TIỂU LUẬN:
Một số giải pháp thu hút vốn
đầu tư phát triển KH-CN
ngành Nông nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU I) Sự cần thiết phải có đề tài
Nông nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần giải quyết
sau:
+Nhiều sản phẩm giá cao không bán được, tiêu thụ khó khăn.
+Nông dân lúng túng trong chuyển đổi cơ cấu, trồng cây gì, nuôi con gì chưa rõ,
nay trồng, mai chặt
+Nông nghiệp có phát triển nhưng chất lượng sản phảm còn thấp, giá còn cao.
Hưng Yên là một tỉnh thuần nông thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí
địa lý khá thuận lợi, có hệ thống sông Hồng, sông Luộc tạo nguồn nước ngọt cho
sản xuất nông nghiệp; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, nhiều nắng và có mùa
đông lạnh… Bên cạnh đó tài nguyên đất Nông nghiệp phong phú, nguồn nhân lực
dồi dào…Tuy nhiên Nông nghiệp Hưng Yên vẫn chưa phát triển phù hợp với tiềm
lực sẵn có của tỉnh.
Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do chưa ứng dụng rộng
rãi KH-CN vào sản xuất Nông nghiệp như: giống mới, kỹ thuật chăm sóc…Làm
hình chung của cả nước….
+ Phương pháp tổng hợp
+ Phương pháp phân tích
Đề tài gồm ba phần:
Chương I. Sự cần thiết thu hút vốn đầu tư phát triển Khoa học – Công nghệ
cho ngành Nông nghiệp
Chương II. Thực trạng về vốn đầu tư phát triển KH-CN ngành Nông nghiệp
Chương III. Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển KH-CN
ngành Nông nghiệp
Chương I. Sự cần thiết thu hút vốn đầu tư phát triển Khoa học – Công
nghệ cho ngành Nông nghiệp
I) Vai trò của Khoa học – Công nghệ trong Nông nghiệp
1) Khái niệm Khoa học – Công nghệ
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau từ
thời kỳ mông muội, thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng…cho đến thời kỳ của cuộc cách
mạng Khoa học - Kỹ thuật hiện đại ngày nay. Để đạt được những thành tựu tiến bộ
trong quá trình phát triển như trên, con người từ chỗ lệ thuộc vào thiên nhiên, đến
chỗ vượt nên nhận thức quy luật khách quan của tự nhiên, tiến tới trinh phục, cải tạo
tự nhiên đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của mình.
1.1) Khoa học
Khoa học là tập hợp những hiểu biết và tư duy nhằm khám phá những thuộc
tính tồn tại khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Khoa học xuất hiện
thông qua quá trình tư duy ý thức, hay hoạt động nghiên cứu của con người mà kết
quả là xác định một hệ kiến thức riêng biệt trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã
hội. Khoa học có nguồn gốc từ sự đấu tranh của con người với tự nhiên, trước hết là
trong thực tiễn sản xuất tạo ra của cải vật chất cho con người làm chủ cuộc sống của
mình. Do đó Khoa học phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài
người.
Khoa học được phân thành Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội.
Phần cứng phản ánh kỹ thuật của phương pháp sản xuất. Kỹ thuật được hiểu
là toàn bộ những điều kiện vật chất, bao gồm : máy móc, trang thiết bị, khí cụ, nhà
xưởng… do con người tạo ra để sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm làm biến đổi
các đối tượng vật chất cho phù hợp với nhu cầu của con người. Kỹ thuật là nhân tố
quyết định tăng năng suất lao động. Kỹ thuật phát triển không ngừng cả về số lượng
và chất lượng. Sự phát triển về số lượng thường dẫn đến những thay đổi về chất của
kỹ thuật
Phần mềm bao gồm 3 thành phần: Con người với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo,
tay nghề, kinh nghiệm, thói quen…trong lao động; Thông tin gồm các bí quyết, quy
trình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế… ; Tổ chức, thể hiện trong việc bố trí, sắp
xếp, điều phối và quản lý.
Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đòi hỏi phải có sự tác động qua lại
lẫn nhau giữa phần cứng và phần mềm, đó là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sản xuất
đạt hiệu quả cao. Nếu như thành phần kỹ thuật được coi là xương sống, cốt lõi của
quá trình sản xuất, thì thành phần con người là chìa khoá, hoạt động theo những
hướng dẫn của thành phần thông tin. Thành phần thông tin là cơ sở để con người ra
quyết định. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các thành phần trên, động viên
người lao động nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.
Thực tiễn sản xuất ở nước ta trong giai đoạn vừa qua và hiện nay cũng đã chỉ
ra rằng, những thiết bị hiện đại nhập về nhưng do không làm chủ được bí quyết
công nghệ và công nhân không đủ trình độ vận hành thiết bị, nên sản phẩm làm ra
không đảm bảo yêu cầu chất lượng mong muốn, máy móc thì không được sử dụng
hết công suất. Cùng một thiết bị nhập về, nhưng ở hai cơ sở khác nhau lại cho ra các
sản phẩm chất lượng khác nhau. Hoặc để sản phẩm đạt được chất lượng như nhau
lại có thể dùng các loại thiết bị và công nghệ khác nhau. Như vậy, để có một sản
phẩm được thị trường chấp nhận có thiết bị tốt thôi chưa đủ, mà còn phải có người
công nhân có tay nghề phù hợp, nắm bắt được bí quyết Công nghệ, có bộ máy quản
lí năng động, đủ sức tìm hiểu nhu cầu biến động của thị trường, có khả năng tổ chức
lại một cách khách quan nhanh chóng dây chuyền sản xuất phù hợp với yêu cầu
Công nghệ là cơ sở để tổng quát hoá thành những nguyên lý khoa học. Công nghệ
còn tạo ra phương tiện làm cho Khoa học có bước tiến dài. Khoa học càng gần với
hoạt động sản xuất và đời sống thì việc ứng dụng, triển khai Công nghệ càng mang
tính trực tiếp nhiều hơn.
Mỗi quan hệ giữa Khoa học và Công nghệ được phát triển qua các giai đoạn
khác nhau của lịch sử. Trước thế kỷ 19, Khoa học thường đi sau giải thích cho sự
phát triển của Công nghệ. Mối quan hệ ấy có thể biểu diễn theo trình tự sản xuất
↔công nghệ ↔khoa học. Từ cuối thế kỷ XIX, Khoa học tiệm cần gần hơn với
Công nghệ. Mỗi khó khăn của Công nghệ là một sự gợi mở cho hướng nghiên cứu
Khoa học và ngược lại, những phát minh Khoa học lại tạo điều kiện cho sáng tạo
Công nghệ mới. Từ những năm 50 của thế kỷ XX Khoa học chuyển sang vị trí chủ
đạo, dẫn dắt sự nhảy vọt về kỹ thuật và Công nghệ, từ đó tác động trực tiếp vào toàn
bộ quá trình sản xuất. Mối quan hệ ấy được mô tả theo một trình tự hoàn toàn
ngược lại Khoa học ↔ Công nghệ ↔ sản xuất. Những thành tựu của Khoa học –
Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, được ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực của cuộc sống chứ không riêng gì trong sản xuất.
1.4) Nội dung Khoa học – Công nghệ trong Nông nghiệp
Thuỷ lợi hoá Nông nghiệp
Thuỷ lợi hoá là quá trình thực hiện tổng hợp các biện pháp khai thác, sử
dụng và bảo vệ các nguồn nước trên mặt đất và dưới mặt đất cho nhu cầu sản xuất
và sinh hoạt ở nông thôn, đồng thời hạn chế các tác hại của nước gây ra cho sản
xuất và đời sống.
Thuỷ lợi hoá là tiến bộ Khoc học – Công nghệ liên quan đến nước của sản
xuất Nông nghiệp và đời sống nông thôn. Yếu tố nước thường gắn liền với đất đai,
sông biển, thời tiết khí hậu…Vì vậy thuỷ lợi hoá có nội dung rộng lớn với những
phạm vi khác nhau trên một vùng, quốc gia, thậm trí có vấn đề mang tính khu vực
và quốc tế.
Thuỷ lợi hoá là tiến bộ Khoa học- Công nghệ nhằm cải tạo và chinh phục
thiên nhiên, trên cơ sở nhận thức các quy luật của tự nhiên, trước hết là các quy luật
mạng lưới điện quốc gia thông suốt từ nơi phát điện đến tận các cơ sở sử dụng điện
là các hộ gia đình, các trang trại trồng trọt, chăn nuôi…Do đó thực hiện điện khí
hoá Nông nghiệp nông thôn là quá trình rất lâu dài.
Trong Nông nghiệp, nông thôn việc sử dụng nguồn năng lượng điện chủ yếu
theo các hướng sau:
+ Năng lượng điện là cơ sở của việc cơ khí hoá lao động ở một số khâu sản
xuất Nông nghiệp như thuỷ lợi, chế biến, chăn nuôi…
+ Sử dụng điện dưới dạng khác như điện năng hay quang năng để chiếu
sáng, sấy khô, ấp trứng, sưởi ấm gia súc…; hoặc dưới dạng sóng như tia hồng
ngoại, tia tử ngoại để khử độc trong nước, tiêu diệt các vi sinh vật có hại cho giống
cây trồng vật nuôi, chữa bệnh gia súc…
+ Sử dụng điện phục vụ sinh hoạt nông thôn.
Hoá học hoá Nông nghiệp
Hoá học hoá là quá trình áp dụng những thành tựu của ngành Công nghiệp
hoá chất phục vụ Nông nghiệp, bao gồm việc sử dụng các phương tiện hoá học vào
các hoạt động sản xuất Nông nghiệp và phục vụ đời sống ở nông thôn.
Hoá học hoá Nông nghiệp là quá trình liên tục của những tiến bộ Khoa học –
Công nghệ liên quan đến các phương tiện hoá học của lao động Nông nghiệp và của
các phương tiện phục vụ đời sống nông thôn. Hoá học hóa Nông nghiệp bao gồm:
+ Bổ sung và tăng cường cung cáp thức ăn cho cây trồng, vật nuôi bằng việc
sử dụng các loại phân bón hoá học, thức ăn gia súc có bổ sung nguyên tố vi lượng.
+ Bảo vệ cây trồng vật nuôi thông qua việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ
thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ bệnh gia súc, gia cầm…
+ Sử dụng các vật liệu hoá học trong xây dựng các công trình phục vụ Nông
nghiệp như công trình thuỷ lợi, cải tạo đất, xây dựng chuồng trại…
+ Sử dụng các vật liệu hoá học trong sản xuất các đồ dùng phục vụ sinh hoạt
nông thôn.
Sinh học hoá Nông nghiệp
Sinh học hoá Nông nghiệp là quá trình nghiên cứu và áp dụng những thành
2.1) Tiến bộ Khoa học – Công nghệ phải dựa vào tiến bộ về sinh vật học và sinh
thái học
Các tiến bộ KH – CN trong Nông nghiệp phải dựa vào những tiến bộ về sinh
vật học và sinh thái học, lấy sinh vật học và sinh thái học làm trung tâm. Các tiến bộ
Khoa học Công nghệ khác như thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, hoá học hoá, cải tạo
đất… phải đáp ứng yêu cầu của tiến bộ Khoa học – Công nghệ về sinh vật học và
sinh thái học. Điều đó cũng xuất phát từ đặc điểm: Đối tượng sản xuất Nông nghiệp
là cây trồng, vật nuôi.
Mối quan hệ giữa sinh vật và sinh thái trong sản xuất Nông nghiệp đòi hỏi
các tiến bộ Khoa học – Công nghệ khác hướng sự phát triển của mình vào việc cải
tiến bản thân sinh vật (các cây trồng vật nuôi) và cải tiến môi trường sống của sinh
vật. Bên cạnh việc nghiên cứu để tạo ra giống mới trong sản xuất Nông nghiệp,
đồng thời còn đỏi hỏi việc nghiên cứu để tạo ra một loạt các yếu tố đồng bộ
khác.Cứ như vậy, tiến bộ Khoa học – Công nghệ trong Nông nghiệp ngày càng phát
triển theo chiều rộng và chiều sâu.
Hoạt động sản xuất Nông nghiệp ngày nay đang phải đối mặt với tính khan
hiếm của các yếu tố nguồn lực. Như vậy, những công nghệ mới trong trồng trọt và
chăn nuôi không những phải nhằm nâng cao sức sống bên trong của cây trồng, vật
nuôi, sử dụng với hiệu quả cao nhất nguồn tài nguyên đất đai sinh thái hiện có, mà
còn phải góp phần giữ gìn, tái tạo các nguồn tài nguyên đó để đảm bảo sự phát triển
Nông nghiệp bền vững trong tương lai.
2.2) Việc nghiên cứu ứng dụng KH – CN trong Nông nghiệp mang tính vùng,
tính địa phương cao.
Xuất phát từ đặc điểm riêng của sản xuất Nông nghiệp, đó là trong Nông
nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Sản xuất Nông
nghiệp lại được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc điểm trên cho thấy, ở đâu có đất và lao
động thì ở đó có thể tiến hành sản xuất Nông nghiệp. Tuy nhiên, ở mỗi vùng, mỗi
quốc gia lại có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau. Lịch sử hình
chắc của Nông nghiệp.
Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển, do kết quả tác động khác nhau của
các tiến bộ Khoa học – Công nghệ riêng lẻ vào sự phát triển từng yếu tố của LLSX
làm cho tổng thể cơ sở vật chất kỹ thuật của Nông nghiệp lộ ra những bộ phận lạc
hậu, yếu kém hơn. Khắc phục những bộ phận lạc hậu yếu kém này chính là nhiệm
vụ trọng tâm trong một giai đoạn nhất định của việc nghiên cứu áp dụng tiến bộ
Khoa học – Công nghệ.
3) Vai trò của KH – CN đối với sự phát triển ngành Nông nghiệp
Khoa học – Công nghệ là một bộ phận nguồn lực không thể thiếu trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như trong qúa trình phát triển ngành
Nông nghiệp nói riêng.
3.1) Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển ngành Nông
nghiệp
K.Marx đã dự đoán rằng: đến giai đoạn Công nghiệp, việc sản sinh ra sự
giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà phần lớn phụ
thuộc vào tình trạng chung của Khoc học và sự tiến bộ của kỹ thuật hay sự vận
dụng Khoa học vào sản xuất. Như vậy Khoa học – Công nghệ không chỉ tạo ra công
cụ lao động mới, mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về
kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động.
Dưới tác động của Khoa học và Công nghệ , các nguồn lực sản xuất trong
lĩnh vực Nông nghiệp được mở rộng: Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa
vào sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho quá trình sản xuất Nông nghiệp kể
cả tài nguyên tái sinh và tài nguyên không tái sinh: đất, nước…; Làm biến đổi chất
lượng nguồn lao động. Cơ cấu lao động chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu
sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật, có trí
tuệ, nhờ đó nâng cao năng suất lao động; mở rộng khả năng huy động, phân bổ và
sử dụng các nguồn vốn đầu tư vào Nông nghiệp một cách có hiệu quả.
Khoa học – Công nghệ tạo điều kiện chuyển từ phát triển ngành Nông
nghiệp theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu. Phát triển Nông nghiệp theo
Cây Cây Cây Cây Chăn Chăn Chăn
lương rau công ăn nuôi nuôi nuôi
thực đậu nghiệp quả trâu bò lợn gia cầm
Từ đó làm thay đổi cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng tích cực, thể hiện:
- Tăng cường tỷ trọng các ngành phù hợp với điều kiện phát triển của vùng,
là lợi thế so sánh của vùng, sao cho tận dụng tối đa và hiệu quả tiểm năng phát triển
của vùng đó.
- Mở rộng quy mô sản xuất những ngành có hàm lượng kỹ thuật công nghệ
cao, lao động trí thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn.
3.3) Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm ngành Nông nghiệp, thúc đẩy phát triển
Nông nghiệp hàng hoá
Mục tiêu cuối cùng của người nông dân là tối đa hoá phần thu nhập có được
sau khi bán được hết sản phẩm Nông nghiệp và trừ đi các chi phí mà họ bỏ ra.
Muốn vậy người nông dân phải sản xuất những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu
hoá chi phí các yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã, hình thức
sản phẩm…cho phù hợp. Những yêu cầu đó chỉ được thực hiện khi áp dụng tiến bộ
Khoa học – Công nghệ vào trong sản xuất.
Việc áp dụng tiến bộ Khoa học – Công nghệ vào sản xuất Nông nghiệp
không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Nông nghiệp mà còn tạo ra nhiều
loại sản phẩm mới, tăng quy mô sản xuất, tạo được vị thế của sản phẩm Nông
nghiệp trên thị trường. Không chỉ thị trường trong nước mà còn hướng ra thị trường
quốc tế.
4) Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển KH – CN ngành Nông nghiệp
Sự phát triển của KH – CN ngành Nông nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố, trong đó có một số yếu tố chính sau:
4.1) Sự phát triển của thị trường Khoa học – Công nghệ
Sau khi thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII, thị trường KH – CN đã bước
đầu được hình thành, song còn rất manh nha. Chúng ta chưa tạo ra được động lực và
cứng và phần mềm. Nếu như thành phần kỹ thuật được coi là xương sống cốt lõi
của quá trình sản xuất, thì thành phần con người là chìa khoá, hoạt động theo hướng
dẫn của thành phần thông tin. Thành phần thông tin là cơ sở để con người ra quyết
định. Như vậy, vai trò của nhân lực đối với sự phát triển của KH – CN ngành Nông
nghiệp là hết sức to lớn, nó thúc đẩy sự phát triển của KH – CN ngành Nông
nghiệp.
4.4) Cơ chế quản lí KH – CN
Cơ chế quản lý KH – CN cũng ảnh hưởng tới sự phát triển của KH – CN
ngành Nông nghiệp. Nếu cơ chế đó nhằm khuyến khích sự phát triển của KH – CN
thì nó sẽ thúc đẩy sự phát triển KH – CN ngành Nông nghiệp và ngược lại. Do đó ta
cần phải tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý KH – CN một cách phù hợp.
4.5) Quan hệ quốc tế về KH – CN
Việc phát triển KH – CN ngành Nông nghiệp hiện nay của một quốc gia đặc
biệt là một quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay không chỉ phụ thuộc
vào những yếu tố bên trong của quốc gia đó mà còn phụ thuộc vào sự phát triển của
KH – CN thế giới. Do đó việc mở rộng quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ về
KH – CN nói riêng có ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển KH – CN ngành Nông
nghiệp cho phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
II) Sự cần thiết thu hút vốn đầu tư phát triển KH-CN ngành Nông nghiệp
1) Khái niệm vốn đầu tư
Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện trực
tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ, bao gồm vốn cố định và vốn lưu
động. Ở giác độ vĩ mô, vốn sản xuất được biểu hiện dưới dạng hiện vật, phản ánh
năng lực sản xuất của một nền kinh tế. Để có thể tạo ra được những tài sản vật chất
cụ thể, nhất thiết phải sử dụng vốn đầu tư thông qua hoạt động đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia tăng mức vốn
sản xuất.
Tuỳ theo các mục đích khác nhau, có thể phân loại vốn đầu tư theo các tiêu
thức khác nhau:
ra còn có các khoản thu phí và lệ phí có tính chất thuế.
Vốn từ nguồn của nhà nước thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và có tốc độ tăng
trưởng nhanh nhất.
Nguồn tích luỹ của dân cư
Tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Thu
nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập có thể sử dụng và các khoản thu nhập khác:
viện trợ, thừa kế, bán tài sản…Chi tiêu của hộ gia đình gồm các khoản chi mua
hàng hoá và dịch vụ và chi trả lãi suất các khoản tiền vay.
Nguồn vốn từ dân cư đầu tư cho phát triển Khoa học – Công nghệ rất thấp và
khó huy động do đầu tư vào lĩnh vực này đòi hỏi vốn lớn, rủi ro cao, lợi nhuận
thấp… do đó nó phụ thuộc vào chính sách, cơ chế của chính phủ trong việc huy
động vốn phát triển Khoa học – Công nghệ.
Hiện nay nguồn tiết kiệm trong dân cư là nguồn lực tiềm năng rất to lớn cho
phát triển kinh tế nói chung và khoa học công nghệ nói riêng. Tuy nhiên nguồn tiết
kiệm trong dân cư vẫn chưa được khai thác huy động một cách hiệu quả. Tổng
lượng vốn trong dân chưa được huy động vẫn còn rất lớn. Nguyên nhân là do các
chính sách huy động nguồn vốn trong dân chưa đạt được hiệu quả, tâm lý của dân…
Nguồn tích luỹ của các Doanh nghiệp dân doanh
Tiết kiệm của các Doanh ngiệp dân doanh được xác định trên cơ sở doanh
thu của doanh nghiệp và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh thu của doanh nghiệp (TR) là các khoản thu nhập của doanh nghiệp
do tiêu thu hàng hoá hoặc dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí trung gian trong quá
trình sản xuất. Tổng chi phí (TC) thường bao gồm các khoản: trả tiền công, trả tiền
thuê đất đai, trả lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh.
Pr trước thuế = TR – TC
Pr sau thuế = Pr trước thuế - T
de
T
+ Các tổ chức tài chính quốc tế: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng Thế giới
(WB)
Các tổ chức viện trợ song phương thường là Chính phủ các nước công
nghiệp phát triển như: Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Đức, Úc…Theo quy định của Liên hợp
quốc (năm 1970) các nước công nghiệp phát triển hàng năm phải giành 0,7% GNP
để viện trợ ODA cho các nước đang phát triển, nhưng thực tế chỉ có rất ít quốc gia
thực hiện được chỉ tiêu này.
Hiện nay Việt Nam đang có quan hệ với 25 nhà tài trợ OAD song phương
trong đó Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất chiếm khoảng 40% tổng vốn ODA, tiếp
đến là Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Thuỵ Điển…
Bảng 1.1: Vốn ODA qua các năm vào Việt Nam
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Vốn
ODA
2,4 2,6 2,83 3,4 3,5 3,75 4,45 5,426
Đơn vị tính: tỷ USD
Vốn ODA được phân bổ chủ yếu cho các ngành, lĩnh vực đầu tư do Chính
phủ quyết định lựa chọn, trong đó giao thông (27,5%), nông nghiệp và nông thôn
(12,7%), cung cấp nước và tưới tiêu (7,8%), phát triển các dịch vụ xã hội (y tế, giáo
dục, khoc học công nghệ ) là 11,8%. Đây là một trong những nguồn thu lớn để
Chính phủ đầu tư cho phát triển Khoa học – Công nghệ.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho
sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là nguồn vốn
lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung cũng như phát triển
Khoa học – Công nghệ ở các nước đang phát triển.
Ngày nay, FDI đang trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hoá
sản xuất và lưu thông. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển
theo con đường tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần đến nguồn vốn
cũng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn do áp lực của khả năng chi trả và
nguy cơ vỡ nợ cao.
3) Vai trò của vốn đầu tư đối với sự phát triển KH-CN
Quy mô ứng dụng, phát minh và cải tiến KH – CN ngành Nông nghiệp phụ
thuộc vào cái gì? Một số người cho rằng đó là kết quả của tính sáng tạo không
ngừng và niềm đam mê sáng tạo. Tuy nhiên, cũng giống như những lĩnh vực khác,
quy mô ứng dụng, phát minh, sáng kiến và sản xuất Nông nghiệp phụ thuộc vào
nguồn lực tài chính dành cho công tác nghiên cứu hay phụ thuộc vào mức chênh
lệch giữa chi phí với hiệu quả kỳ vọng. Hoạt động nghiên cứu của các viện nghiên
cứu thường được NSNN cấp kinh phí, một số được sử dụng nguồn tài chính tư nhân
và được thực hiện qua những hoạt động đặc biệt, đó là nghiên cứu và triển khai
(R&D).
Sản xuất Nông nghiệp thường mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào vào
điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết… nên thường gặp nhiều rủi ro và sản phẩm có
tính mùa vụ. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, triển khai KH – CN ngành Nông
nghiệp vào sản xuất Nông nghiệp cũng có độ rủi ro cao. Do đó đầu tư vào phát triển
KH – CN ngành Nông nghiệp có độ rủi ro cao, hao phí nhiều nguồn lực… nhưng
thời gian thu hồi vốn lại kéo dài nên không thu hút được tư nhân tham gia vào lĩnh
vực này mà chủ yếu là do nhà nước đầu tư.
Như vây, có thể nói vốn đầu tư có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển KH – CN ngành Nông nghiệp. Nó thúc đẩy sự phát triển KH – CN ngành
Nông nghiệp theo đúng với xu hướng phát triển của KH – CN thế giới.
4) Các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư phát triển KH-CN cho ngành
Nông nghiệp
4.1) Môi trường đầu tư
Sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là yêu cầu trước hết để các nhà kinh
doanh yên tâm bỏ vốn đầu tư, có thể dự kiến và thực thi những dự án đầu tư dài hạn,
giảm bớt rủi ro trong quá trình đầu tư. Sự ổn định về kinh tế liên quan đặc biệt đến
sự ổn định của tiền tệ, sự đúng đắn của các định hướng chiến lược phát triển dài hạn
Cơ sở hạ tầng: nếu không có sự đầu tư đáng kể vào việc nâng cấp và phát triển
cơ sở hạ tầng thì việc duy trì và thu hút dòng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế nói
chung cũng như phát triển Khoa học – Công nghệ ngành Nông nghiệp nói riêng sẽ
gặp nhiều khó khăn.
4.2) Thị trường Khoa học – Công nghệ và thị trường vốn cho phát triển KH –
CN.
Hoạt động Khoa học – Công nghệ thường gặp nhiều rủi ro. Các vấn đề
nghiên cứu không ai chắc được là sẽ thành công hay không cũng như có được ứng
dụng vào thực tiễn hay không. Do đó đầu tư vào phát triển Khoa học – Công nghệ
là một loại hình đầu tư có độ rủi ro cao, hao phí nhiều nguồn lực. Do đó việc phát