Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Tiền thân là một xí nghiệp lắp máy ra đời vào những năm 60, chuyển lên mô
hình Tổng công ty theo quyết định số 999/BXD vào ngày 1/12/1995 đến nay Tổng
công ty Lắp máy đã có 14 công ty thành viên, hàng chục công ty liên kết. Vượt qua
muôn vàn khó khăn của một nền kinh tế sau chiến tranh Lilama đã đứng vững và
phát triển. Nay đứng trước những thay đổi lớn của đất nước Tổng công ty đã làm gì
để đứng vững và phát triển?
Vào sân chơi chung toàn cầu, Việt Nam phải tuân thủ theo những nguyên
tắc, luật lệ của sân chơi chung ấy. Thị trường cho các doanh nghiệp cũng mở ra
rộng hơn nhưng cũng có nghĩa là thử thách lớn hơn.
Đứng trước những thách thức về môi trường cạnh tranh, tiềm lực vốn và
công nghệ buộc Lilama phải hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài. Vấn đề thu hút đầu
tư nước ngoài là một vấn đề không còn mới mẻ đối với chúng ta. Luật đầu tư của
Việt Nam ra đời vào năm 1987 và đến nay Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành
công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng thu hút đầu tư nước ngoài vào
một doanh nghiệp nhà nước, một doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực mà
nhà nước đang độc quyền như lắp máy, điện, xi măng … là những vấn đề mới mẻ.
Do đó, bài viết trình bày về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Tổng
công ty Lắp máy Việt Nam từ đó rút ra những thành công cũng như những khó
khăn mà Tổng công ty gặp phải trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Qua đó, có
thể rút ra những kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển của Lilama nói riêng và các
Tổng công ty lớn của Việt Nam nói chung trong quá trình hội nhập.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phân tích tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Tổng công ty Lắp máy
Việt Nam nêu lên những thành công và khó khăn của Tổng công ty trong quá trình
thu hút đầu tư nước ngoài. Từ đó, đưa ra những giái pháp để Tổng công ty phát huy
những thành công đã đạt được cũng như khắc phục những hạn chế để có thể đứng
vững và phát triển trong quá trình hội nhập
Nhiệm vụ nghiên cứu
tư nước ngoài của Tổng công ty Lắp máy Việt Nam.
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
2
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ VÀ TẦM QUAN
TRỌNG CỦA VIỆC THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TỔNG
CÔNG TY LẮP MÁY VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về đầu tư quốc tế
1.1.1 Khái niệm và vai trò của đầu tư quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư quốc tế
Theo Luật đầu tư Việt Nam năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động
đầu tư - kinh doanh theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan của Việt Nam.
Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác
nhằm mục đích kiếm lời.
Tư bản di chuyển gọi là vốn đầu tư quốc tế. Vốn đó có thể thuộc một số tổ
chức tài chính quốc tế, có thể thuộc một nhà nước hoặc vốn đầu tư tư nhân.
Vốn đầu tư có thể đóng góp dưới các dạng sau :
- Các ngoại tệ mạnh và tiền nội địa.
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, nhà xưởng, hàng hoá, mặt đất, mặt
nước và tài nguyên thiên nhiên…
- Hàng hoá vô hình : sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát
minh, nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín hàng hoá …
- Các phương tiện đầu tư đặc biệt khác : cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc, đá quý…
Ngày nay, dòng vốn đầu tư quốc tế đang luân chuyển mạnh mẽ giữa các nước
theo xu hướng đa phương, đa chiều do những nguyên nhân sau :
- Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển, lực lượng sản xuất
làm cho chi phí sản xuất hàng hoá giữa các nước không giống nhau. Ngoài ra điều
kiện sản xuất giữa các nước không giống nhau, chênh lệch nhau về giá cả hàng hoá
sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý…Tìm kiếm sự đầu tư
diến ra sôi động không ngừng nghĩ. Bởi các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia có
sức mạnh to lớn, giữ vai trò chi phối một lĩnh vực thị trường liên quan đến nhiều
quốc gia. Do đó, các công ty này có khả năng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của một
quốc gia.
1.1.1.2 Vai trò của đầu tư quốc tế
Đầu tư nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp đều
có những vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của nước tiếp nhận.
Đối với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan
trọng đối với phát triển kinh tế. Những quốc gia này thường lâm vào tình trạng thiếu
vốn đầu tư. Khi nghiên cứu nền kinh tế của các nước kém và đang phát triển, Paul
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
4
Khoá luận tốt nghiệp
A.Samuelson ví hoạt động sản xuất và đầu tư của những nước này như là một vòng
đói nghèo luẩn quẩn
Đồ thị 1.1 Vòng luẩn quẩn
Nguồn: Paul A. Samuelson, Economics, McGraw-Hill
Đồ thị 1.1 cho thấy thu nhập dẫn đến tiết kiệm và đầu tư thấp, tiết kiệm và
đầu tư thấp sẽ cản trở đến quá trình phát triển của vốn và làm cho tích tụ vốn thấp,
không có đủ vốn cho đầu tư, không có đủ vốn cho đầu tư sẽ làm cho năng lực sản
xuất của quốc gia đó giảm, năng lực sản xuất giảm đẫn đến thu nhập và lại quay trở
lại chu kỳ ban đầu. Vòng luẩn quẩn đói nghèo cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ như trên.
Do vậy, để phá vỡ vòng luẩn quẩn, các nước nghèo và đang phát triển phải tạo ra
“một cú huých lớn” để phá vỡ vòng luẩn quẩn này. Một trong những khâu của vòng
luẩn quẩn đó là vốn dành cho đầu tư phát triển. Biện pháp hữu hiệu nhất có thể coi
là bước đột phá để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó là tăng vốn cho đầu tư, huy động các
nguồn lực để phát triển nền kinh tế để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập
tăng. Vốn đầu tư được huy động chủ yếu từ nguồn vốn trong nước và vốn nước
ngoài. Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước
dụng công nghệ và phần mềm công nghệ. Hiện nay, việc chuyển giao công nghệ từ
nước có công nghệ phát triển sang các nước tiếp nhận công nghệ được tiến hành
theo hai phương thức đó là chuyển giao trực tiếp và chuyển giao gián tiếp. Chuyển
giao trực tiếp là hoạt động đặt mua công nghệ hoặc yêu cầu nước có công nghệ
chuyển giao. Chuyển giao gián tiếp chủ yếu được thực hiện thông qua hình thức đầu
tư trực tiếp nước ngoài hoặc thông qua các hình thức gián tiếp khác. Do hoạt động
chuyển giao công nghệ ngày càng trở nên phức tạp nên đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã trở thành một kênh chuyển giao công nghệ có hiệu quả nhất, nhanh nhất và tiết
kiệm chi phí nhất. Bởi vì, công nghệ đã được các công ty đa quốc gia chuyển giao
trực tiếp phần cứng (máy móc, thiết bị) và phần mềm ( quy trình hoạt động của
công nghệ ) từ nước gốc đến nước tiếp nhận đầu tư. Sau khi chuyển giao, công nghệ
trực tiếp được được các chuyên gia kỹ thuật lành nghề của nước đi đầu tư đưa vào
hoạt động mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Chi phí mua và chuyển giao công
nghệ thấp hốn với hình thức mua công nghệ trực tiếp. Bời vì, công nghệ là một
trong những đối tượng được bảo hộ về quyền sỡ hữu trí tuệ nên việc sao chép công
nghệ hoặc một quy trình sản xuất nên việc sao chép công nghệ khó có thể thực hiện
được. Như vậy, một dây chuyền công nghệ hoặc một quy trình sản xuất nếu mua
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
6
Khoá luận tốt nghiệp
trực tiếp sẽ đắt hơn rất nhiều khi nó được chuyển giao giữa công ty mẹ sang công ty
con. Đây chính là ưu điểm lớn nhất về chuyển giao công nghệ trong hoạt động FDI
so với các hình thức chuyển giao công nghệ khác. Chuyển giao công nghệ thông
qua hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho khoảng cách công nghệ giữa
các nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp.
Hình thức chuyển giao công nghệ thông qua FDI được thực hiện thông qua:
chuyển giao bên trong và chuyển giao bên ngoài. Chuyển giao bên trong là hình
thức được chuyển giao chủ yếu nhất và được thực hiện giữa công ty mẹ (ở nước đi
đầu tư) vào chi nhánh công ty con (nước tiếp nhận đầu tư). Chuyển giao bên ngoài
được thực hiện giữa các công ty khác nhau như liên doanh với doanh nghiệp trong
mình, các tập đoàn lớn hay các công ty đã quốc gia luôn có chiến lược đào tạo lao
động tại chỗ để thay thế cho lao động nước ngoài. Đào tạo lao động của doanh
nghiệp FDI không chỉ dừng lại đối với những người trực tiếp sản xuất mà còn đào
tạo cả kỹ năng, trình độ cho các đối tượng làm công tác quản lý hay quản trị doanh
nghiệp. Phương thức đào tạo của các doanh nghiệp FDI rất đa dạng, có thể tiến
hành đào tạo trực tiếp người lao động thông qua các khoá học do các chuyên gia
của các công ty tiến hành hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước để
tiến hành đào tạo.
Các dự án đầu tư trực tiếp góp phần tạo môi trường cạnh tranh là động lực
kích thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất. Các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài với lợi thế về khoa học công nghệ hiện đại, quy mô vốn lớn
khi xâm nhập vào thị trường sẽ là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt
Nam. Do đó, để có thể đứng vững các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng
đổi mới trình độ khoa học công nghệ để có thể đứng vững trong môi trường cạnh
tranh gay gắt.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng
vốn trên thị trường vốn trong nước. Hơn nữa, khi vốn đầu tư gián tiếp gia tăng sẽ
làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp
trong nước. Nói cách khác, các nhà đầu tư trong nước sẽ “nhìn gương” các nhà đầu
tư gián tiếp nước ngoài và tăng động lực bỏ vốn đầu tư gián tiếp của mình, kết quả
tổng đầu tư gián tiếp xã hội sẽ tăng lên.
Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp và phát triển thị trường tài chính sẽ đặt
ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước
nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng.
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
8
Khoá luận tốt nghiệp
Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực
hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và
minh bạch hóa, cập nhật hóa thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh
Khoá luận tốt nghiệp
- Những tác động tích cực hỗ trợ nhà đầu tư đó là : Sự thân thiện của chính
quyền địa phương thông qua các thủ tục hành chính. Hệ thống dịch vụ công minh
bạch, hiệu quả và công bằng qua việc cấp giấy phép, thủ tục hải quan, thu thuế… có
hiệu quả và không tham nhũng. Những chính sách này tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình triển khai dự án của các nhà đầu tư nước ngoài.
Sự ổn định, nhất quán, bình đẳng của các chính sách quản lý đối với các dự án đầu
tư và nhà đầu tư nước ngoài.
Kế hoạch, qui hoạch các vùng, các ngành nghề, lĩnh vực địa bàn … của bên
tiếp nhận đầu tư để hoạch định chương trình, kế hoạch cho công ty khi đầu tư.
- Những rào cản đối với hoạt động của nhà đầu tư như mức thuế suất, chính
sách đầu tư thiếu nhất quán, hệ thống dịch vụ công kém hiệu quả, thủ tục hành
chính rườm rà, phức tạp…
Và để thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài cần sự nỗ lực rất lớn của
nhà đầu tư. Sự nỗ lực của nhà đầu tư thể hiện qua việc xây dựng thương hiệu của
công ty, xây dựng thương hiệu để tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Sự nỗ
lực của các nhà đầu tư còn bao gồm sự nỗ lực của Nhà nước tiếp nhận đầu tư. Sự nỗ
lực của Nhà nước thể hiện ở việc xây dựng kế hoạch đầu tư, quy hoạch đầu tư cụ
thể rỏ ràng. Các hoạt động xúc tiến đầu tư của Nhà nước để thu hút các nhà đầu tư
nước ngoài.
1.1.2.2 Các nhân tố bên ngoài
Bao gồm những quy định quốc tế liên quan đến đầu tư nước ngoài. Nói cách
khác là những tác động bên ngoài đối với hoạt động của nhà đầu tư bao gồm:
- Môi trường thương mại- kinh tế quốc tế
Quan hệ giữa hai nước chủ nhà càng thân thiện, càng kích thích các nhà đầu
tư chuyển vốn đầu tư sang nhau và ngược lại. Ví dụ Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
có hiệu lực từ năm 2001 không những làm tăng cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ của
doanh nghiệp Việt Nam, mà còn là cơ hội để Việt Nam gia tăng thu hút nguồn vốn
FDI. Theo những báo cáo về tác động của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ đối với
nền kinh tế Việt Nam của Bộ kế hoạch và đầu tư vào cuối tháng 5/2005:
tố khác trên thị trường như dòng chảy vốn đầu tư, chính sách vĩ mô của Nhà nước,
các thành viên trên thị trường ngoại hối
- Những quy định của WTO liên quan đến đầu tư nước ngoài
Các quy định của WTO về đầu tư nước ngoài gồm các nội dung sau :
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
11
Khoá luận tốt nghiệp
Thứ nhất: Nguyên tắc không phân biệt đối xử : trong Quy chế tối huệ quốc có
ghi rõ về nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
+ Không phân biệt đối xử quốc gia qui định : hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu từ
nước ngoài được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá, dịch vụ cùng
loại được sản xuất trong nước. Nguyên tắc này nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử
giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
+ Không phân biệt đối xử quốc tế quy định: nước nhận đầu tư sẽ giành ưu
đãi cho nhà đầu tư của một nước khác không kém thuận lợi hơn những ưu đãi đã
giành cho các nhà đầu tư ở nước thứ ba khác khi họ đầu tư trên lãnh thổ của quốc
gia mình. Nguyên tắc này nhằm chống phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư hoạt động
trên cùng một lãnh thổ, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các nhà đầu tư.
Thứ hai: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
(TRIMs- Trade Related Investment Measures). TRIMs quy định các nước không
được sử dụng 5 loại biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại về đối xử quốc gia
và các quy định cấm sử dụng định lượng.
Trong thực tế, nhiều nước đang phát triển thường sử dụng những biện pháp
này để bảo hộ sản xuất trong nước. Chẳng hạn, các biện pháp hạn chế định lượng
như yêu cầu về hàm lượng nội địa, yêu cầu về cân đối thương mại, hạn chế nhập
khẩu, hạn chế khả năng tiếp cận ngoại hối, hạn chế nhập khẩu.
Tuân thủ TRIMs có nghĩa là các nước phải xoá bỏ những biện pháp hạn chế
định lượng trên đây, điều đó có thể đặt các doanh nghiệp trong nước đứng trước sự
cạnh tranh gay gắt, nhưng lại là một trong những giải pháp làm tăng tính hấp dẫn
của môi trường đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh hơn.
sách của mình bằng cách thông báo cho các bên liên quan biết những quy định hoặc
những thay đổi đối với chính sách thương mại và đầu tư.
Một nước khi tham gia WTO, phải tuân thủ các quy định của WTO về đầu
tư. Với các quy tắc này tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư
nước ngoài.
1.1.3 Các loại hình đầu tư quốc tế
1.1.3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước
ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ
trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.
- Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài :
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
13
Khoá luận tốt nghiệp
+ Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuỳ theo
quy định của Luật đầu tư từng nước. Theo quy đinh của Luật đầu tư Việt Nam “số
vốn đóng góp tối thiểu của phía nhà đầu tư nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp
định của dự án”.
+ Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp
100% vốn thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành.
+ Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả
hoạt động kinh doanh của xí nghiệp. Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong
vốn pháp định sau khi đã nộp thuế và lợi tức cho nước chủ nhà.
- Các hình thức đầu tư trực tiếp tại Việt Nam
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên
quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu
tư kinh doanh ở Việt Nam mà không hình thành pháp nhân.
Cơ sở pháp lý quan trọng của sự hợp tác trên cở sở hợp đồng là hợp đồng
hợp tác kinh doanh. Đây là văn bản được ký kết giữa bên nước sở tại và bên nước
vi vốn của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp liên doanh
không được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp liên doanh phát sinh kể từ ngày được
cấp giấy phép đầu tư. Tính pháp nhân của doanh nghiệp liên doanh là đặc điểm để
phân biệt hình thức đầu tư này với hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng. Là pháp nhân, doanh nghiệp liên doanh là chủ thể pháp lý độc lập, có tài sản
riêng tách bạch với tài sản của các bên sáng lập và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản triêng đó. Doanh nghiệp liên doanh hoạt động nhân danh mình và không
phải là chi nhánh của các bên liên doanh.
Ở đây, trách nhiệm vô hạn được hiểu là tính vô hạn của nghĩa vụ trả nợ còn
trách nhiệm hữu hạn là tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp.
Theo lý thuết chung và thông lệ quốc tế, một doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm
hữu hạn chỉ có khả năng trả nợ đến mức giá trị vốn tài sản của nó. Chế độ trách
nhiệm vô hạn hay hữu hạn chỉ được đưa ra áp dụng kho doanh nghiệp đó bị tuyên
bố phá sản và toàn bộ tài sản của nó được đưa ra phát mại để thanh toán các khoản
nợ. Lúc này, khi doanh nghiệp thuộc loại trách nhiệm vô hạn sẽ có số tài sản để trả
nợ doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp mà
không đưa vào kinh doanh. Trong trường hợp này, nếu toàn bọ tài sản phá sản đó
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
15
Khoá luận tốt nghiệp
không đảm bảo để thanh toán hết các khoản nợ thì chủ doanh nghiệp phải tiếp tục
thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Đây chính là tính vô hạn của nghĩa vụ trả nợ. Trong khi
đó, doanh nghiệp có quy chế trách nhiệm hữu hạn khi bị tuyên bố phá sản, chỉ trả
nợ đến mức giá trị toàn bộ tài sản thuộc sỡ hữu của nó vào thời điểm đó. Vì ở
những doanh nghiệp có sự tách bạch về tài sản giữa nó và chủ sỡ hữu của nó và
chúng đều được thừa nhận là pháp nhân. Nói cách khác, tất cả các phấp nhân đều
hưởng quy chế trách nhiệm hữu hạn.
- Vốn pháp định của liên doanh ít nhất bằng 30% vốn đầu tư, đối với những
dự án đầu tư vào hạ tầng cơ sở, trồng rừng, đầu tư vào các vùng kinh tế khó khăn có
Đây là doanh nghiệp thuộc phần sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lập
tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh
doanh của mình.
Đặc điểm của hình thức đầu tư doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài:
- Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn,
mang tư cách pháp nhân Việt Nam.
- Vốn pháp định của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư, trừ
trường hợp đầu tư vào những vùng kinh tế khó khăn tỷ lệ này có thể thấp đến 20%
vốn pháp định.
- Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định, tăng vốn pháp
định phải xin phép.
So với các nước trong khu vực, Việt Nam là nước duy nhất cho phép đầu tư
theo hình thức 100% vốn nước ngoài ngay từ khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài
lần đầu tiên. Trong những năm gần đây, hình thức này có xu hướng gia tăng mạnh
một mặt là do Việt Nam chủ trương cho phép nhà đầu tư nước ngoài chủ động lực
chọn hình thức, địa điểm, đối tác đầu tư (trừ những lĩnh vực đầu tư có điều kiện),
cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được hưởng những ưu đãi như đối với doanh
nghiệp liên doanh, mặt khác còn do thời gian qua chúng ta đã phát triển mạnh các
khu công nghiệp mà ở đó hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài ( chiếm 85% số dự án được cấp phép trong các khu công
nghiệp).
+Hình thức doanh nghiệp cổ phần
Nghị định 38/2003 của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 15/4/2003 về
việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động
công ty cổ phần. Trong Nghị định này nêu rõ : “Doanh nghiệp cổ phần là doanh
nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là “cổ phần” trong
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
17
Khoá luận tốt nghiệp
đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30% vốn điều lệ, được tổ chức
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
18
Khoá luận tốt nghiệp
tư cho 6 dự án BOT với tổng số vốn đầu tư đạt 1,37 tỷ USD, chiếm 2,8% tổng số
vốn đăng ký có hiệu lực. Sự chưa thành công này là do các dự án BOT thường gặp
rủi ro cao do vốn đầu tư ban đầu lớn và bằng ngoại tệ, thời gian thu hồi vốn diễn ra
lâu và bằng nội tệ nên dễ gặp các rủi ro về tài chính cho các nhà đầu tư. Mặt khác,
do đa số các dự án BOT có phạm vi áp dụng không rộng, điều kiện phức tạp nên
thường mất thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm
phán, ký kết hợp đồng BOT, thu xếp phương án tài chính, các thoả thuận về việc
chuyển đổi ngoại tệ, giải phóng mặt bằng. Trong khi, đây là phương thức đầu tư
mới, kinh nghiệm đầu tư của ta chưa nhiều. Khó khăn lớn nhất là việc đàm phán
thoả thuận về giá đầu vào và đầu ra của các dự án trong khi bên cung cấp và bên
mua đều muốn duy trì giá độc quyền của mình. Vì vậy, trong nhiều trường hợp các
dự án này không đáp ứng được yêu cầu về tiến độ, một số dự án do thời gian đàm
phán kéo dài nên không còn ý nghĩa thời sự nữa.
Hình thức xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO) : Là văn bản ký kết
giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài
chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho
nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi
vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
Hình thức xây dựng- chuyển giao (BT) : là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công
trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao
công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
Các hình thức BOT, BTO, BT đều có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam : xây dựng đường, cầu, cảng, sân
bay, các công trình điện nước…
và xuất khẩu.
Hình thức phát triển khu công nghiệp
Theo Nghị định 92/CP của Chính phủ ban hành ngày 28/12/1994, khu công
nghiệp tại Việt Nam được định nghĩa như sau: là khu do Chính phủ quyết định
thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống.
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
20
Khoá luận tốt nghiệp
Như vậy, Khu công nghiệp có diện tích lớn hơn khu chế xuất vì nó bao hàm
cả các xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu và các nhà máy xí nghiệp sản xuất công
nghiệp. Khu công nghiệp không cần có tường rào ngăn cách với địa phận nước sở
tại, chỉ có ranh giới được xác định có thể có dân cư sống ở xung quanh và sản phẩm
sản xuất vừa để xuất khẩu, đồng thời bán cả trong nội địa và không được miễn thuế
xuất nhập khẩu.
Các xí nghiệp ở khu công nghiệp có những ưu thế hơn khu chế xuất ở chỗ
sản phẩm sản xuất ở khu công nghiệp được bán vào thị trường nội địa không cần
qua thủ tục nhập khẩu. Mô hình khu công nghiệp tập trung thích hợp hơn với trào
lưu phát triển kinh tế chung hiện nay trên thê giới hơn là khu chế xuất biệt lập.
Đặc điểm khu công nghiệp :
+ Đây là khu vực được quy hoạch riêng thu hút các nhà đầu tư trong và
ngoài nước vào hoạt động để sản xuất chế biến hàng công nghiệp
+ Hàng hoá của khu công nghiệp không những phục vụ cho xuất khẩu mà
còn phục vụ cho các nhu cầu của nội địa.
+ Hàng hoá nhập khẩu vào khu công nghiệp và từ đây xuất khẩu ra nước
ngoài phải nộp thuế xuất nhập khẩu theo luật hiện hành.
1.1.3.2 Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ tư bản chuyển vốn vào một quốc gia
khác để mua cổ phần hoặc chứng khoán trên thị trường tài chính nhằm thu lợi thông
qua cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán.
hạn. Khoản tiền xác định này gồm khối lượng vốn đã vay cộng với tiền lãi trong
một thời hạn nhất định.
2.Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người đi đầu tư để
đầu tư vào các chứng khoán. Việc huy động vốn vào quỹ đầu tư được hình thành
theo hai cách :
Cách thứ nhất, một công ty được thành lập theo quy định của pháp luật hiện
hành sẽ phát hành các cổ phần ra công chúng. Khi mua cổ phần, người đầu tư trở
thành cổ đông của quỹ và có đầy đủ các quyền do pháp luật quy định. Bản thân quỹ
là một công ty, có tư cách pháp nhân, có hội đồng quản trị quỹ là cơ quan điều hành
cao nhất. Hội đồng quản trị sẽ thuê người quản lý quỹ, giám sát công việc quản lý
sao cho đạt được các mục tiêu của quỹ. Quỹ này được gọi là quỹ đầu tư dạng công
ty.
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
22
Khoá luận tốt nghiệp
Cách thứ hai, một công ty quản lý quỹ sẽ huy động vốn bằng cách lấy tổng
lượng vốn dự kiến huy động chia nhỏ thành các phần bằng nhau, mỗi phần tương
ứng với một chứng chỉ quỹ và công ty sẽ bán các chứng chỉ ra công chúng như là
những đơn vị đầu tư. Trong mô hình này, người mua chứng chỉ không được tham
gia vào quá trình ra quyết định của quỹ mà sẽ uỷ thác việc quản lý quỹ cho công ty,
quỹ chỉ đơn thuần là một khoản tiền, không có tư cách pháp nhân. Công ty quản lý
quỹ sẽ đảm nhận cả hai khâu huy động vốn và đầu tư vốn vào các chứng khoán.
Hai mô hình trên có đặc điểm là :
- Người đầu tư không trực tiếp đầu tư vào chứng khoán mà chỉ đầu tư vào
quỹ bằng cách mua cổ phần hay chứng chỉ. Việc đầu tư vào chứng khoán do một tổ
chức khác được thuê hay được uỷ thác tiến hành, vì thế, tính chuyên nghiệp của
hoạt động đầu tư cao hơn nhiều so với việc một cá nhân trung bình tự ra quyết định
đầu tư.
- Người đầu tư sẽ được hưởng lợi từ kết quả đầu tư của quỹ, theo số lượng cổ
nghiệp tiếp nhận vốn có thể hoàn toàn chủ động quản lý vốn kinh doanh theo ý
mình một cách tập trung. Mở rộng khả năng thu hút vốn từ các chủ đầu tư có số vốn
nhỏ từ mọi nguồn của thế giới. Do loại hình đầu tư này mọi người đều có thể tham
gia thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu với trị giá nhỏ phù hợp với khả năng tài
chính của các nhà đầu tư. Các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu phải
minh bạch hoá hoạch động sản xuất kinh doanh của mình do đó giúp các doanh
nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Tuy nhiên bên cạnh những lợi thế đó, đầu tư gián tiếp đem lại không ít bất
lợi cho các doanh nghiệp tiếp nhận vốn đầu tư như:
Thứ nhất, làm tăng mức độ nhạy cảm và bất ổn về kinh tế có nhân tố nước
ngoài. Khác với FDI là nguồn vốn đầu tư lâu dài chủ yếu dưới dạng vật chất (công
đoàn nhà máy, mua sắm thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất), khó
chuyển đối hoặc thanh khoản, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được thực hiện dưới
dạng đầu tư tài chính thuần tuý với các chứng khoán có thể chuyển đổi và mang
tính thanh khoản cao trên TTTC, nên các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài dễ dàng
và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn đầu tư của mình
về nước, hay chuyển sang đầu tư dưới dạng khác, ở địa phương khác tuỳ theo kế
hoạch và mục tiêu kinh doanh của mình. Đặc trưng nổi bật này cũng chính là
nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo và khuếch đại độ nhạy cảm và chấn
động kinh tế ngoại nhập của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nền kinh
tế của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián
Trương Thị Hà Phương Lớp: Kinh tế quốc tế K46
24
Khoá luận tốt nghiệp
tiếp nói trên diễn ra theo kiểu "tháo chạy" đồng loạt trên phạm vị rộng và số lượng
Cần nhấn mạnh rằng, sự nhạy cảm và bất ổn kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên
nhân bên trong, cũng có thể hoàn toàn do các nguyên nhân bên ngoài nước tiếp
nhận đầu tư do phản ứng dây chuyền, làn sóng đô-mi-nô của các nhà đầu tư quốc tế
như đã từng diễn ra trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á những năm
cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Trong tình huống như vậy, một sự đổ vỡ, một