành công nghiệp chế tạo máy, đặc biệt là máy công cụ thực hiện đổi mới và
chuyển giao công nghệ mới chưa đáng kể, trong khi đó trình độ kỹ thuật và công
nghệ của ngành thấp (tuổi trung bình của thiết bị cao, hao phí năng lượng cao
hơn mức bình quân thế giới khoảng 1,5 lần, khả năng chịu nhiệt, chịu va đập, và
các điều kiện khắc nghiệt của môi trường rất hạn chế).
- Lực lượng thực hiện đổi mới thường xuyên đối với công nghệ và thiết bị ở
các doanh nghiệp giảm sút. Hiện có không ít doanh nghiệp thuê ngoài 100%
trong các dịch vụ sửa chữa thiết bị từ mức trung tu trở lên. Gắn với hiện tượng
này là sự giảm sút số lượng sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong các doanh nghiệp.
- Các công nghệ và thiết bị chuyên dùng, có thiết kế cứng chiếm tỷ trọng
lớn tuyệt đối trong các dự án chuyển giao công nghệ. Do đó, khi có những biến
động hoặc khi doanh nghiệp muốn tổ chức lại sản xuất, đổi mới sản phẩm hoặc
chuyển hướng kinh doanh thì thường khó tận dụng công nghệ, thiết bị chuyên
dùng đó. Thêm vào đó, sau quá trình chuyển giao công nghệ sản xuất ở các
doanh nghiệp có xu hướng khép kín khá rõ rệt. Sự hiệp tác, liên kết trong sản
xuất bị thu hẹp thì tác động dây chuyền của việc đổi mới công nghệ khó xảy ra.
- Sau khi chuyển giao công nghệ, chưa tạo ra được những mối quan hệ mới
nội địa, năng lượng, trong đó hai yếu tố chủ chốt cần quan tâm, mà chúng mâu
thuẫn nhau khi tiếp cận một công nghệm, đó là vốn và lao động. Theo dõi lịch sử
phát triển công nghệ, người ta thấy có sự chuyển dịch các yếu tố lựa chọn công
nghệ theo sự tăng trưởng kinh tế.
* Định hướng theo sự thay đổi không gây đột biến: Cơ sở thứ 4 của công
nghệ thích hợp đó là mong muốn có được tiến bộ công nghệ thông qua “phát
triển” chứ không phải “cách mạng”. Nó đòi hỏi: sự bền vững với văn hoá bản
địa, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với quá trình ra quyết định ở địa
phương.
III. Phần thứ ba
Giải pháp lựa chọn công nghệ phù hợp.
1. Phương hướng lựa chọn công nghệ phù hợp
Như ta đã biết việc lựa chọn công nghệ có hiệu quả là vấn đề phức tạp
nhưng rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế đất nước. Có 4 phương
pháp được xem xét, đó là:
- Phương pháp căn cứ vào giá trị hiện tại ròng của phương án công nghệ.
Theo phương pháp này, nếu phương án có giá trị hiện tại ròng không âm thì có
thể chấp nhận được.
- Phương pháp căn cứ vào tỷ số giữa giá trị lợi ích hiện tại của phương án
và giá trị chi phí hiện tại của nó. Nếu tỷ số đó không bé hơn một bước thì
phương án có thể chấp nhận được.
- Phương pháp căn cứ vào tỷ lệ tức nội bộ: Theo tiêu chuẩn này nếu số k
tìm được lớn thì phương án có thể chấp nhận được.
- Phương pháp thu hồi vốn nhanh: Theo phương pháp này thì một phương
án được lựa chọn là phương án có khả năng thu hồi vốn nhanh nhất. Trong các
phương án trên thì phương pháp đầu tiên là cơ sở chủ yếu để lựa chọn công nghệ
nghệ từ trong nước, mặt khác đẩy mạnh công tác đăng ký, quản lý và kinh doanh
các phát minh sáng chế. Trong thời gian trước mắt, các hoạt động này cần hướng
mạnh hơn vào việc làm các công nghệ đã được chuyển giao thích ứng hơn với
điều kiện Việt Nam, từ đó nhân rộng ra phạm vi cả nước (chuyển giao lại công
nghệ đã được chuyển giao).
c. Thực hiện chuyển giao công nghệ đối với mọi thành phần kinh tế:
Cho đến nay, chuyển giao công nghệ chủ yếu được thực hiện với các doanh
nghiệp Nhà nước dưới dạng nhập thiết bị và công nghệ hoặc liên doanh với nước
ngoài . Các loại công nghệ, thiết bị cũ từ các doanh nghiệp Nhà nước lại được
chuyển giao lại cho các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ cá thể hoặc hộ gia
đình.
Các doanh nghiệp tư nhân vừa qua còn ít tập trung vào sản xuất do vậy việc
chuyển giao công nghệ hiện đại và tiên tiến có quy mô tương đối lớn hầu như
chưa được đặt ra. Đến nay, nhiều doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ đã đến mức
độ cần thiết và có thể trang bị công nghệ tiên tiến, hoặc có điều kiện chuyển từ
kinh doanh thương mại là chính sang sản xuất công nghiệp, có nhu cầu trang bị
kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Mặt khác, sau nhiều năm khó khăn nhiều nghề
thủ công truyền thống đã có sự phục hồi nhất định, đòi hỏi phải cải tiến, hiện đại
hoá cả sản phẩm lẫn công nghệ truyền thống cho phù hợp với yêu cầu mới của
thị trường. Về nguyên tắc, Nhà nước chủ trương duy trì nền kinh tế nhiều thành
phần nên việc chuyển giao công nghệ cho mọi thành phần kinh tế là vấn đề
không cần bàn cãi. Tuy vậy, trong việc thực hành chuyển giao vẫn còn những
vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ.
d. Việc chuyển giao công nghệ cần được thực hiện một cách linh hoạt,
song phải theo một chiều hướng và phương hướng được cân nhắc, lựa chọn trên
cơ sở những căn cứ khoa học. Cần đảm bảo tính linh hoạt về mặt hình thức
chuyển giao (mua công nghệ, nhận công nghệ cùng nguyên liệu gia công sản
kinh tế chung thì Nhà nước cần đứng ra làm các việc trên. Trong mối quan hệ
này, vai trò của các viện chuyên ngành và các viện thuộc các Bộ, các viện thuộc
các công ty, các tập đoàn kinh tế lớn cần được coi trọng hơn.
- Tổ chức công tác đào tạo nhằm tăng năng lực và trình độ kỹ thuật, trình độ
công nghệ của lực lượng lao động, kể cả lao động kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu và
cán bộ quản lý. Điều đáng chú ý là đội ngũ cán bộ kỹ thuật nước ta bao gồm hầu
hết các lĩnh vực nhưng những cán bộ được đào tạo chuyên ngành công nghệ học
còn quá hiếm hoi. Thêm vào đó, việc sinh viên hiện nay thích học các ngành luật
pháp, quản lý kinh tế hơn các ngành khoa học và kỹ thuật có thể sẽ gây trở ngại
nhất định cho việc nâng cao năng lực công nghệ và kỹ thuật sau này.
3. Một số giải pháp và điều kiện chủ yếu nhằm lựa chọn công nghệ phù
hợp khi chuyển giao công nghệ ở nước ta.
- Thực hiện đa dạng hoá các đối tượng chuyển giao công nghệ bằng cách
mở rộng quan hệ với nhiều nước, nhiều trình độ công nghệ, nhiều hãng, nhiều
hướng phát triển công nghệ.
ở các nước chuyển giao công nghệ, sự phát triển các cơ quan Nhà nước và
tư nhân tham gia vào nghiên cứu, triển khai đã cho phép tạo thêm nhiều nguồn
chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển tiếp cận một cách dễ dàng.
Hơn nữa ở các hãng ở các nước công nghiệp hoá ngày càng quan tâm tới việc tìm
kiếm đối tác để hợp tác trong nghiên cứu. Và đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ
có năng lực với mức tiền lương vừa phải của nước ta chắc chắn sẽ hấp dẫn đối
với các hãng đó để thực thi các liên doanh.
Tuy nhiên, đa dạng hoá phải đi đôi với chọn lọc, biết lựa chọn ra những đối
tác khả rĩ mang lại kết quả tối ưu. Điều này chỉ đạt được trên cơ sở hiểu rõ: mặt
mạnh, yếu về công nghiệp của từng nước công nghiệp, từng hãng xuyên quốc
gia, thái độ của từng nước đó trong quan hệ kinh tế, chính trị đối với Việt Nam, ý
đồ cuả các nước và các hãng trong chuyển giao công nghệ cho chúng ta.
quan của bên có công nghệ, và ở nhiều trường hợp, công nghệ chỉ có dưới hình
thức đầu tư trực tiếp, nước ngoài cổ điển.
- Thực hiện đa dạng hoá các nội dung chuyển giao công nghệ.
+ Chuyển giao phần cứng sản xuất gồm các vật liệu, sản phẩm hay máy
móc
+ Chuyển giao phần cứng tổ chức bao gồm các thiết bị và phương tiện được
dùng trong các việc phi sản xuất ở trong và ngoài xí nghiệp
+ Chuyển giao tài liệu sản xuất.
+Chuyển giao tài liệu tổ chức. Đó là tài liệu dùng cho quản lý, bao gồm các
điều luật để vận hành xí nghiệp, quản lý dựng, quản lý nhân sự , kiểm soát tài
chính.
+ Chuyển giao các kỹ năng sản xuất. Phần mềm sản xuất là các kinh
nghiệm và kỹ năng được tích luỹ sử dụng trong quy trình sản xuất đó.
- Đa dạng hoá phương thức chuyển giao: có 4 phương thức chuyển giao
công nghệ: Phương thức sở hữu công cộng, theo đó công nghệ cần thiết được cho
không (không thương mại hoá); phương thức tiêu chuẩn do bên bán đưa ra,
phương thức hợp tác theo đó quan hệ giữa bên mua và bên bán được tạo nên qua
đàm phán, phương thức chống cạnh tranh theo đó chi phí cho việc tạo ra công
nghệ mới được loại trừ bằng các cơ chế chiến thắng sức mạnh thị trường.
-Đa dạng hoá luồng chuyển giao, đa dạng hoá loại hình chuyển giao nhằm
đạt được mục tiêu là:
+Tiếp nhận công nghệ và máy móc mới.
+ Tiếp nhận tới các nguồn tài chính nước ngoài.
+ Hy vọng tăng năng suất và hiệu suất lao động
+ Hiện đại hoá quy trình sản xuất
+ Tiếp nhận các kỹ năng, quản lý hiện đại.
+Tiếp cận các thị trường thế giới.