biện pháp phòng chống gian lận thuế gtgt của doanh nghiệp sản xuất ở nước ta - Pdf 10

Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển đi lên chủ
nghĩa xã hội và trong quá trình hội nhập toàn cầu. Để tạo hành lang pháp
lý cho các doanh nghiệp trong nớc cũng nh doanh nghiệp có vốn đầu t n-
ớc ngoài hoạt động, tăng nguồn thu ngân sách Nhà nớc, Luật thuế GTGT
đợc Quốc hội khóa XI nớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày
10/05/1997, Chính Phủ và các bộ, nghành có liên quan ban hành các nghị
định, quyết định, chỉ thị, thông t hớng dẫn thi hành luật. Sau hơn 5 năm
thực hiện, luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích
cực trên các mặt của đời sống kinh tế- xã hội nh: khuyến khích phát triển
sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu và đầu t, thúc đẩy hạch
toán kinh doanh của các doanh nghiệp tạo nguồn thu lớn và ổn định ngân
sách Nhà nớc, tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế ,
góp phần tăng cờng quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung và quản lý thuế nói riêng. Bên cạnh đó, mặc dù đã đợc
sửa đổi bổ sung, nhng do diễn biến mới trong hoạt động kinh tế mà luật
thuế GTGT đã bộc lộ những khiếm khuyết và sơ hở. Một số đơn vị sản
xuất kinh doanh và cá nhân đã lợi dụng để thực hiện hành vi gian lận
thuế GTGT làm thất thoát lớn cho ngân sách Nhà nớc. Vấn đề ở đây là
phải nghiên cứu, phân tích và tìm ra các sơ hở, những mánh khóe, thủ
đoạn tinh vi mà một số các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh nói riêng lợi dụng gây thất thoát của Nhà nớc hàng
trăm tỷ đồng, để đa ra biện pháp hợp lý đảm bảo việc thực thi luật thuế
GTGT một cách nghiêm chỉnh, ngăn ngừa các hành vi gian lận thuế
GTGT trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở nớc ta trong những năm
tới. Dựa vào thực tế trên và sau một quá trình nghiên cứu hoạt động của
thuế GTGT đã tạo cho em ý tởng chọn đề tài Biện pháp phòng chống
gian lận thuế GTGT của doanh nghiệp sản xuất ở nớc ta, kết cấu của đề
án bao gồm những nội dung sau:
Chơng I : Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong sản xuất

a. Thuế GTGT là nguồn thu của Nhà nớc
- 2 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
Thuế GTGT có thể tạo ra nguồn thu ngày càng tăng cho ngân sách
Nhà nớc, thông qua việc mở rộng và bao quát diện tích đánh thuế đối với
mọi hoạt động nhập khẩu, sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Mặt khác thuế GTGT bảo đảm việc thu tập trung phần lớn số thuế
đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn, có khả năng hạn chế
thất thu NSNN. Việc thu thuế và khấu trừ thuế dựa trên chứng từ, hóa
đơn, tạo căn cứ pháp lý cho việc thu thuế ở khâu trớc sẽ khắc phục ở
khâu sau. Song dù sao cũng không thể xây dựng mức thuế suất quá cao,
gây nhiều khó khăn cho các nhà doanh nghiệp, tác động không tốt đến
hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hởng xấu tới NSNN.
Nếu việc nghiên cứu, xây dựng các mức thuế suất hợp lý, với tính
toán kỹ lỡng để đảm bảo thuế GTGT sẽ mang tính khả thi , tạo đợc
nguồn thu cho NSNN một cách tích cực, đồng thời góp phần thúc đầy
phát triển sản xuất.
b. Thuế GTGT là công cụ quan trọng điều tiết các khâu sản xuất, l-
u thông trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Gía cả lạm phát hình thành nên lu thông, sản xuất nên chúng ta
cần xem xét đến chúng. Thông thờng giá cả và lạm phát tăng hay giảm
do nhiều yếu tố tác động cả về kinh tế và xã hội. Trong cơ chế thị trờng,
quy luật cung cầu, quy luật giá trị cũng có tác động rất lớn đến giá cả
lạm phát. Do đó nếu khẳng định việc ban hành một hệ thống thuế nói
chung và thuế GTGT nói riêng có tác động đến mức nào với giá cả lạm
phát thờng là khó chính xác.
Có ngời cho rằng việc ban hành thuế GTGT sẽ làm tăng giá cả và
lạm phát. Tuy nhiên ở nhiều nớc trong quá trình nghiên cứu ảnh hởng của
thuế GTGT đối với chúng, ngời ta đã đi đến kết luận là đến nay, cha có
căn cứ khoa học nào để khẳng định rằng bản thân thuế GTGT có thể gây

thống thuế suất cao thì mặc nhiên giá cả tăng lên. Nhng những trờng hợp
trên đầu vì lý do khách quan, không thể kết luận là tự bản thân thuế
GTGT gây ra.
Tình hình lạm phát ở từng nớc xảy ra thờng do nhiều nguyên nhân,
trong đó có các nguyên nhân khá quan trọng về sự phát triển chậm hay
giảm sút về kinh tế do chính sách vĩ mô, điều hành của nhà nớc do thu
không đáp ứng nhu cầu chi, không cân đối đợc thu- chi ngân sách, do tác
động của giá cả vì giá cả vừa là tác nhân, nhng cũng vừa là hậu quả của
sự lạm phát. Vì vậy, không thể xem xét, đánh giá tác động cụ thể của
chính sách thuế GTGT một cách riêng rẽ, cách biệt. Tuy nhiên, phải
khẳng định rằng nếu việc cải cách chính sách thuế GTGT phù hợp với
quy luật và sự phát triển kinh tế thị trờng , sẽ có tác động tốt ngăn chặn
hay hạn chế lạm phát . Ngợc lại, nếu đa mức thuế quá cao, hoặc quá thấp
sẽ ảnh hởng đến nguồn thu ngân sách, lạm phát ảnh hởng đến quá trình l-
u thông , sản xuất.
Vậy để điều tiết quá trình sản xuất lu thông trong doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh không thể là việc xem xét chính sách thuế GTGT
- 4 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
một cách phiến diện, cục bộ mà phải đợc phân việc một cách khách
quan, toàn diện, khoa học trong mối quan hệ hữu cơ với nhiều tiêu thức
về kinh tế xã hội của đất nớc và mối quan hệ với khu vực quốc tế trong
từng thời kỳ nhất định.
II. Nội dung cơ bản của thuế GTGT đối với sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp
1. Khái niệm
Căn cứ vào điều I, Chơng I của luật thuế GTGT số 02/1997/QH9
ngày 10/05/1997, thuế GTGT đợc khái niệm : Thuế GTGT là thuế tính
trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ra trong quá
trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.

không thuộc hình thức theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam.
- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm ngời kinh doanh độc lập và các đối t-
ợng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh.
3. Căn cứ tính thuế và phơng pháp tính thuế GTGT trong
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
a. Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
Giá tính thuế GTGT đợc quy định cụ thể nh sau:
a.1- Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra
hoặc cung ứng cho đối tợng khác là giá bán cha có thuế GTGT. Giá tính
thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí
thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doang đợc hởng, trừ
các khoản phụ thu, phí cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách Nhà nớc.
Thờng là giá bán đã giảm ghi trên hóa đơn.
a.2- Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cơ sở kinh doanh phục
vụ cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì
phải tính thuế GTGT đầu ra. Giá tính thuế tính theo giá bán của sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tơng đơng tại cùng thời điểm. Đối với
hàng hóa luân chuyển nội bộ nh xuất hàng hóa để chuyển kho nội bộ,
xuất hàng hóa vật t, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong
một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính nộp thuế GTGT.
a.3- Dịch vụ cho thuê tài sản nh cho thuê nhà, văn phòng, xởng,
kho tàng, bến bãi, phơng tiện vận chuyển máy móc thiết bị
Giá để tính thuế GTGT là giá cho thuê cha có thuế. Trờng hợp cho
thuê theo hình thức thu tiền thuê theo từng kỳ hoặc thu trớc tiền thuê cho
một thời hạn thuê thì thuế GTGT tính trên số tiền thu từng kỳ hoặc thu tr-
ớc, bao gồm cả khoản thu dới hình thức khác nh thu tiền để hoàn thiện,
sửa chữa, nâng cấp nhà cho thuê theo yêu cầu của bên thuê.
Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận đợc xác định theo hợp
đồng. Trờng hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê đợc
xác định trong phạm vi khung giá quy định.

Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu,
kể cả hàng gia công xuất khẩu, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu
thuế GTGT xuất khẩu.
Mức thuế suất 5% đối với hàng hóa, dịch vụ:
+ Nớc sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
+ Phân bón, quặng để sản xuất và sinh hoạt.
+ Thiết bị và dụng cụ y tế, bông và băng vệ sinh y tế.
+ Thuốc chữa bệnh, phòng bện.
+ Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập.
- 7 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
+ Đồ chơi trẻ em, sách khoa học kỹ thuật, sách văn học nghệ
thuật, sách phục vụ thiếu nhi, sách pháp luật, trừ sách văn bản pháp luật
quy định tại điều khoản B điều IV luật thuế GTGT.
+ Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cha qua chế
biến gồm cả con giống, cây trồng, hạt giống, trừ đối tợng quy định tại
khoản 1 điều IV của luật thuế GTGT.
+ Lâm sản (trừ gỗ, măng) cha gia qua chế biến, thực phẩm tơi
sống.
+ Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá.
+ Bông sơ chế từ bông trồng ở trong nớc.
+ Thức ăn gia súc, gia cầm và thức ăn cho thực vật khác.
+ Dịch vụ khoa học, kỹ thuậ.
+ Dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Mức thuế suất 10% đối với hàng hóa, dịch vụ:
+ Dỗu mỏ, khí đốt, than đá, quặng và sản phẩm khai khoáng khác.
+ Điện, thơng phẩm.
+ Sản phẩm điện tử, cơ khí, đồ điện.
+ Hóa chất, mỹ phẩm.
+ Sợi, vải, sản phẩm may mặc bằng giấy.

hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ
theo phơng pháp khấu trừ thuế.
+ Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế
đợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào (gọi là thuế đầu vào) nh sau:
Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì đợc khấu trừ toàn bộ.
Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT
thì đợc khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hóa dùng cho sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào đợc kê khai, khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của tháng đó.
Riêng đối với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu vào đợc khấu trừ
lớn thì đợc khấu trừ dần hoặc đợc hoàn thuế theo quy định của Chính phủ
.
Trong trờng hợp cơ sở sản xuất, chế biến mua hàng nông sản, lâm
sản, thủy sản cha qua chế biến của ngời sản xuất mà không có hóa đơn
giá trị gia tăng thì đợc khấu trừ thuế đầu vào từ 1%-5% tính trên giá nông
sản, lâm sản, thủy sản mua vào, tỷ lệ khấu trừ đối với từng loại hàng hóa
do Chính phủ quy định.
Việc khấu trừ thuế quy định tại điểm này không áp dụng đối với tr-
ờng hợp xuất khẩu.
Căn cứ đợc xác định số thuế đầu vào đợc khấu trừ là:
- 9 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
Số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT khi mua hàng hóa, dịch vụ
hoặc chứng từ nộp thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu, đối với hàng
hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn không ghi

mặt quản lý, thuế GTGT không quan tâm đến các khoản chi phí hoạt
động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp nên chi phí quản lý
có phần thấp hơn thuế trực thu.
- 10 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
- Thuế đợc hoàn đối với hàng xuất khẩu nên có tác dụng giảm chi
phí đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu có thể cạnh
tranh thuận lợi trên trờng quốc tế.
- Thuế GTGT kết hợp với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với
hàng nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo vệ sản xuất kinh doanh hàng
nội địa.
- Tạo điều kiện thuận lợi trong việc chống thất thu thuế đạt hiệu
quả cao. Việc khấu trừ thuế GTGT đợc thực hiện căn cứ trên hóa đơn
mua vào thúc đẩy ngời mua đòi hỏi ngời bán xuất hóa đơn, ghi doanh thu
đúng với hoạt động mua bán, khắc phục đợc tình trạng thông đồng giữa
ngời mua và ngời bán để trốn lậu thuế.
Nâng cao tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của ng-
ời nộp thuế. Thông thờng, trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT, cơ quan
thuế tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tự tính thuế, tự kê
khai, tự nộp thuế, tạo đợc tâm lý là cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh
không phải hiệp thơng, thỏa thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ
quan thuế. Việc kiểm tra thuế GTGT cũng có mặt thuận lợi vì buộc ngời
mua, ngời bán phải lập và lu giữ chứng từ, hóa đơn đầy đủ nên việc thu
thuế khá sát với thực tế hoạt động kinh doanh.
- Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến
khích hiện đại hóa, chuyên môn hóa sản xuất, tích cực đầu t mua sắm
trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
Nhìn chung, trong sắc thuế gián thu, thuế GTGT đợc coi là phơng
pháp thu thuế tiến bộ nhất hiện nay, đợc đánh giá có do đạt đợc các mục
tiêu lớn của chính sách thuế (tạo đợc nguồng thu lớn cho NSNN, đơn

thập kỷ 80. Đến nay, thuế GTGT vẫn còn gặp nhiều phản ứng của một số
nớc công nghiệp tiên tiến nh Mỹ, úc Vấn đề nổi lên ở đây là tính lũy
thoái của thuế GTGT. ở Mỹ, ngời ta đã tính thử với thuế suất đồng loạt là
10% thì ngời nghèo phải nộp thuế này đến 14,2%, còn ngời giàu chỉ nộp
thuế 3-4% thu nhập Để khắc phục phần nào nhợc điểm về tính lũy
thoái của thuế GTGT, một số nớc không đánh thuế hoặc đánh thuế với
thuế suất thấp đối với mặt hàng dịch vụ thiết yếu cho đời sống nhân dân
nh lơng thực, thực phẩm, thuốc thông thờng, quần áo
- 12 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
Chơng II
Thực trạng gian lận thuế giá trị gia tăng
của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
I. Tình hình thực hiện luật thuế GTGT ở nớc ta
1. Những thành tựu đã đạt đợc
Qua 5 năm thực hiện các luật thuế GTGT mới đã đạt đợc những
kết quả tích cực. Hệ thống chính sách thuế GTGT đã trở thành công cụ
quản lý vĩ mô có hiệu lực của Nhà nớc, góp phần ổn định và phát triển
kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu đợc hởng thuế suất 0% từng bớc đợc
thực hiện tốt cải cách thuể bớc 2 bỏ thuế suất 20% thuế GTGT,mở rộng
diện chịu thuế 0% góp phần ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh,
khuyến khích đầu t (tăng dần qua các năm: năm 2000 là 145,333tỷ đồng,
năm 2001là 163,543 tỷ đồng,năm 2002là 183,8 tỷ đồng, khuyến khích
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đảm bảo ổn định và tăng trởng nguồn thu
của Ngân sách Nhà nớc. Thuế GTGT (sau khi trừ khoản tiền hoàn thuế v-
ợt trên 11%) dự toán tăng 22,7% của năm 2003 so với năm 2002 ,năm
2003 chiếm 24% tổng thu NSNN , theo kết quả kiểm tra từ 1/1/1999 đến
30/10/2002 tổng thuế GTGT thu đợc thời gian này là 78,42 tỷ VNĐ. Nó
đã đáp ứng đợc nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của đất nớc. Đã từng bớc
đơn giản, bình đẳng và công bằng xã hội. Thúc đẩy các cơ sở sản xuất

hàng hoá xuất khẩu chiếm gần 80% tổng số thuế đợc hoàn. Số hoàn thuế
lớn chứng tỏ sản lợng hàng hoá sản xuất phục vụ cho mục đích xuất khẩu
ngày một tăng chứng tỏ các đơn vị này làm ăn có lãi. Trong năm 1999 đã
hoàn gần 2700 tỷ đồng, trong đó hoàn thuế cho hàng xuất khẩu chiếm
80%. VD: tại Hà Nội, tổng số thuế hoàn là 12,7 tỷ đồng , trong đó hoàn
thuế cho hàng xuất khẩu là 84,9 tỷ đồng. Trong đó, nhiều mặt hàng đã đ-
ợc hoàn thuế đầu vào làm cho giá trị xuất khẩu của nhiều mặt hàng tăng
lên đáng kể, điển hình nh cao su tăng 37,5%,gạo tăng 21,4%, thuỷ sản
14,1%, dệt may 16%, kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 14000 triệu
USD tăng 26,7%, đến năm 2001,tiếp tục tăng thêm 4,5%. Kim ngạch
xuất khẩu luôn tăng qua các năm sẽ giảm bớt đợc tình trạng nhập siêu
tăng thu cho nền kinh tế cũng nh giúp cho các sản phẩm của các doanh
nghiệp trong nớc tiếp cận với thị trờng quốc tế. Về bản chất hoàn thuế là
một biện pháp trợ giá gián tiếp của Chính Phủ, nhằm khuyến khích thúc
đẩy sản xuất kinh doanh trong nớc theo xu thế hớng ngoại.
Nhìn lại chặng đờng năm năm qua, có thể thấy luật thuế GTGT ra
đời, nền kinh tế đã đạt đợc những thành tựu to lớn về khống chế lạm
phát, tạo điều kiện cho giá cả tiêu dùng nhanh chóng di vào thế ổn định,
tạo ra 1 trong những tiền đề không thể thiếu để nền kinh tế đạt đợc mức
tăng trởng về tốc độ tăng GDP năm 1999 là 4,77%; năm 2000 là 6,79 %;
năm 2001 là 6,89 %; năm 2002 là 7,04 % dây là năm đàu tiên trong 6
- 14 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
năm qua đã đạt đợc mục tiêu đề ra, đây cũng là tốc độ tăng cao thứ 2 so
với các nớc và các vùng lãnh thổ trong khu vực Châu á Thái Bình Dơng
chỉ sau Trung Quốc, năm 2003 là 7,24% và mục tiêu của năm 2004 là 7,5
%. Nếu quan sát các số liệu thống kê về chỉ số giá tiêu dùng có thể thấy
những thành tựu đạt đợc: Từ chỗ lạm phát phi mã của thập kỷ trớc còn rơi
rớt lại trong năm đầu thập kỷ (67%) chỉ số này chỉ còn dao động ở mức
5,2 -17,5 % ( năm 1992-1995), còn trong năm năm gần đây thì luôn ở

Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
ra Liệu luật thuế GTGT đã đi vào cuộc sống?gây không ít băn khoăn
cho nhiều ngời.
Thực ra theo kinh nghiệm ở nhiều nớc đã áp dụng thuế GTGT cho
thấy việc gặp phải những khó khăn, vớng mắc trong bớc đầu áp dụng luật
thuế GTGT không phải là không xẩy ra, có nhiều nớc khi mới áp dụng
luật thuế này đã gây tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội, gây
tăng lạm phát, đình trệ sản xuất kinh doanh nh ở Thụy Điển, Philipin,
Thái Lan có trờng hợp phải hoãn việc áp dụng nhiều lần nh ở Nhật Bản,
có nhiều trờng hợp phải mất một thời gian dài thuế GTGT mới phát huy
đợc tác dụng của nó nh ở Trung Quốc cần đến 10 năm (từ năm 1985 đến
năm 1995) Hungari cần đến 7 năm với nớc ta thời gian áp dụng mới
chỉ 4 năm nên cha phải là thời gian quá dài để thuế GTGT phát huy hết
tác dụng vốn có.
Thực tế vận hành thuế GTGT cho thấy công tác kiểm soát sau
thành lập doanh nghiệp còn bị buông lỏng , đã xuất hiện những doanh
nghiệp ma để trốn thuế. Việc doanh nghiệp khấu trừ thuế GTGT đầu
vào, vừa đợc chấp nhận chi phí hợp lý nên đã làm giảm thu NSNN (năm
2002: tốc độ tăng thu ngân sách khu vực là 14.1% cha tơng xứng với
tiềm năng và tốc đọ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực này là
19.4%), số thu từ thuế GTGT không phản ánh đúng thực chất kết quả
hoạt động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình trạng gian lận
thuế càng nghiêm trọng hơn khi việc quản lý hoá đơn chứng từ bị buông
lỏng. Đã xuất hiện nhiều loại hoá đơn giả, hoá đơn khống bất hợp pháp
đang lu hành và trở thành hàng hóa đợc mua công khai. Tình trạng khai
tăng số lợng, giá và giá trị hàng hoá để lấy tiền hoàn thuế bất hợp pháp
( chủ yếu là hàng hóa nông lâm thuỷ sản xuất khẩu qua biên giới đờng
bộ) cha đợc ngăn chặn và sử lý kiên quyết. Trật tự kỷ cơng tuân thủ pháp
luật thuế bị vi phạm. Môi trờng bình đẳng giữa doanh nghiệp làm ăn
đúng pháp luật với doanh nghiệp gian lận bị xói mòn.

phạm nghiêm trọng khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Trờng hợp qua kiểm tra, thanh tra phát hiện cơ sở kinh doanh có
hành vi gian lận trogn kê khai nộp thuế, hoàn thuế với số tiền thuế GTGT
gian lận từ 5 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh bị xử lý nh sau:
+ Không đợc khấu trừ, hoàn thuế với số thuế GTGT kê khai gian
lận.
+ Bị xử lý vi phạm về hành vi gian lận thuế theo quy định hiện
hành.
+ Không đợc cơ quan thuế giải quyết hoàn thuế đối với số thuế đề
nghị hoàn ghi trong hồ sơ xin hoàn thuế của cơ sở, trờng hợp đã đợc cơ
quan thuế giải quyết hoàn thuế thì cơ quan thuế phải thu hồi số thuế
GTGT đã hoàn.
+ Số thuế GTGT của hồ sơ đề nghị hoàn thuế sau khi đã loại trừ số
thuế GTGT kê khai gian lận, cơ sở kinh doanh phải kết chuyển sang kỳ
kê khai nộp thuế sau để bù trừ vào số thuế GTGT phải nộp.
- 17 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
+ Không đợc xem xét hoàn thuế trong thời gian 12 tháng kể từ khi
cơ quan thuế phát hiện có hành vi gian lận thuế. Hết hạn 12 tháng nếu cơ
sở kinh doanh đã khắc phục hậu quả, có ý thức chấp hành tốt các quy
định của luật thuế thì cơ quan thuế sẽ xem xét giải quyết hoàn thuế cho
số thuế GTGT đầu vào cha đợc bù trừ hết.
Trờng hợp cơ quan thuế kiểm tra, thanh tra định kỳ tại cơ sở kinh
doanh phát hiện cơ sở kinh doanh có hành vi gian lận thuế về thuế nêu
trên cũng bị xử lý theo quy định tại điểm này.
Các hành vi sau đây đợc coi là hành vi gian lận trong kê khai, nộp
thuế, hoàn thuế:
+ Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, bao gồm hóa đơn in
giả, hóa đơn khống (không bán hàng hóa, dịch vụ), hóa đơn giao cho ng-

Sau gần 5 năm thực hiện luật thuế GTGT, các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh với nhiều thủ đoạn tinh vi, móc nối, đã qua mắt nhiều
cán bộ thuế để thực hiện hành vi gian lận thuế GTGT trong việc trốn
thuế, khai man tiền để đợc hoàn thuế
- Trên địa bàn Hà Nội phát hiện 19 doanh nghiệp bằng nhiều thủ
đoạn đã chiếm đoạt 43 tỷ đồng tiền thuế GTGT, và đã thu hồi đợc hơn 33
tỷ đồng tiền hoàn thuế. Từ năm 2002 đến năm 2004 đã có hơn 100 văn
bản trao đổi giữa 2 cơ quan về doanh nghiệp có vi phạm, các doanh
nghiệp khác theo công văn đề nghị đã cơ bản đợc xem xét, giải quyết
theo thẩm quyền. Đặc biệt thời gian qua có một số doanh nghiệp không
kinh doanh mà dùng hóa đơn GTGT để bán cho các doanh nghiệp khác
sử dụng vào nhiều mục đích gian lận, sau đó bỏ kinh doanh gây ảnh hởng
xấu đến các doanh nghiệp chân chính. Cục thuế thành phố đã phát hiện 6
doanh nghiệp vi phạm chuyển sang công an thành phố khởi tố và thu hồi
hơn 600 triệu đồng. Hai cơ quan chức năng: Cục thuế thành phố và công
an thành phố vẫn đang tiếp tục kiểm tra các đối tợng vi phạm các luật
thuế, phòng ngừa các hành vi trốn lậu thuế và thu hồi tiền hoàn thuế
GTGT. Tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 đã hình thành một số tụ
điểm bán hóa đơn công khai đã gây ra những tổn thất khó lờng khi thực
hiện khấu trừ thuế, giảm thuế, hoàn thuế. Theo số liệu thống kê (thời báo
kinh tế số 93 tháng 5/2002) thì hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh có
800 doanh nghiệp, riêng ở quận Hai Bà Trng Hà Nội có 300 doanh
nghiệp đăng ký hoạt động mà không tồn tại.
Ông Nguyễn Văn Ninh, tổng cục trởng Tổng cục thuế cho biết, đã
thu hồi đợc 235 tỷ đồng tiền thuế GTGT bị gian lận. Trong đó, riêng
nghành thuế đã tiến hành thu đợc 140 tỷ đồng. Để chống thất thu và gian
lận thuế, năm 2004 cơ quan thuế sẽ không tiến hành thanh tra tràn lan
nh trớc mà chỉ tập trung vào khu vực có rủi ro cao, dựa trên các kết quả
phân tích. Cũng theo ông Ninh, 2 năm trở lại đây, cơ quan thuế cha phát
hiện có doanh nghiệp ma nào đợc thành lập nhằm lợi dụng hóa đơn để

doanh nghiệp với số tiền là 49 triệu đồng, kiểm tra không có hồ sơ nào vi
phạm. Năm 2000, hoàn thuế cho 5 hồ sơ, tiền hoàn thuế 430 triệu đồng,
5 hồ sơ không vi phạm. Năm 2001, hoàn thuế cho 17 hồ sơ , tiền hoàn
gần 28 tỷ đồng, không có hồ sơ nào vi phạm. Nhng năm 2002, hoàn thuế
cho 18 hồ sơ là 1,8 tỷ đồng, có 4 hồ sơ vi phạm, thu 3,2 triệu đồng, phạt
vi phạm là 2,5 triệu đồng.
- Gian lận về việc chuyển đổi mục đích của tài sản cố định. Quy
định thuế GTGT đối với tài sản cố định có số thuế GTGT đợc khấu trừ
hơn 200 triệu đồng có u điểm đã khuyến khích đợc các doanh nghiệp đẩy
- 20 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn có hiệu quả hơn trong
thời gian đầu mới thành lập. Nhng vấn đề đặt ra, nếu trong một vài năm
đầu thuế GTGT đối với TSCĐ đầu t đó dùng vào sản xuất mặt hàng chịu
thuế GTGT thì hoàn thuế là đúng và chính xác. Nhng thời gian sau,
doanh nghiệp lại dùng tài sản đó để sản xuất ra hàng hóa không chịu thuế
GTGT thì theo nguyên tắc không đợc hoàn thuế trong khi đó toàn bộ số
thuế đầu vào đã hoàn rồi. Nh vậy, rõ ràng doanh nghiệp đã gian lận tiền
hoàn thuế GTGT thông qua việc kê khai sai mục đích sử dụng của TSCĐ.
- Kê khai hóa đơn, chứng từ thiếu trung thực: Đây là vấn đề thực tế
mà cơ quan thuế khó có thể bắt bẻ đợc. Thờng thì các doanh nghiệp
không vào sổ sách kế toán khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế, bán hết
hàng không viết hóa đơn nhng vẫn kê khai, lợng tồn kho lớn để đợc hoàn
thuế. Nếu sau khi hoàn thuế không tổ chức kiểm tra ngay, cơ quan thuế
khó có số liệu đối chứng,phát hiện ra 1318 trờng hợp vi phạm, phải xử lý
hành chính thu về cho NSNN 113 tỷ đồng.
Từ năm 1999 đến 2002 thực hiện thuế GTGT nói chung và công
tác quản lý hoàn thuế nói riêng, cơ quan thuế đã loại trừ đợc 3150 trờng
hợp không đủ điều kiện hoàn thuế với số tiền là 3148 tỷ đồng, bằng
15,815% tổng số thuế đề nghị hoàn. Về công tác hậu kiểm, cơ quan thuế

GTGT này.
III. Nguyên nhân của gian lận thuế GTGT
1. Công tác quản lý đối với nộp thuế GTGT
Thứ nhất, tính mới của thuế GTGT :
Tính mới của thuế GTGT thể hiện ở điểm: Cơ sở tính thuế là
GTGT chứ không phải doanh thu hay lợi nhuận, hai phơng pháp áp dụng
riêng cho hai đối tợng nộp, quy trình thu và quản lý thuế mang tính công
nghệ, diện chịu thuế 0% khác cơ bản với diện không chịu thuế, giá tính
thuế khác nhau giữa các mặt hàng chịu thuế GTGT và mặt hàng không
chịu thuế GTGT, hóa đơn GTGT và hóa đơn thờng. Khái niệm thuế
GTGT tăng đầu vào, thuế GTGT đầu ra và đặc biệt là thuế GTGT đầu ra
bằng 0 đồng còn quá mới mẻ đối với ngời kinh doanh và cả với cơ quan
thu thuế. Tất nhiên, điều gì mới thoạt đầu sẽ đợc hiểu một cách lệch lạc,
thậm chí bị một số cá nhân xấu lợi dụng.
Thứ hai, cơ sở kế toán quốc dân cha hình thành hoặc cha đợc
chuẩn bị.
Đại bộ phận kinh doanh quy mô dới doanh nghiệp t nhân không
quan tâm đến chế độ kế toán quốc dân mà phản ánh hoạt động sản xuất
kinh doanh theo lôgic thô sơ. Nguy hiểm hơn là họ cho rằng sổ sách kế
toán là công cụ của cơ quan Nhà nớc kiểm tra, kiểm soát họ mà không
nghĩ rằng sổ sách, tài khoản, chứng từ là những phơng tiện căn bản
giúp họ tiếp cận hoạt động kinh doanh 1 cách có hệ thống để đánh giá,
đo lờng, phân tích kết quả kinh doanh cũng nh dự báo tơng lai. Thêm
nữa, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn là nền kinh tế tiền mặt. Mọi thanh
toán và giao dịch đều có thể dùng tiền mặt: tiền Việt Nam, vàng và ngoại
- 22 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
tệ (chủ yếu là USD). Điều này đợc các doanh nghiệp khai thác lập bộ hồ
sơ thanh toán khống, đồng thời cơ quan thuế cũng khó phát hiện để ngăn
chặn kịp thời.

phong trào và gây ra những hậu quả nặng nề thì Chính phủ và Bộ tài
chính cắt ngay điều khoản này mà không để ý rằng có không ít doanh
nghiệp chân chính bị vạ lây cách hành xử đó khiến dân chúng mất
- 23 -
Ngô Thị Thanh Bình QTKDTM 43A Đề án kinh tế thơng mại
niềm tin vào chính sách thuế mới và doanh nghiệp lơng thiện nghi ngờ
cách thức và năng lực điều hành nền kinh tế của Chính phủ.
Thứ năm, thiếu quyết liệt trong xử phạt.
Theo Bộ trởng tài chính Nguyễn Sinh Hùng, ở Trung Quốc đã xử
60 phạm nhân liên quan đến hoàn thuế. Thế nhng, ở nớc ta cha tử hình
tội phạm nào cả, thậm chí xử 20 năm tù cũng cha có. Theo thời báo tài
chính Việt Nam, dẫn nguồn tin từ tổng cục thuế, mức phạt cao nhất là
100 triệu đồng, đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng hóa đơn. Trên
thực tế, thiệt hại do sử dụng hóa đơn không trung thực khiến Nhà nớc
thất thoát hàng trăm tỷ đồng. Có vụ, một cá nhân chiếm đoạt nhiều tỷ
đồng tiền thuế. Nừu không trị quyết liệt thì luật pháp không khiến ngời ta
sợ, vẫn tiến triển nhan, đa dạng, tinh vi và ngày càng lớn về số tiền thuế
chiếm đoạt.
Thứ sáu, sự thoái hóa của một số cán bộ thuế và hải quan.
Không hiếm trờng hợp chính công chức thu ngân sách gợi ý và
tiếp tay cho một số cá nhân ăn tiền thuế. Điển hình là vụ Công ty TNHH
Thơng mại Việt Hùng trốn hơn 40 tỷ đồng tiền thuế có sự tiếp tay của hải
quan Thành phố Hồ Chí Minh, vụ án công ty Đông Nam có sự tiếp tay
của phi công, tiếp viên hàng không. Ngoài ra chủ trơng xuất khẩu tiểu
nghạch qua biên giới bị lợi dụng với sự tiếp sức của 1 vài nhân viên thuế
biến chất. Để thu 1 tỷ đồng thuế, nhiều cán bộ, nhân viên phải nỗ lực
phấn đấu trong thời gian có khi cả năm. Thế nhng chỉ cần hai ba phần tử
thoái hóa cũng gây thất thoát nhiều lần hơn trong thời gian ngắn. Điều
này khiến cho hình ảnh về cơ quan thuế dới con mắt doanh nghiệp và dân
chúng bị hoen ố.

trong các quyền và nghĩa vụ công dân.
- 25 -

Trích đoạn Về cải cách hành chính Kiến nghị của bản thân:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status