Đề án môn học
Lời nói đầu
Trớc thực tiễn mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực chúng ta
phải làm gì và làm nh thế nào, nhằm nâng cao năng lực của các doanh
nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNN, để chủ động cạnh tranh ngay trên
thị trờng trong nớc và vơn ra thị trờng thế giới. Đây là vấn đề lớn mà các
doanh nghiệp đang phải đối đầu, nhng vấn còn nhiều lúng túng. Họ đang h-
ớng về Nhà nớc, kỳ vọng Nhà nớc có những chính sách mạnh mẽ.
Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng trong quá trình đổi mới
DNNN ở Việt Nam, và là một nội dung của chơng trình tổng thể đổi mới
doanh nghiệp Nhà nớc. Nó đáp ứng đợc các yêu cầu, các đòi hỏi của xu thế
biến động nền kinh tế đặc biệt là trong nền KTTT định hớng XHCN. Tuy
nhiên trong quá trình thực hiện CPH DNNN đã đặt đợc những thành tựu to
lớn, bên cạnh đó còn có rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong những năm
gần đây CPH ở các DNNN đang có xu hớng giảm dần, dẫn đến tính tri trệ
va gây ra những tồn đọng trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp.
Đứng trớc tình hình đó là yêu cầu đặt ra đối với Đảng và Nhà nớc cần có
các giải pháp, chính sách để giải quyết những tồn đọng, vớng đọng của các
doanh nghiệp.
Đây là một vấn đề đang đợc rất nhiều quan tâm, và trong đề án môn
học em chọn đề tài: "Bàn về các chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nớc trong giai đoạn hiện nay".
Nội dung của đề tài bao gồm có 3 phần chính:
Ch ơng I : Những vấn đề chung về doanh nghiệp Nhà nớc và cổ phần
hoá.
Ch ơng II : Thực trạng tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc.
Ch ơng III : Một số chính sách nhằm đẩy mạnh việc cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nớc.
Đây là đề tài em rất quan tâm và rất thích, song do trong quá trình làm
đề án kinh nghiệm còn thiếu và do hạn chế về mặt tài liệu và thông tin, nên
không thể không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong đợc cô giúp đỡ
nhận thức lại cho phù hợp.
Tiêu chí để xác định DNNN không những chỉ dựa vào mức độ sở hữu
Nhà nớc trong doanh nghiệp mà còn phải căn cứ vào mức độ khống chế, chi
phối của Nhà nớc đối với doanh nghiệp.Vì vậy doanh nghiệp Nhà nớc
không chỉ bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nớc chi phối, quản lý và kiểm
soát. Quan niệm nh thế vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đáp ứng đợc
2
Đề án môn học
xu thế đẩy mạnh cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu hiện nay. Mặt khác, về
lâu dài doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nớc sẽ thu hẹp dần. Những DNNN
có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác sẽ tăng lên và sẽ là loại hình
doanh nghiệp phổ biến. Đây là xu hớng khách quan, là quy luật phát triển
của KTTT.
Vì vậy doanh nghiệp Nhà nớc phải đợc hiểu nh sau: DNNN là một tổ
chức kinh tế do Nhà nớc đầu t 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần chi phối
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, tự chịu trách nhiệm về toàn
bộ hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi số tài sản của doanh nghiệp.
1
1.1.2 Đặc điểm của DNNN.
- DNNN do Nhà nớc thành lập, đầu t vốn và là chủ sở hữu. Tuy nhiên,
Nhà nớc không thực hiện quyền sở hữu một cách trực tuyến lên lợng tài sản
của doanh nghiệp. Nhà nớc sở hữu doanh nghiệp, còn doanh nghiệp với t
cách là một pháp nhân có quyền hạn nhất định trên những tài sản do Nhà
nớc giao. DNNN co quyền quản lý, sử dụng vốn, tài nguyên, đất đai và các
nguồn lực khác, có quyền chuyển nhợng thế chấp, cầm cố, cho thuê tài sản
do Nhà nớc giao trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
- Theo mục đích và tính chất hoạt động, DNNN bao gồm 2 loại: doanh
nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích.
-DNNN có t cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do
cơ bản nhất, từ đó cổ đông Nhà nớc sẽ nắm quyền quyết định trong hội
đồng quả trị. Nh vậy, lợi ích của Nhà nớc sẽ đảm bảo do nắm cổ phần áp
đảo.
Thứ hai: Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất ra hàng hoá dịch vụ để
bán.
Thứ ba: Có hạch toán lỗ lãi.
1.1.3.2 Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Mục tiêu hoạt động của các DNNN đợc chia làm ba nhóm với những
tiêu chí tơng ứng để đánh giá kết quả hoạt động.
Nhóm 1: Nhóm các DNNN hoạt động công ích-hoạt động theo các
chính sách xã hội của Nhà nớc phục vụ cho lợi ích trực tiếp của toàn xã hội
hay lợi íc công cộng, chuyên sản xuất hàng quốc phòng, an ninh, y tế cộng
đồng, văn hoá Mục đích hoạt động của nhóm này không phải vì lợi nhuận
nên không thể lấy lợi nhuận hay hiệu quả kinh tế làm thớc đo. Tiêu chí hoạt
động của DNNN nhóm này là hiệu quả chính trị- xã hội, tức là sự ổn định
và an toàn xã hội gắn với môi trờng chính trị, kinh tế, xã hội. Sự hoạt động
của các doanh nghiệp nhóm này dựa vào yếu tố vào sự bao cấp tài chính
của Nhà nớc. Nhà nớc giao vốn và chi phối hoạt động của doanh nghiệp.
2
Trang 30- báo tài chính thang 10/2001
4
Đề án môn học
Doanh nghiệp chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nớc, sản xuất theo kế hoạch
và đơn đặt hàng của Nhà nớc.
Nhóm hai: Các DNNN bán công ích-sản xuất kinh doanh hàng hoá
công ích.Về thực chất,hoạt động của nhóm này là bán kinh doanh, là loại
doanh nghiệp nửa bao cấp, nửa kinh doanh. Để đánh giá hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp nhóm này cần căn cứ vào kết quả thực hiện các
chính sách xã hội đối với ngời lao động và xã hội.
Nhóm ba: Nhóm các doanh nghiệp hoạt động thuần tuý kinh tế. Mục
cộng, vv rủi ro cao, đòi hỏi vốn lớn, thu hồi chậm, lợi nhuận thấp là
những ngành cần thiết và cần tạo điều kịên cho phát triển sản xuất, nhng
các thành phần kinh tế khác không muốn đầu t hoặc cha co khả năng, điều
kiện làm thi DNNN cần phải đi đầu mở đờng tạo điều kiện cho các thành
phâng kinh tế khác.
-Là lực lợng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm thực hiên CNH-
HĐH đất nớc
-Là lực lợng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trờng trong va ngoài n-
ớc, chống sự lệ thuộc vào nớc ngoài về kinh tế trong điều kiện mở cửa, hội
nhập với khu vực và thế giới.
-Thực hiện một số chính sách xã hội, nh tạo việc làm cho các nhóm xã
hội dễ bị tổn thơng, ở những khu vực khó khăn, kém phát triển, nh biên
giới, hải đảo, miên núi.
-Là lực lợng tạo nền tảng cho xã hội mới.
4
1.2. Cổ phần hoá
1.2.1 Khái niệm Cổ phần hoá DNNN .
Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ có một chủ
sở hữu thành công ty cổ phần, tức là doanh nghiẹp có nhiều chủ sở hữu.
CPH nói chung có thể diễn ra tại các doanh nghiệp t nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các DNNN. CPH là quá trình đa
dạng hoá tại doanh nghiệp.
Cổ phần hoá DNNN là quá trình chuyển đổi DNNN thành cộng ty cổ
phần, trong đó Nhà nớc có thể vẫn giữ t cách là một cổ đông, tức là Nhà nớc
vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp. Cổ phần
hoá DNNN không phải là quá trình chuyển sở hữu Nhà nớc sang sở hữu của
các cổ đông, mà có cả hình thức DNNN thu hút thêm vốn thông qua hình
thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần.
5
chỉ là ngời công nhân mà còn là chủ nhân của doanh nghiệp đó. Việc cho
công ty phát hành cổ phiếu u đãi, cổ phần nội bộ khiến vai trò cổ đông và
vai trò ngời lao động thống nhất với nhau. Ngời lao động sẽ là ngời trực tiếp
giám sát, kiểm tra tình hình giám sát kinh doanh của doanh nghiệp. Với ý
nghĩa này, CPH biến doanh nghiệp thành liên hợp lợi ích của ngời lao
động, là điểm mấu chốt làm cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Bên
cạnh đó, các DNNN khi đó đã đợc CPH sẽ tránh đợc sự đièu hành theo
kiểu mệnh lệnh hành chính, ảnh hởng đến tính tự chủ trong sản xuất kinh
doanh.
6
Trang 13-14 tạp chí quản lý Nhà nớc.
7
Đề án môn học
Ba là: CPH góp phần tách rời sở hữu ra khỏi chức năng quản lý kinh
doanh giúp cho chuyên nghiệp hoá chức năng quản lý kinh doanh, nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. CTCP là tổ chức đại diện cho nhiều
sở hữu cổ phần, tập trung vốn giao cho ngời đợc đào tạo chuyên môn, có
năng lực quản lý và tổ chức kinh doanh. Do vậy quản lý trở thành một nghề,
có ý nghĩa quyết định tới việc nâng cao hoạt động có hiệu quả của doanh
nghiệp.
Bốn là: Tăng khả năng huy động và tập trung vốn mở rộng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều DNNN khi chuyển sang lao động
trong cơ chế thị trờng đều rơi vào tình trạng thiếu vốn kinh doanh. Vốn Nhà
nớc giao cho bao gồm cả nợ khó đòi , sản phẩm, vật t ứ đọng không có khả
năng sử dụng hoặc không tổ chức ra xuất ra sản phẩm mà thị trờng cần
Do vậy, bộ phận vốn lu động dùng để kinh doanh thờng xuyên thiếu. Mặt
khác, sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ hiện đại, đòi hỏi
các doanh nghiệp phải thờng xuyên đổi mới trang thiết bị nhằm nâng cao
chất lợng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.
Năm là: Góp phần đổi mới và nâng và nâng cao hiệu lực quản lý của
cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Để có
cơ chế thị trờng vận hành thông suốt phải có cơ cấu thị trờng đầy đủ, đồng
bộ nghĩa là phải có các loại thị trờng phát triển trong một hệ thống hoàn
chỉnh, thống nhất.
- Nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của nền kinh tế theo nguyên tác
của KTTT. Đây là một mục tiêu tổng quát bao trùm và tác động đến nhiều
mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Hiểu quả kinh tế-xã hội đ-
ợc hiểu theo nghĩa huy động mọi khả năng về vốn, kỹ thuật, lao động,năng
lực quản lý của cộng động dân tộc và của quốc tế vào sự nghiệp xây dựng,
phát triển kinh tế cuả đất nớc một cách hiểu quả nhất.
1.3. cổ phần hoá DNNN cơ sở lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn.
1.3.1. Cơ sở lý luận.
Từ những năm 70 của thế kỷ XX trên thế giới diễn ra quá trình giảm
bớt sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế thông qua t nhân hoá và CPH
DNNN . Nó bắt đầu từ nớc Anh rồi lan sang các nớc công nghiệp khác và
các nớc đang phát triển; đến đầu những năm 90 quy mô t nhân hoá và CPH
DNNN diễn ra cha từng thấy, trở thành hiện tợng phổ biến, đến năm 1995
đã có hơn 100000 DNNN đợc t nhân và CPH, hơn 80 nớc cam kết thực hiện
t nhân hoá và CPH DNNN.
Cơ sở của việc xuất hiện hiện tợng này là:
8
7
Bài mục tiêu CPH DNNN của Ngô Thị Ngọc Anh- tạp chí quản lý Nhà nớc.
8
Sách kinh tế Nhà nớc va quá trình đổi mới DNNN.
9
Đề án môn học
Thứ nhất: Về nhận thức lý luận, có sự thay đổi quan điểm về vai trò
của Nhà nớc trong nền KTTT. Tứ chủ nghĩa t bản điều tiết" của keynes
cách vừa là cổ đông, vừa là ngời làm thuê trong CTCP, ngời lao động có
quan hệ lợi ích chặt chẽ với doanh nghiệp, còn trong DNNN , chủ sở hữu là
Nhà nớc, là chung chung mơ hồ, không gắn liền quyền sở hữu và quyền sử
10
Đề án môn học
dụng. CPH DNNN thật sự là một cuộc cách mạng triệt để thay đổi cách tổ
chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, thay đổi cơ bản mối quan hệ
doanh nghiệp - Nhà nớc và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thích ứng với
hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trờng.
1.3.2. Cơ sở thực tiễn.
CPH DNNN là vấn đề rất mới đối với Việt Nam. Vì vậy nghiên cứu
kinh nghiệm CPH DNNN của các nớc trên thế giới, đặc biệt là các nớc có
điều kiện tơng đồng nh Trung Quốc, một số nớc có nên kinh tế chuyển đổi
ở Đông Âu, cung nh các nớc trong khối Châu á: Nhật, Thái Lan,Singapore
để tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam là vô
cùng quan trọng.
Ngày nay CTCP có u thế so với các doanh nghiệp khác: phát hành cổ
phiếu rộng ra công chúng, cổ đông tham gia quản lý công ty, cổ phiếu
chuyển nhợng trên thị trờng chng khoán, chuyển nhợng nội bộ làm co giá
trị doanh nghiệp có tính công khai, trung thc hơn.
Do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kinh tế hoạch hoá tập trung,
tuyệt đối hoá kinh tế Nhà nớc đồng nhất với DNNN, nên trong một thời
gian dài phát triển hệ thống DNNN với số lợng lớn và tràn lan.
Trong quá trình hoạt động DNNN đã bộc lộ những yếu kém, bất cập,
đa đất nớc đến cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội . Chính vì vậy, việc đổi
mới sắp xếp lại hệ thống DNNN là một đòi hỏi tất yếu. Việc định hớng
XHCN nền KTTT đòi hỏi phải tạo cho kinh tế Nhà nớc sức mạnh thật sự,
trong đó DNNN là nòng cốt để đủ khẳ năng dẫn dắt, điều tiết và định hớng
các thành phần kinh tế khác.
Xung quanh vấn đề này Đảng và Nhà nớc đã có nhiều nỗ lực, đã đạt đ-
-Trong kết luận của bộ tài chính về kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội
5 năm 1996-2000 (số 301 BBK/BTC ngày 12/9/1995) đã bổ sung thêm mục
tiêu giữ vững định hớng XHCN của CPH DNNN và phân loại DNNN để
CPH.
-Nghị Quyết của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) chỉ
đạo: "Tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật để triển khai
tích cực, vững chắc CPH DNNN nhằm huy động thêm vốn, tạo động lực
mới thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiểu quả, làm tài sản Nhà nớc ngày
một tăng lên, là sự kết hợp giữa kinh tế Nhà nớc và kinh tế nhân dân để phát
triển đất nớc chứ không phải để t nhân hoá. Bên cạnh doanh nghiệp 100%
vốn Nhà nớc, sẽ có nhiều doanh nghiệp mà Nhà nớc nắm cổ phần chi phối.
-Hội nghị lấn thứ 4 ban chấp hành TW khoá VIII (tháng 12/1997) nêu
rõ giải pháp CPH nh sau: Phân loại doanh nghiệp công ích va doanh
nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn
Nhà nớc, loại DNNN cần nắm giữ cổ phần chi phối, loại hình DNNN chỉ
nắm cổ phần ở mực thấp và đối với doanh nghiệp mà Nhà nớc không nắm
9
Kinh tế Nhà nớc và quá trình đổi mới DNNN.
12
Đề án môn học
100% vốn cần lập kế hoạch CPH để tạo động lực phát triển,thúc đẩy làm ăn
hiểu quả.
Bên cạnh đó là những thành tựu về CPH doanh nghiệp mà các nớc ở
trên thế giới đã thực hiện trong các lĩnh vực, ngành nh chiến lợc CPH ở một
số công ty trong xu hớng sủ dụng tiền.
10
Ngời Nhật: xứng đáng danh hiệu tiết kiệm nhất, có thể là sau cuộc
chiến tranh thế giới thứ 2 cách đây 55 năm đủ trầm tích vào các thế hệ sau.
Tổng số để dành của ngời Nhật thì:
55% giữ vào ngân hàng theo hình thức tiết kiệm dài hạn, đồng yên
tham gia nhằm thu hút vốn trong xã hội.
Tóm lại: CTCP có u thế đối với các doanh nghiệp khác phát hành cổ
phiếu rộng ra công chúng, cổ đông tham gia quản lý công ty, cổ phiếu
chuyển nhợng trên thị trờng chứng khoán, chuyển nhợng nội bộ làm cho giá
trị doanh nghiệp có tính công khai, trung thực hơn. Nhng các CTCP đều vấp
phải các xu hớng sủ dụng tiền của dân chúng và buộc họ phải có chiến lợc
huy động vốn. Điều khác biệt của vốn cổ phần là cổ đông và chịu trách
nhiệm các khoản nợ công ty trong phạm vi vốn góp.
14
Đề án môn học
Chơng II. Thực trạng tiến hành
cổ phần hoá dnnn
2.1. Tình hình thực hiện cổ phần hoá trong những năm
qua
2.1.1.Những bớc phát triển ban đầu.
CPH nh một trong những giải pháp lớn để sắp xếp lại DNNN lần đầu
tiên đợc đề ra tại hội nghị TW 2 khoá VII (tháng 11/1991), sau đó đợc cụ
thể hoá tại chỉ thị 202/CT (6/1992) của chủ tịch hội đồng bộ trởng về thí
điểm chuyển một số doanh nghiệp thành CTCP, chỉ thị 84-ttg(3/1993) về
xúc tiến thực hiện thí điểm CPH doanh nghiệp và các giải pháp đa dạng
hoá hình thức sở hữu đối với DNNN. Thực hiện chủ trơng này, ngày
1/7/1993 DNNN đầu tiên đã đợc chuyển thành CTCP. Đó là đại lý liên hiệp
vận chuyển của tổng công ty hàng hải Việt Nam. Tính từ thời điểm đó đến
nay đã hơn 11 năm, CPH không chỉ là một bớc thí điểm nữa, mà đã trở
thành một thực tế sinh động với các biện pháp chỉ đạo ngày một sát sao,
khuôn khổ pháp lý ngày càng rõ ràng.Tình đến tháng 12/2000 các nớc có
380 DNNN đợc chuyển thành CTCP và hoạt động của các công ty này cho
thấy CPH là một hớng đi đúng đắn để sắp xếp lại DNNN.
2.1.1.1. Hình thành mô hình doanh nghiệp mới, gắn bó chặt chẽ quyền
lợi và trách nhiệm.
vẫn đợc nâng lên rất rõ. Tại 22 doanh nghiệp đợc CPH thuộc bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn, hiểu quả này phản ánh qua chỉ tiêu vốn năm
1999 tăng lên 359,5 tỷ đồng so với 280,1 tỷ của năm 1998 (tức đã huy động
thêm đợc 79 tỷ). Trong ngành du lịch, 28 doanh nghiệp chuyển thành
CTCP, qua khảo sát, đều cho thấy chỉ tiêu kinh tế cao hơn nhiều so với trớc
khi CPH. Những đơn vị có thời gian CPH từ 1 năm trở lên đều có những b-
ớc tiến quan trọng: doanh thu tăng 30%, lợi nhuận thực hiện tăng hơn 30%,
nộp ngân sách từ 15-18%, thu nhập của ngời lao động tăng từ 1,2lần đến
1,5 lần so với trớc CPH.
Xét trên địa bàn nhiều địa phơng (không kể Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh là hai nơi có nhiều thuận lợi để thực hiện CPH), CPH cũng đã
chứng minh đợc tính hiệu quả của mình. Công ty vận tải ô tô Phú Thọ- công
ty đầu của tỉnh này đợc CPH trong năm 1999 là một mô hình thành công,
sau một năm hoạt động dới hình thức CTCP, doanh thu công ty tăng từ 14,5
tỷ lên 19,8 tỷ. Các chỉ số tơng tự là lợi nhuận từ 245 triệu lên đến 688 triệu.
Nhờ làm ăn hiệu quả công ty đã có thể trích quỹ phát triển sản xuất 15%,
dự phòng tài chính 5%, điều mà trớc đây CPH không làm đợc. Và cho đến
nay công ty dã phát triển và chiếm một vị trí hàng đầu trong hệ thống
CTCP.
16
Đề án môn học
Nhờ kết quả sản xuất kinh doanh tốt, các doanh nghiệp đợc CPH thật
sự trở thành mô hình 3 trong 1 vừa cứu vãn đợc nguy cơ đổ vỡ của nhiều
doanh nghiệp, vừa tăng phần nộp ngân sách Nhà nớc, vừa tăng thu nhập cho
ngời lao động. Xét dới góc độ lợi ích Nhà nớc thì không chỉ có nguồn thu
tăng nhờ các doanh nghiệp trích nộp ngân sách nhiều hơn, mà còn do
không còn phải làm bà đỡ, không tốn phí bao cấp, u đãi tài chính cho doanh
nghiệp mà ngay cả nhờ việc bán cổ phiếu, Nhà nớc đã thu đợc một lợng
vốn.
2.1.2. Tiến trình chuyển DNNN thành các công ty cổ phần trong những
trị vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp.
- Công tác xác định giá trị doanh nghiệp tuy đã có những bớc đổi mới,
song việc xác định giá trị tại nhiều địa phơng còn mang tính chủ quan,
không thống nhất với cách xử lý của TW nh đánh giá cao giá trị doanh
nghiệp nhằm thu hồi vốn, hay đánh giá thấp giá trị doanh nghiệp để đẩy
nhanh CPH lấy thành tích, do đó hoặc làm chậm tốc độ CPH hoặc gây thất
thoát về tài sản quốc gia.
- Công tác chuẩn bị và hỗ trợ cho các DNNN thực hiện CPH cha tốt
nên nhiều doanh nghiệp khi tiến hành CPH gặp không ít khó khăn, nhất là
vấn đề giải quyết các tồn tại của DNNN trớc đây hay giải quyết vấn đề ngời
lao động d thừa khi CPH. Hơn nữa nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn,
nếu không có trợ giúp thì rất khó chuyển thành công sang CTCP.
Những thành tựu đạt đợc.
12
- Tiến độ CPH bớc đầu đợc cải thiện.
Đã gần 10 năm trôi qua kể t khi có chủ trơng chuyển đổi một số
DNNN sang CTCP. Tính đến giữa tháng 6/2000 cả nớc ta đã CPH đợc 426
doanh nghiệp, trong đó từ tháng 6/1992 đến 4/1996 CPH đợc 5 doanh
nghiệp, từ tháng 5/1996 đến tháng 6/1998 CPH đợc 25 doanh nghiệp và từ
7/1998 đến năm 2000 CPH đợc 396 doanh nghiệp.
Trớc đây việc tiến hành CPH một DNNN đợc tiến hành thờng kéo dài
2 năm, thậm chí 5 năm nhng hiện nay khoảng cách về mặt thời gian đó đã
đợc rút ngắn lại.
- Đối với doanh nghiệp đã CPH.
Huy động đợc lợng vốn lớn, thay đổi phơng thức quản lý, điều hành
DNNN, tạo sự đồng tình ủng hộ cao của ngời lao động và các nhà đầu t
trong và ngoài nớc.Thực hiện CPH, các DNNN đã huy động đợc một lợng
vốn rất quan troongjtwf cán bộ công nhân viên làm việc tại doanh nghiệp và
trong dân c để đầu t phát triển. Tính đến thời điểm 2/6/1998, tại 30 DNNN
đã CPH, số vốn thu hút đợc là 166.077 triệu đồng (= 50% tổng vốn điều lệ
1999, có những CTCP đạt doanh thu gấp đôi của cả năm trớc khi CPH.
Lợi nhuận trớc thuế bình quân hàng năm trên 26%, có công ty đạt lợi
nhuận gấp 2-3 lần so với trớc khi CPH.
Nộp ngân sách tăng bình quân hàng năm trên 30%, một số công ty đạt
gấp đôi so với trớc khi CPH.
Thu nhập hàng tháng của ngời lao động tăng.
-Hình thành cơ chế phân phối mới ở các DNNN CPH theo hớng phát
huy các nguồn lực trong điều kiện KTTT.
Trớc CPH, việc phân phối thu nhập ở các DNNN do Nhà nớc trực tiếp
quy định mang nặng tính binh quân. Sau khi chuyển thành CTCP, ngời lao
động mua cổ phiếu và trở thành cổ đông, họ vừa là ngời chủ doanh nghiệp,
19
Đề án môn học
vừa là ngời làm thuê. Điều đặc biệt trong các DNNN CPH đã hạn chế đợc
tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, giảm các chi phí đầu vào, nâng cao chất
lợng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khẳ năng cạnh tranh trong doanh
nghiệp trên thị trờng. Điển hình nh khách sạn Phú Gia (Hà Nội) sau khi
CPH đã tiết kiệm đợc hơn 50% tiền điện, gần 30% chi phí hành chính và vệ
sinh.
Đối với Nhà nớc:
13
-Vốn và tài sản Nhà nớc không chỉ đợc bảo toàn mà còn tăng vốn đáng
kể. Hàng năm Nhà nớc thu đợc lợi tức từ cổ phần Nhà nớc tại CTCP, các
khoản lãi do cho ngời lao động vay mua chịu cổ phiếu, các khoản thuế mua
từ thuế của CTCP. Do chuyển sang CTCP các doanh nghiệp làm ăn ngày
càng hiểu quả hơn, Tính đến hết năm 1996, phần lợi tức Nhà nớc thu đợc tại
các DNNN đã CPH là 6.995 triệu đồng, tiễn lai do cho ngời lao động vay
mua chịu cổ phiếu là 522 triệu đồng, nộp ngân sách Nhà nớc của 16 CTCP
đầu tiên đã hoạt động đợc trên một năm bình quân tăng 260% so với trớc
khi CPH.
sản xuất- kinh doanh của DNNN. Trở thành cổ đông- ngời chủ sở hữu của
doanh nghiệp, quyền lợi của ngời lao động găn chặt với sự phát triển của
doanh nghiệp- vì vậy, khắc phục đợc những hiện tợng tiêu cực, vô trách
nhiệm, lãng phí,vv ,căn bệnh hết sức nghiêm trọng trong cơ thế cũ.
-Thu nhập của ngời lao động tăng lên. Trong DNNN CPH, ngoài tiền
lơng đợc trả gắn liền với sự đóng góp của doanh nghiệp, họ còn đợc hởng
lợi tức cổ phần mà mình góp vồn vào công ty. Do chuyển sang CTCP,
doanh nghiệp kinh doanh có hiểu quả và ngày càng phát triển nên cả tiền l-
ơng và lợi tức cổ phần ngày càng tăng lên.
Thu hút thêm lực lợng lao động xã hội. Sau CPH, lực lợng lao động
trong doanh không không giảm đi mà còn tăng lên, các cán bộ công nhân
viên của DNNN vẫn đợc tiếp tục làm việc tại CTCP. Theo số liệu ban đầu
của doanh nghiệp TW, tính đến 20-10-1999, tại 270 DNNN CPH lao động
tăng thêm bình quân 20% do mở rộng sản xuất, tăng thêm mặt hàng
Góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trờng chứng khoán. Trên thị tr-
ờng chứng khoán cơ bản, có 5 chủ thể lớn, đó là ngời mua chứng khoán;
ngời bán chứng khoán; ngời môi giới chứng khoán và kinh doanh chứng
khoán; ngời điều hoà thị trờng chứng khoán; ngời tổ chức hoạt động mua
bán chứng khoán. Trong 5 chủ thể trên, chủ thể thứ nhất và thứ hai mang
tính quyết định bởi lẽ ra nó là nhân tố ban đầu tạo ra thị trờng chứng khoán.
Nguồn cung cấp bao gồm: chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức
tài chính, các DNNN, nhng nguồn quan trọng nhất tạo nên sự chú ý cho ng-
ời mua chứng khoán vẫn là cổ phiếu của các CTCP
CPH DNNN nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
trong khu vực và thế giới, thúc đẩy quá trình chuyển sang nền kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN.
21
Đề án môn học
Tình hình thực hiện CPH đợc thực hiện thông qua hệ thống luật cải
cách doanh nghiệp và nó đã có các hình thức CPH DNNN là:
nghiệp. Có thể nói đây là sự tiến bộ vợt bậc về CPH. Tuy nhiên, so với chỉ
14
điều 3- NĐ số 64/2002/ NĐ-CP ngày 19/6/2002
15
điều 7- NĐ số 64/ 2002/ NĐ-CP ngày 19/6/2002
16
tạp chí tài chính số 32, tháng 9-10/1999.
22
Đề án môn học
tiêu mà Chính Phủ đề ra cho năm 1999 là 400 doanh nghiệp thì mới chỉ đạt
24,5%. Nh vậy tiến độ CPH vẫn còn rất chậm. Vì sao vậy?
a. Về phía khách quan:
Chúng ta tiến hành CPH DNNN trong bối cảnh nền kinh tế đang thực
hiện những bớc quá độ từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn, từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang nền KTTT. Trong bối cảnh đó, các điều kiện
khách quan cần thiết cho việc triển khai CPH còn nhiều bất cập;
Trình độ xã hội hoá sản xuất cha thật chín muồi
Từ một nền sản xuất nhỏ, cái thiếu lớn nhất của ta là Cốt vật chất
của một nền kinh tế phát triển. Ngoài một số ít lĩnh vực và cơ sở kinh tế đợc
trang bị máy móc, thiết bị hiện đại, còn phần lớn là thủ công (hiện còn
54,3% số DNNN TW và 94% DNNN địa phơng ở trình độ thủ công). Vì thế
năng suất chất lợng, hiệu quả sản suất của ta còn thấp hơn rất nhiều so với
các nớc trong khu vực và trên thế giới (mỗi ngày một ngời dân Việt Nam
chỉ thu nhập khoảng 1USD, trong khi đó của Trung Quốc là 2,3 USD,
Malaixia là 9,5 USD, Singapo 84USD, Hàn Quốc 16 USD. Phân công lao
động xã hội ở trình độ thấp kém: hơn 70% lực lợng lao động và gần 80%
dân số trong khu vực nông nghiệp và nông thôn. Năm 2000 cơ cấu GDP của
ta còn rất lạc hậu: nông nghiệp chiếm 25,3%, công nghiệp chiếm 32,7%,
dịch vụ 42% trong khi đó cũng vào năm này cơ cấu của Trung Quốc là
16,5%- 55,4%-28,3%; của Malaixia là 11,3%-45,8%- 42,9% ;của Hàn
doanh nghiệp. Đây là những lực cản không nhỏ đối với tiến trình CPH.
Về mặt tâm lý xã hội: do bị ảnh hởng bởi t tởng của xã hội cổ truyền
và những năm bao cấp, nên nhân dân ta còn mang nặng tâm lý đồng tiền
ăn liền khúc ruột, cha quen với đầu t tiền vào mua cổ phiếu. Theo điều tra,
ớc tính của bộ kế hoạch và đầu t và tổng cục thống kê, nguồn vốn trong dân
hiện có từ 6-8 tỷ USD, trong đó 44% để dành mua vàng, ngoại tệ; 20% mua
nhà, đất, cải thiện điều kiện sinh hoạt; 17% tiền gửi tiết kiệm, chủ yếu loại
ngắn hạn; chỉ có 19% dùng trực tiếp cho các dự án đầu t, nhng chủ yếu là
đầu t ngắn hạn.
Các loại thị trờng cha phát triển đồng bộ. Hiện tại ta có thị trờng hàng
tiêu dùng và dịch vụ, thị trờng t liệu sản xuất, thị trờng các yếu tố sản xuất
khác nh sức lao động, vốn đang ở trình độ sơ khai, thị trờng chứng khoán
cha hình thành. Theo logic của sự phát triển thì CTCP là sản xuất tất yếu
của nến sản xuất xã hội hoá và của nền kinh tế thị trờng phát triển. Nhng ở
nớc ta, nền sản xuất đang trong giai đoạn đầu của xã hội hoá, nền kinh tế
thị trờng đang trong quá trình hình thành. Vì vậy các điều kiện kinh tế liên
quan trực tiếp đến sự ra đời, tồn tại và phát triển của CTCP, cũng nh việc
triển khai DNNN ở nớc ta cha phải đã hình thành đầy đủ và đồng bộ nh ở
các nớc đã có nền kinh tế thị trờng phát triển.
Những hiện tợng nh chụp giật, chiếm giật vốn của nhau, lừa đảo, tham
nhũng, coi thờng kỷ cơng phép nớc đã có ảnh hởng tiêu cực đến tâm lý
24
Đề án môn học
đầu t vào cổ phiếu của ngời có vốn. Thực tế, vốn trong dân có nhiều, nhng
do môi trờng pháp lý cha thật sự đảm bảo nên họ không dám đầu t.
b. Về phía chủ quan.
Trong điều kiện chủ quan nh trên, để thúc đẩy tiến trình CPH DNNN
đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan, song trong thời
gian qua nhân tố này có nhiều vớng mắc.
Thứ nhất, việc điều hành triển khai CPH còn chậm và lúng túng.