LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
VN đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày
7-11-2006 .Cùng với xu hướng toàn cầu hoá kinh tế việt Nam cần phải tự tìm
hướng đi cho mình để không bị tụt hậu.Để thoát khỏi tình trạng nước kém
phát triển vào trước năm 2010 và cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại hoá vào năm 2020 thì tăng trưởng kinh tế phải đạt tốc độ cao,
liên tục và trong thời gian dài.Mục tiêu đó đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu
tư khổng lồ, lên tới 40% GDP.Trong giai đoạn 2006-2010 cần khoảng 140tỷ
USD để xây dựng từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã
hội.Đây là nền tảng xây dựng một nước công nghiệp.
Tích luỹ trong nước để đầu tư mới đạt dưới 30% thì vốn đầu tư nước ngoài
là một nguồn vốn quan trọng cần thu hút mạnh mẽ.Có nhiều kênh huy động
vốn đầu tư nước ngoài như FDI, ODA…nhưng lượng vốn đó vẫn chưa
đủ.Hơn thế các nguồn vốn này hay kèm theo điều kịên làm cho quá trình sử
dụng vốn phụ thuộc.Có nguồn vốn Việt Nam vẫn chưa khai thác hết như đầu
tư gián tiếp FII.Hiện nay đầu tư gián tiếp vào Việt nam khoảng 2-3% trong
khi đó ở các nước đang phát triển khác trong khu vực 10-40%.Lượng vốn đó
chưa xứng với khả năng và tiềm lực của nền kinh tế nước ta.Vì vậy chúng ta
cần có biện pháp thu hút nguồn vốn quan trọng này.FII là nguồn vốn bổ sung
cho FDI, cả 2 nguồn vốn này đều góp phần phát triển kinh tế.
Với chủ đề “Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư gián tiếp cho quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam ”, đề tài đã đánh giá vai trò của
nguồn vốn này, đưa ra một số biện pháp tăng thu hút thêm nguồn vốn này
nhằm đáp ứng đủ vốn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần giải thích rõ hơn về nguồn vốn đầu tư gián tiếp và vai trò
của nguồn vốn này hiện nay.
-Nắm rõ tình hình của nguồn vốn này để đưa ra giải pháp thu hút và
quản lí nguồn vốn này tránh các rủi ro.Đồng thời sử dụng hiệu quả cho quá
phát triển để thúc đẩy các nước này phát triển.
Việt Nam quan tâm thu hút được một lượng lớn vốn FDI và ODA mà
chưa quan tâm đến thu hút FII.Đây lại là một kênh huy động vốn cực kì
nhanh, hiệu quả với lượng vốn khổng lồ.
FII(foreign indirect investment) là các khoản vốn đầu tư nước ngoài
thực hiện qua định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực
tiếp vào cổ phần, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán(còn gọi
là đầu tư Porfolio) (công ty mà người Việt Nam làm chủ)
Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan
tâm đến quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi
tức(với một mức rủi ro nhất định)hoặc sự an toàn của những chứng khoán mà
họ đầu tư vào(với một mức lợi tức nhất định)
FII thường được thực hiện dưới hai hình thức
• Các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu hoặc các công cụ cổ phần
khác do các công ty hoặc các thể chế tài chính của các nước đang
phát triển phát hành trên thị trường nội địa
• Các nhà đầu tư nước ngoài mua trái phiếu hoặc các công cụ nợ khác
do chính phủ hoặc các công ty của các nước đang phát triển phát hành
trên thị trường nội địa(bằng đồng tiền nội địa)hoặc trên thị trường
quốc tế(bằng các đồng tiền quốc tế chủ chốt như đôla Mỹ, euro,
yên…)
Trong đó các nhà đầu tư nước ngoài có thể là các nhà đầu tư cá thể
hoặc các nhà đầu tư thể chế như các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí, các
quỹ tự bảo hiểm rủi ro, các quỹ tương hỗ…
1.1.2.Những đặc trưng cơ bản của FII
1.1.2.1.Tính thanh khoản cao
Do chỉ quan tâm đến lợi tức(với một mức rủi ro nhất định) hoặc mức độ
an toàn của chứng khoán chứ không quan tâm đến việc quản lý quá trình sản
xuất và kinh doanh thực tế nên FII có tính thanh khoản cao. Nói cách khác,
nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể dễ dàng bán lại những chứng khoán cổ
quyền chọn…
1.1.3.So sánh FII và FDI
1.1.3.1 Những điểm khác biệt
• Về mục đích và dự tính đầu tư: trong khi FDI được thực hiện với mục
đích kiểm soát, quản lý quá trình sản xuất vàkinh doanh thực tế và kỳ vọng
của các nhà đầu tư trực tiếp là thu được lợi nhuận trong trung và dài hạn, thì
FII được thực hiện không nhằm mục đích kiểm soát quá trình sản xuất và kinh
doanh thực tế, nhà đầu tư gián tiếp chỉ quan tâm tới việc đầu tư vào những
nơI có thể đưa lại cho họ tỷ suất lợi tức cao nhất với một mức rủi ro nhất định
hoặc một mức tỷ suất lợi tức nhất định với một mức rủi ro thấp nhất
• Về hình thức và thời hạn đầu tư: Do được đầu tư nhằm kiểm soát và
quản lý quá trình sản xuất và kinh doanh thực tế nên FDI mang tính dài hạn,
ổn định và khó bị đảo ngược. Trong khi đó, do chỉ quan tâm đến tỷ suất lợi
tức hoặc độ an toàn của chứng khoán nên FII mang tính ngắn hạn, bất ổn định
và dễ bị đảo ngược
• Về yêu cầu đặt ra đối với nước nhận đầu tư: FDI đặt ra nhiều yêu cầu
đối với chế độ đầu tư của khu vực kinh tế thực, trong khi đó FII đặt ra nhiêù
yêu cầu hơn đối với sự phát triển và quản lý đối với thị trường tài chính như
hệ thống kiểm toán, kế toán và tính minh bạch của thị trường
• Về lợi ích và những rủi ro tiềm tàng mà những hình thức đầu tư này
đem lại: Trong khi những lợi ích tiềm tàng mà FDI mang đến cho nên kinh tế
của các nước tiếp nhận chủ yếu tập chung ở việc phát triển kinh tế thực thì
những lợi ích tiềm tàng của FII lại chủ yếu tập chung ở việc thúc đẩy sự phát
triển của thị trường tài chính. Hơn thế nữa, khác với FDI, không phải bất kỳ
hình thức FII nào cũng đưa lại nguồn vốn mới hay tạo ra những đầu tư mới.
Việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu mới sẽ đưa lại nguồn vốn nhưng việc
mua cổ phiếu và trái phiếu bởi các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường thứ
cấp không nhất thiết thúc đẩy đầu tư hay làm tăng dòng vốn nước ngoài vào
trong nước, thậm chí còn làm giảm tiết kiệm nội địa
1.1.3.2Những điểm tương đồng và liên kết
triển
1.2.1 Những tác động tích cực
2.1.1 FII góp phần làm tăng vốn trên thị trường vốn nội địa và làm giảm
chi phí vốn thông qua việc đa dạng hoá rủi ro: nếu vốn FII được sử dụng để
tài trợ cho các hoạt động đầu tư mới thì đây sẽ là nguồn vốn bổ sung quan
trọng cho nguồn vốn nội địa mà các nước đang phát triển đang có nhu cầu
mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng và đang phát triển kinh tế. Ngoài ra, FII
còn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội chia sẻ rủi ro của mình với
các nhà đầu tư nội địa.FII sẽ khiến cho thị trường vốn nội địa trở nên có tính
thanh khoản cao hơn và theo đó là việc đa dạng hoá rủi ro sẽ trở nên dễ dàng
hơn, vỡi kết quả là nguồn vốn sẽ dồi dào hơn và các chi phí vốn đối với các
công ty sẽ giảm
1.2.1.2 FII thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội đia: vốn FII
thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa thông qua các kênh khác
nhau
• Cùng với sự xuất hiện của đầu tư gián tiếp nước ngoài, thị trường tài
chính nội địa sẽ hoạt động có hiệu quả hơn do có tính thanh khoản cao
hơn.Khi thị trường có tính thanh khoản cao hơn, rộng hơn thì một loạt các dự
án đầu tư khác sẽ được tài trợ. Chẳng hạn, những công ty mới sẽ có cơ hội
lớn hơn trong việc thu hút được nguồn vốn tài trợ ban đầu. Người tiết kiệm sẽ
có nhiều cơ hội đầu tư hơn với niềm tin rằng họ có thể quản lý được danh
mục đầu tư của họ hoặc có thể bán chứng khoán đi rất nhanh mỗi khi họ cần
đến nguồn tiết kiệm của mình. Bằng cách đó, những thị trường cố tính thanh
khoản cao sẽ khiến cho đầu tư dài hạn trở nên có sức thu hút hơn
• FII còn thúc đẩy sự phát triển của các thị trường cổ phiếu cũng như
quyền biểu quyết của các cổ đông trong quá trình điều hành công ty. Một khi
các công ty cạnh tranh nhau về nguồn vốn tài trợ, thị trường sẽ ban thưởng
cho những công ty có hiệu quả tốt hơn, có triển vọng tốt hơn về hiệu quả và
có trình độ điều hành công ty tốt hơn. Một khi tính thanh khoản cũng như
hoạt động của thị trường được cảI tiến, cổ phiếu sẽ ngày càng phản ánh giá
hiệu ứng bất lợi như sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.Kết quả là người
tiêu dùng sẽ có được các dịch vụ tài chính với chất lượng cao hơn và chi phí
thấp hơn
1.2.1.3 FII thúc đẩy cảI cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các
chính sách của chính phủ: tính bất ổn định và dễ bị đảo ngược của vốn FII sẽ
buộc các chính phủ phải thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh
nhằm giảm thâm hụt ngân sách, giảm lạm phát, giảm sự mất cân đối bên
ngoài…cũng như các chính sách kinh tế thân thiện với thị trường nói chung
và các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng
Như vậy, thông qua các kênh khác nhau, đầu tư gián tiếp nước ngoài
có thể bổ sung thêm nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như thúc đẩy việc củng
cố và cảI thiện hoạt động của các thị trường vốn nội địa. Điều này sẽ khiến
cho vốn và các nguồn lực trong nền kinh tế được phân bổ tốt hơn; tạo cơ hội
đa dạng hoá danh mục đầu tư, cảI thiện khả năng quản lý rủi ro, thúc đẩy sự
gia tăng của tiết kiệm và đầu tư với kết quả là nền kinh tế sẽ trở nên vững
mạnh hơn và tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy
1. 2.2 Những tác động tiêu cực
2.2.1 Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn FII sẽ khiến cho nền kinh tế
dễ rơi vào tình trạng phát triển quá nóng(kinh tế bong bóng) với những đặc
trưng cơ bản là tỷ giá hối đoáI danh nghĩa hoặc lạm phát gia tăng. Lãi suất
giảm do co sự gia tăng của mức cung tiền sẽ khiến cho nhu cầu nội địa gia
tăng và đồng tiền lên giá lên giá thực tế. Đến lượt mình, sự lên giá thực tế
của đồng tiền nội địa sẽ thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá
phi thương mại và hạn chế sự phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá
thương mại. Hậu quả là cán cân tài khoản vãng lai sẽ bị xấu đi do khả năng
cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước giảm, nợ nước ngoài sẽ gia
tăng. Nói cách khác, nền kinh tế sẽ bị rơi vào tình trạng phát triển quá nóng,
dễ bị tổn thương và sẽ rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải các cú sốc bên
trong cũng như bên ngoài, hoặc khi dòng vốn đảo ngược mạnh
Có một điểm đáng lưu ý là những tác động kể trên của vốn FII đối với
ương của các nứơc chỉ có thể thực hiện được một trong hai mục tiêu còn lại:
sự độc lập của chính sách tiền tệ hay sự độc lập của chính sách tỷ giá hối
đoái. Trong điều kiện tự do di chuyển của vốn, nếu ngân hàng trung ương
muốn duy trì chính sách tiền tệ độc lập thì họ buộc phải thả nổi tỷ giá và
ngược lại, nếu họ muốn cố định tỷ giá thì buộc phải từ bỏ chính sách tiền tệ
độc lập. Việc không tuân thủ nguyên tắc này sẽ khiến cho các chính sách kinh
tế vĩ mô trở nên trái ngược nhau và đưa đến những hậu quả tiêu cực cho nền
kinh tế
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FII
1. 3.1 Những nhân tố mang tính quốc gia\
• Các nền tảng kinh tế cơ bản:hệ thống tài chính - ngân hàng mạnh,
hoạt động hiệu quả;công nghiệp dịch vụ phát triển;có lượng tích luỹ cao và có
tỉ lệ dự trữ ngoại tệ lớn.Sự biến động bên ngoài không tác động nhiều tới nền
kinh tế.
• Tăng trưởng kinh tế tiềm năng:nguồn vốn FII có xu hướng đầu tư
tăng vào các nước đang phát triển nhiều hơn do các nước phát triển đã khai
thác gần hết khả năng của mình , tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, làm cho nhà
đầu tư thu được ít lợi nhuận hơn.Các nước đang phát triển cần vốn cho phát
triển kinh tế, có tốc độ tăng trưởng cao, lợi nhuận thu được lớn cho nên dòng
vốn đổ vào nhiều.
• Sự ổn định chính trị:Một quốc gia có chính trị ổn định luôn thu hút
nhà đầu tư hơn là một quốc gia có chính trị bất ổn. Quốc gia có chính trị ổn
định đảm bảo cho nhà đầu tư thu được cả gốc và Lãi, còn bất ổn đầu tư không
an tâm, dễ gặp rủi ro.
• Sự điều tiết thị trường: Thị trường tự điều tiết là chính.Các nhà đầu tư
lớn thích thị trường tự điều tiết do đó họ có thể đầu cơ làm khuynh đảo thị
trường.Song chính phủ các quốc gia tiếp nhận đầu tư hay đầu tư không bao
giờ chấp nhận điều này.Họ phải can thiệp để đảm bảo cho nền kinh tế tăng
trưởng ổn định, cải thiện đời sống nhân dân nước đó.
• Lãi suất nội địa:Lãi suất nội địa của các nước đang phát triển thường
ro cho nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.
• Tỷ số giá cả/thu nhập(P/E):đây là một trong những tỉ số đánh giá
được mức cổ tức tiềm năng cũng như rủi ro mà nhà đầu tư nhận được..
• Mức vốn hoá thị trường:Mức vốn hoá thị trường cao thì tốt hơn, sẽ
hấp dẫn nhà đầu tư lớn.Còn nhỏ thì chỉ hấp dẫn ngắn hạn, nhỏ lẻ.
• Mức độ công khai của các công ty trong các báo cáo hàng năm:Một
nhà đầu tư chiến lược, lâu dài và khôn ngoan không bao giờ đầu tư vào những
nơi không có tính minh bạch công khai các thông tin cao.Họ bỏ ra một lượng
vốn lớn để đầu tư dài hạn thu được lợi nhuận lớn lâu dài chứ không phải là
ngắn hạn, cỏn con.Do đó các quốc gia muốn phát triển thị trường vốn cần
phải minh bạch hơn các báo cáo tài chính của công ty mình.
• Sự phong phú của các công cụ thị trường:Công cụ thị trường càng
phong phú càng nhiều nhà đầu tư ở nhiều quốc gia.Nói chung họ có nhiều sự
lựa chọn hơn.
• Hệ thống thanh khoản giao dịch:nhanh và tiện là điều mà nhà đầu tư
mong muốn.
• Chi phí giao dịch:thấp làm cho lợi nhuận mà nhà đầu tư có cao.
• Chính sách cổ tức của các công ty:Vấn đề mà bất cứ nhà đầu tư nào
cũng quan tâm.Các công ty có chính sách cổ tức rõ ràng, ưu đãi thu hút nhà
đầu tư hơn.
1.4. Vai trò của nguồn vốn FII đối với quá trình công nghiệp hoá -hiện
đại hoá.
Như chúng ta đã biết Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện
đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện
đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Do sự biến đổi của nền kinh tế thế giới cùng với xu hướng toàn cầu hoá
nền kinh tế với điều kiện kinh tế đất nước, công nghiệp hoá ở nước ta phải
+Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu
hoá kinh tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”.
-Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Xã
hội chủ nghĩa chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở lựclượng sản xuất phát
triển phù hợp với quan hệ sản xuất.Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ
cao hiện nay là phải sở hữu được thành tựu của khoa học kĩ thuật tiên tiến.Do
đó chúng ta cần tranh thủ áp dụng thành tựu khoa học của thế giới.
1.4.2. Những nội dung cụ thể của công nghiệp hóa-hiện đại hoá nước ta
trong những năm trước mắt.
a) Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở khu vực nông
thôn:Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư và khai thác sử dụng hiệu quả tiềm
năng của các ngành này nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho xã hội;tạo
nguồn nguyên liệu lớn, chất lượng cao cho công nghiệp chế biến, xuất
khẩu…..Để thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn cần chú trọng
đến các vấn đề thuỷ lợi hoá, áp dụng công nghệ tiến bộ nhất là công nghệ sinh
học, cơ giới hoá, điện khí hoá….
b) Phát triển công nghiệp: Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp là các
ngành chế biến lương thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin.Xây dựng có chọn lọc một
số khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu bức bách của thị trường.
c)Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ
tầng vật chất của nền kinh tế:trong cơ chế thị trường , kết cấu hạ tầng có vai
trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển sản xuất, kinh doanh và dân
cư.Nền kinh tế nước ta còn nghềo cho nên đa số là cảI tạo, nâng cấp và xây
mới ở những vùng có trọng điểm.Để thu hút đầu tư cần tập trung phát triển
kết cấu hạ tầng ở tất cả các vùng, miền của đất nước.
d)Phát triển nhanh du lịch, các ngành dịch vụ:phát triển các ngành du lịch
nhằm khai thác tiềm năng của đất nước, tăng thu nhập, tạo việc làm cho dân
cư…Phát triển các ngành dịch vụ như hàng hải, bưu chính, tài chính ngân
hàng kiểm toán…đáp nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.Phát triển những
dựng và phát triển thị trường vốn là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng.Thị
trường vốn đó chính là thị trường chứng khoán để thu hút nguồn vốn đầu tư
gián tiếp FII.Nhờ có thị trường vốn, người sở hữu vốn nếu nhượng quyền sử
dụng vốn sẽ có thêm thu nhập.Đồng thời khi có thị trường vốn , đồng vốn sẽ
dễ dàng dịch chuyển từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao.Do đó, để
đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá, xây dựng thị trường vốn
ở nước ta là vô cùng cần thiết.
Qui mô huy động và sử dụng vốn nước ngoài còn phụ thuộc vào môi trường
vĩ mô.Môi trường vĩ mô càng thuận lợi thì qui mô huy động và hiệu quả sử
dụng ngày càng cao.Do đó tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho các hoạt động
đầu tư là giải pháp kinh tế quan trọng.Xây dựng môi trường vĩ mô thuận lợi
tức là giữ ổn định về chính trị, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, xây
dựng chính sách kinh tế phù hợp… Với điều kiện của Việt Nam hiện nay có
rất nhiều nhà đầu tư muốn vào Việt Nam đầu tư.Cần phải tận dụng lợi thế để
huy động vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.5 Kinh nghiệm thu hút và quản lí FII của một số nước
1.5.1Tình hình thu hút vốn FII của một số nước đang phát triển trong
thời kỳ vừa qua
Việc thu hút vốn FII của các nước đang phát triển trong khu vực châu á
đang dần phục hồi và tăng nhanh trong các năm gần đây.
Trong năm 2003, dòng vốn cổ phần gián tiếp ròng chảy vào các nước
đang phát triển đã tăng mạnh và đạt mức khoảng 14, 3 tỷ đôla Mỹ, tăng 9.4 tỷ
đôla mỹ so với năm 2002. Trong đó đáng lưu ý là sự tăng lên mạnh mẽ của
dòng vốn vào ấn Độ(và ở quy mô thấp hơn là Trung Quốc).Sự phục hồi của
các nền kinh tếs mới nổi cùng với việc lãi suất thấp trên toàn thế giới là những
yếu tố chủ chốt kích thích thu hút được nguồn vốn FII.Năm 2004 đạt mức
22tỷ đôla, năm 2005 là 27 tỷ USD và năm 2006 là 29.8 tỷ USD.
Ngoài ra các nền kinh tế mới nổi hay các nước đang phát triển thuộc khu
vực châu Á đang có những cải cách về hệ thống tài chính ngân hàng mang lại
niềm tin cho nhà đầu tư.Theo dự báo của WB thì số lượng FII vào các nước
trong nước tăng dài hạn, giảm ngắn hạn.Điều này đã giảm thiểu rủi ro.Đồng
thời đã đảm bảo được sự ổn định tài chính và tránh được nguy cơ lây lan
khủng hoảng, đảm bảo được sự độc lập của chính sách tiền tệ…Các kết quả
trên đã làm cho lượng vốn dài hạn tăng, giảm thiểu được rủi ro lớn.
Thành công của những chính sách trên phải kể đến vai trò của chính
phủ.Chính phủ có quyết tâm và năng lực trong viêc thiết lập chính sách và
thực hiện nhất quán linh hoạt, mềm dẻo theo sự thay đổi của tình hình thực
tế.Mặt khác phải kể đến nền tảng kinh tế vĩ mô lành mạnh và tiến hành tự do
hoá nền kinh tế một cách từ từ.
Bên cạnh những thành công không có hạn chế của những chính sách
trên.Đó là tăng chi phí vốn cho nền kinh tế, tăng tình trạng tham nhũng, tăng
những khoản cho vay không hiệu quả của hệ thống ngân hàng.
* Thái Lan
Thái Lan có biện pháp thu hút được rất nhiều vốn gián tiếp do môi trường
đầu tư hấp dẫn.Nhưng hậu quả khủng hoảng tài chính là Thái lan thu hút ồ ạt
mà trước đó không hề đưa ra biện pháp quản lí kiểm soát nguồn vốn này và
làm thế nào hạn chế rủi ro.Hệ thống tài chính của Thái Lan chưa thực sự
mạnh cho nên trong thời gian đó chưa đem lại kết quả khi luồng vốn quay
ra.Hơn nữa các biện pháp của Thái Lan không có sự thống nhất trong thực
hiện, quá trình tự do hóa tài khoản vốn ở tháI lan diễn ra quá nhanh và không
có sự giám sát điều tiết của hệ thống ngân hàng nội địa, chính phủ đứng ra
bảo lãnh cho hoạt động của hệ thống tài chính dẫn tới rủi ro đạo đức.
1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm thu hút và quản lí giảm thiểu rủi ro của các nước trên có
thể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Tạo điều kiện môi trường đầu tư thuận lợi cho thu hút vốn vào Việt
nam. Môi trường này bao gồm cả chính sách của chính phủ, hệ thống pháp
luật, tiềm năng phát triển của đất nước về tăng trưởng kinh tế, sự ổn định về
chính trị.Đây là những nhân tố Việt Nam có thể làm được.
- Song song với việc thu hút cần xây dựng biện pháp quản lí kiểm soát
2005 18.5 38.7
Nguồn :CEMS
2.1. Biểu đồ miêu tả vốn đầu tư nước ngoài và tổng đầu tư: