giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực thuỷ sản của việt nam thời kỳ hậu wto - Pdf 10

GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
A-LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 tiếp nhận nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nền kinh tế
Việt Nam đã có những bước đi khởi sắc. Cơ cấu các ngành kinh tế đã có
những sự chuyển dịch tích cực mang tính thị trường. Từ khi nguồn vốn FDI
được thu hút đầu tư Việt Nam các ngành kinh tế đã được đầu tư thích đáng,
thúc đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Thuỷ sản cũng là
một trong số ngành đó. Sau những năm đổi mới. Thuỷ sản Việt Nam đã có
những bước đi khẳng định mình trong nền kinh tế Việt Nam cũng như trong
nền kinh tế thế giới. Tuy còn nhiều bất cập và yếu kém về nhiều mặt nhưng
Thuỷ sản Việt Nam cũng đã vươn lên đứng vị trí thứ 10 trong các nước xuất
khẩu Thuỷ sản.
Và đặc biệt hơn sau khi Việt Nam ra nhập WTO thì cơ hội cho ngành
Thuỷ sản càng được nâng cao hơn. Khi các nhà đầu tư liên tục đăng ký vốn
đầu tư vào Việt Nam. Mặc dù vậy, ngành Thuỷ sản hầu như vẫn chưa được
quan tâm tương xứng với tiềm năng sẵn có, lượng vốn đầu tư vào ngành
chiếm một tỷ lệ rất nhở so với lượng vốn đầu tư cho Nông nghiệp.
Với tính cần thiết và cấp bách của vấn đề, Tôi đã chọn đề tài : “ Giải
pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Thuỷ sản của
Việt Nam thời kỳ hậu WTO” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình.
Do hạn chế về kiến thức, thời gian và số liệu nên bài viết này Tôi không
tránh khỏi những thiếu sót. Mong được sự góp ý của Thày giáo TS. Nguyễn
Ngọc Sơn và các bạn để hoàn thiện chuyên đề thực tập của Tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Ngọc Sơn và các cán bộ phòng
Nông – Lâm – Ngư nghiệp Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
đã giúp đỡ Tôi hoàn thành chuyên đề thực tập này.
Nguyễn Đức Thắng - 1 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
B - NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ SỰ CẦN THIẾT
THU HÚT FDI VÀO NGÀNH THUỶ SẢN.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không
có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ
phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp
là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả
các QG nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có
những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư
nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp,
trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra Định nghĩa như sau về FDI :Đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước
chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng
với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI
với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư
lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty
mẹ" và các tài sản được gọi là “ công ty con hay chi nhánh công ty”.
( Nguồn Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực
tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia
là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào
Nguyễn Đức Thắng - 3 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của
mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu
hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp
đồng và giấy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí
quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu,

tại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm
hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm
nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời
gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối
quan hệ. Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối
tác; mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư,
định giá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác
trong nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị
mất cơ hội kinh doanh khó giải quyết khác biệt về tập quán, văn hóa.
2.2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh
trong hoạt động đầu tư quốc tế.
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh
doanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ
đầu tư và nước sở tại.
Nguyễn Đức Thắng - 5 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về
môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh
tế, luật pháp, văn hóa, mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thể
pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại. Thành lập dưới dạng
công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Đối với nước tiếp nhận :
Ưu điểm: Nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN
bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập
trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến

hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước
sở tại. quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp
đồng hợp tắc kinh doanh.
Đối với nước tiếp nhận :
Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu nghệ, tạo ra thị
trường mới nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền
điều hành dự án.
Nhược điểm: khó thu hút đầu tư ,chỉ thực hiện được đối với một số ít
lĩnh vực dễ sinh lời.
Đối với nước nhận đầu tư :
Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở
tại vào được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị
Nguyễn Đức Thắng - 7 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
trường truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho
việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác
động lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp
tác với đối tá nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.
2.4. Đầu tư theo hợp đồng BOT.
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một
số mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng
cơ sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong một dự án
xây dựng BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận
hành một công trình mà thường do chính phủ thực hiện. Công trình này có
thể là nhà máy điện, sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành
doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ.
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơ
quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng (kể cả mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh

nhà đầu tư.
Đối với đầu tư nước ngoài :
Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lí, điều
hành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, hông bị chia sẻ và được nhà nước sở
tại đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.
Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thường gặp nhiều
khó khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức.
Nguyễn Đức Thắng - 9 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
2.5. Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company).
Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được
thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức
đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc
gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị.
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn
hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám
sát hoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền
kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều
thuận lợi.
Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư
khác nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ
trợ các công ty trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hoá, điều tiết chi
phí thu nhập và các nghiệp vụ tài chính.
Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể
thống nhất và chịu trách nhiệm về việc ra quyết định và lập kế hoạch chiến
lược điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty.
Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục
đầu tư. Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho
các công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.

công ty mẹ ở nước ngoài.
Nguyễn Đức Thắng - 11 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản
chi phí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước
ngoài. Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lý
của công ty mẹ ở nước ngoài vào phàn thu nhập chịu thuế ở nước sở tại
Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công ty
con. Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh
không phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ
thông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà.
2.8. Hình thức công ty hợp danh :
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp
danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành
viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề
nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ
của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh không
được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Các thành viên hợp danh có
quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn thành viên
góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty
nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân
danh công ty.
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài hình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân
nhân trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Hình thức đầu tư này
trước hết rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm
rõ rệt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm.
Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ỏ các nước nhăm tao thêm
cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu,

GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
M&A tao điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công
nghiệp và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức này
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển công nghệ ở mỗi quốc gia.
MA theo chiều ngang xảy ra khi 2 công ty hoạt động trong cùng 1 lĩnh
vực sản xuất kinh doanh muốn hình thành 1 công ty lớn hơn để tăng khả
năng cạnh tranh, mở rộng thị trường của cùng một loại mà trước đó hai công
ty cùng sản xuất.
MA theo chiều dọc diễn ra khi 2 công ty hoạt động ở 2 lĩnh vực khác
nhau nhưng cùng chịu sự chi phối của 1 công ty mẹ, loại hình MA này
thường xảy ra ở các công ty xuyên quốc gia.
MA theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớn
tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt
hại khi một công ty tự thâm nhập vào thị trường.
So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:
Về bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngày
một lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức MA chủ
yếu chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các
công ty nước ngoài. Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh
được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt
động của doanh nghiệp.
Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm
cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được
việc làm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc
làm (tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà. Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng
này có thể được cải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất.
Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truyền thống tác động trực tiếp
đến thay đổi cơ cấu kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới
Nguyễn Đức Thắng - 14 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập

công nghệ cao thì thu hút FDI vào sẽ tận dụng được khả năng quản lý chặt
chẽ và có kỷ luật của nhà đầu tư. Các công nghệ máy móc hiện đại cũng sẽ
được nhập vào nước cùng với các phương thức vận hành. Các nước tiếp
nhận sẽ tiết kiệm được chi phí cho việc tiếp nhận các công nghệ cao của các
nước đầu tư.
3.3. Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn
đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có
quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao
động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng
lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu. Các công ty đa
quốc gia đặt các chi nhánh, các cơ sở sản xuất tại nhiều nước, do vậy mà khi
các sản phẩm hoàn chỉnh cần sự kết hợp của nhiều nước tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mặt hàng mình sản xuất, tham gia
trực tiếp vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Kết nối các khu công nghiệp sản
xuất của nhiều nước trên thế giới.
3.4. Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công.
Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt
được khi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê
mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa
phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa
phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp,
mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển
thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao
động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông
Nguyễn Đức Thắng - 16 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và
được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
3.5. Nguồn thu ngân sách lớn.

2003 cơ cấu GDP của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ là
22,26%/39,94%/37,8%.
Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, có trí thức và tương đối trẻ. với
số dân 80 triệu, đứng thứ 13 trên thế giới, đời sống người dân ngày càng
được nâng cao, Việt Nam được đánh giá là một nước có tiềm năng về thị
trường lao động và thị trường hàng hoá. Về chất lượng nguồn nhân lực, chỉ
số phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đang ở mức cao hơn trình độ
phát triển kinh tế, có khả năng tiếp thu và thích nghi nhanh với hoạt động
chuyển giao công nghệ, điều này cũng phản ánh những ưu thế của lao động
Việt Nam xét về dài hạn (hiện tại Việt Nam đứng thứ 5 trong số các nước
ASEAN về chỉ số phát triển con người, sau Singapore, Malaysia, Thailand,
Philippines). chi phí sử dụng lao động của kỹ sư và công nhân Việt Nam
cũng được đánh giá là có lợi hơn so với các nước lân cận (lương trả chỉ bằng
60-70% của Trung Quốc, Thái Lan; 18% của Singapore; 3-5% của Nhật
Bản).
2. Công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập
Mở cửa cả bên trong và bên ngoài đã tạo môi trường kinh doanh ngày
càng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp:
Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành,
phát triển và được thúc đẩy theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, huy động
được nhiều nguồn lực hơn vào phát triển kinh tế xã hội. Quá trình cải cách
trên các lĩnh vực tài chính, tiền tệ cũng được đẩy mạnh thông qua việc cơ
Nguyễn Đức Thắng - 18 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
cấu lại hệ thống các ngân hàng, điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt, cải cách
hệ thống thuế, đổi mới thu chi ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành
chính ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong và
ngoài nước phát triển sản xuất kinh doanh.
Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng tạo điều kiện

Các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trong hầu hết các lĩnh vực
của nền kinh tế (trừ an ninh, quốc phòng), được quyền chủ động lựa chọn
các hình thức đầu tư, địa điểm, đối tác đầu tư, quy mô dự án; được trực tiếp
tuyển dụng lao động; được khuyến khích, ưu đãi đầu tư vào các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được quyền mua bán ngoại tệ ở các
ngân hàng thương mại để đáp ứng các giao dịch vãng lai. Chính phủ bảo
đảm cân đối ngoại tệ cho các dự án quan trọng, bỏ khống chế lãi suất trần
đối với các khoản vay về ngoại tệ và các khoản vay nước ngoài, giảm tỷ lệ
kết hối ngoại tệ từ 80% năm 1998 xuống 30% năm 2002 và 0% năm 2003.
Nhà nước thực hiện giảm giá các dịch vụ cung cấp điện nước, bưu
chính viễn thông: thực hiện từng bước thống nhất một loại giá dịch vụ,
không phân biệt doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài, áp dụng chính sách không hồi tố đối với những ưu đãi đã quy định
trong giấy phép đầu tư, đồng thời cho phép các doanh nghiệp được hưởng
các ưu đãi ở mức cao hơn các chính sách được ban hành.
Đối với hoạt động đầu tư trong nước, Luật khuyến khích đầu tư trong
nước cũng tạo nhiều điều kiện thông thoáng khuyến khích các cá nhân, tổ
chức bỏ vốn đầu tư. Nhà nước cũng tạo nhiều điều kiện khuyến khích, hỗ trợ
Nguyễn Đức Thắng - 20 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận nguồn
vốn tín dụng; tạo mặt bằng kinh doanh, tiếp cận thông tin thị trường và xúc
tiến thương mại, đặc biệt từ sau khi Luật doanh nghiệp được ban hành (năm
2000). Nhờ vậy, từ năm 2000-2003 đã có khoảng 75.000 doanh nghiệp tư
nhân được thành lập (gấp 1,66 làn thời kỳ 1990-1999), với số vốn đăng ký
khoảng 10 tỷ USD, lớn hơn 4 lần số vốn đăng ký của khu vực tư nhân thời
kỳ 1990-1999 và lớn hơn rất nhiều số vốn đầu tư nước ngoài cùng thời kỳ.
4. Một số hạn chế tồn tại của đầu tư FDI vào Việt Nam
Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ song về cơ bản Việt Nam

1. Nhu cầu phát triển ngành Thuỷ sản
Với bờ biển trải dài trên 3270 km và vùng biển rộng trên 1 triệu km2 có
4000 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều vịnh, vũng; khoảng 2850 con sông, ngòi và
có nhiều hồ tự nhiên lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên rất thuận lợi
cho việc phát triển Thuỷ sản cả trên hai lĩnh vực đánh bắt và nuôi trồng thuỷ
sản. Không phải bất cứ quốc gia nào cũng có được điều kiện tự nhiên thuận
lợi để phát triển Thuỷ sản như Việt Nam. Trung bình cứ 100 km2 diện tích
đất liền lại có 1km chiều dài bờ biển, đây là tỉ lệ rất cao trong số các quốc
gia và vùng lãnh thổ có bờ biển.
Chính vì có điều kiện thuận lợi nên việc phát triển Thuỷ sản của Việt
Nam dễ dàng hơn các nước khác. Bên cạnh đó Việt Nam có một lực lượng
nhân công lành nghề, hơn nữa trong nuôi trồng Thuỷ sản tuy công nghệ lạc
hậu, nhưng người nuôi trồng Thuỷ sản có đủ khả năng và kinh nghiệm để
nuôi trồng thuỷ sản, vốn kinh nghiệm sẵn có của người Việt Nam đã giúp
cho họ có được những kiến thức khá phông phú về nuôi trồng thuỷ sản. giúp
cho họ dễ dàng hơn trong công tắc nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Trong
những năm gần đây, công việc nuôi trồng và chế biến thủy sản đã phụ thuộc
Nguyễn Đức Thắng - 22 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
và rất nhiều công nghệ máy móc hiện đại. cũng đã khiến cho người nuôi
trồng Thuỷ sản gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ, nên dẫn
đến việc tiêu thụ sản phẩm của Việt Nam đã thua kém hơn so với một số
nước.
Khi xã hội ngày càng phát triển, con người càng có những nhu cầu cao
hơn. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của thế giới, ngành Thuỷ sản Việt
Nam cũng bắt đầu phát triển theo để đáp ứng nhu cầu phục vụ của người tiêu
dùng. Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng hàng năm của Thuỷ sản là
4,3%. Thị trường tiêu thụ ngày nay quan tâm nhiều hơn đến Thuỷ sản như
nguồn thực phẩm dinh dưỡng quan trọng không chỉ cung cấp 16% nhu cầu
prôtêin của con người mà còn đáp ứng các chất khoáng và axit Omega 3 cần

Bănglađét 7,9 5,9 13,8 14,0
Colômbia 30,3 1,5 31,9 1,6
Trung
Quốc
12,8 22,1 34,9 36,2
ấn Ðộ 3,4 2,0 5,5 8
Inđônêxia 19,3 4,1 23,4 23,6
Iran 5,1 1,3 6,5 5
Nhật Bản 36,1 6,7 42,8
Hàn Quốc 23,1 0,9 24,0 52,0
Mianma 27,0 5,1 32,1 26,2
Nêpan 0,7 0,6 1,3
Pakixtan 3,5 0,1 3,5 2
Philippin 24,7 5,2 29,9 36
Nguyễn Đức Thắng - 24 - Kế hoạch 46B
GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Sơn Chuyên đề thực tập
Xrilanca 13,9 0,5 14,4
Thái Lan 43,0 11,8 54,9 32-35
Việt Nam 19,9 11,2 31,2
Nguồn : Bộ Thuỷ sản
Mức tiêu thụ ở các nước đang phát triển có xu hướng tăng, nhưng có
thể là do dân số tăng hằng năm ở các nước này mà không hẳn là do nhu cầu
Thuỷ sản tăng.
Tiêu thụ bình quân theo đầu người ở các nước Cận Ðông và Bắc Phi có
xu hướng tăng như Angiêri tăng từ 3,0 kg/người năm 1993 lên 5,1 kg/người
năm 2003. Ai Cập tăng từ 5,5 kg/người năm 1982 lên 14,9 kg/người năm
2003.
Các nước châu Mỹ Latinh có mức tiêu thụ Thuỷ sản bình quân theo đầu
người hằng năm từ 2 đến 59 kg/năm, nhưng rất nhiều nước chỉ có mức tiêu
thụ khoảng 10 kg/người/năm. Nhiều nước ở khu vực châu Âu có mức tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status