mối quan hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta - Pdf 10

Lời nói đầu
Tục ngữ Việt Nam có câu: Có thực mới vực đợc đạo. Nh vậy là cha
ông ta từ xa đã thấy rõ con ngời khi làm bất cứ điều gì nếu thiếu đi cái thực
thì dù cho có những đạo lý đúng đắn soi đờng cũng không bao giờ làm đợc.
Giống nh Mac-Anghen đã tìm ra quy luật phát triển của con ngời: Trớc khi
con ngời muốn làm một điều gì đó từ những việc giản đơn cho đến những việc
lớn hơn nh hoạt động chính trị, nghệ thuật, khoa học v.v thì đầu tiên họ phải
tồn tại, phải có những nhu cầu cơ bản ăn mặc ở của con ngời.
Nhng nếu con ngời cứ mãi chú tâm vào cái thực chỉ đuổi theo những
điều kiện vật chất bình thờng thì đơng nhiên khó tránh khỏi lầm đờng lạc lối.
Cũng vì vậy mà trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay khi điều kiện sản
xuất phát triển cũng nh cơ hội làm giàu đã mở ra cho mỗi cá nhân có khả năng
sáng tạo và tầm nhìn chiến lợc thì việc tìm hiểu mối liên hệ, sự liên quan mật
thiết giữa lý luận và thực tiễn để có thể vận dụng cái này để phát triển cái kia
rồi từ đó mà phát triển kinh tế là điều hết sức quan trọng và cấp thiết.
Nh đã nói ở trên, lý luận và thực tiễn luôn đòi hỏi phải đợc xem xét
trong sự thống nhất biện chứng nghĩa là tuy thực tiễn quyết định lý luận nhng
khi quay trở lại thì lý luận sẽ chỉ đạo thực tiễn. Việc đảm bảo tính thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn sẽ thúc đẩy hoạt động của con ngời, tạo ra những
chuyển biến lớn, những bớc ngoặt trong cả lý luận và thực tiễn.
Nếu nh việc nghiên cứu về mối liên hệ gia lý luận và thực tiễn đã quan
trọng thì vấn đề đổi mới t duy và đổi mới kinh tế lại càng quan trọng hơn bởi
vì xét đến cùng mục đích của chúng ta là phát triển nền kinh tế - nền tảng của
xã hội và cũng là trung tâm của các hoạt động xã hội khác. Chúng ta hiểu rằng
đổi mới kinh tế phải là một quá trình chuyển biến có tính chất bớc ngoặt về đ-
ờng lối và chính sách kinh tế-xã hội. Xét nớc ta, mặc dù mới đợc thực hiện
trong thời gian gần đây nhng công cuộc đổi mới kinh tế đã tạo nên những thay
đổi căn bản trong đời sống xã hội nớc ta. Quá trình đổi mới ở nớc ta diễn ra
từng bớc tuy chậm nhng đã và đang tạo nên nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội
mà phần đông nhiều nhà bình luận quốc tế thừa nhận là đáng kinh ngạc.
Sau một chục năm, nền kinh tế đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng,

tiễn. Thực tiễn là gì?
Trong lịch sử triết học, phạm trù thực tiễn đã từng xuất hiện trớc triết
học Mác. Chẳng hạn trong triết học Phoi ơ Bắc và cả trong triết học duy tâm
của Hêghen đã đề cập đến phạm trù thực tiễn nhng ở Phoi ơ Bắc và chủ nghĩa
duy vật trớc Mác nói chung đều quan niệm thực tiễn chỉ thuần tuý là hoạt
động kiếm miếng ăn, là hoạt động con buôn bẩn thỉu. Họ không thấy đợc vai
trò sáng tạo, vai trò cải tạo thế giới của thực tiễn. Theo Hêghen thì thực tiễn là
hoạt động có ý chí của t tởng. Vì triết học của Hêghen đặt trên nền tảng sự
vận động của ý niệm tuyệt đối. Do đó thực tiễn chỉ đợc ông xem xét nh 1
phạm trù logic thể hiện 1 giai đoạn phát triển của ý niệm tuyệt đối mà thôi.
Triết học Mác đã thừa nhận mặt vật chất, mặt cảm tình trực tiếp của
hoạt động thực tiễn trong quan niệm triết học của Phoi ơ Bắc, đồng thời cũng
thấy mặt hoạt động có ý chí trong quan niệm của triết học Hêghen. Nhng
cao hơn, triết học Mác còn thấy vai trò sáng tạo, vai trò cải tạo thế giới, vai trò
nền tảng phát triển xã hội của hoạt động thực tiễn. Vậy thực tiễn là gì?
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch sử-xã hội của
con ngời nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, con ngời sử dụng những công cụ vật chất tác
động vào những đối tợng vật chất, làm biến đổi chúng theo mục đích của
mình. Những hoạt động nh vậy đợc thực hiện một cách tất yếu khách quan.
Thực tiễn là hoạt động đặc trng, bản chất của con ngời, không ngừng phát
triển bởi các thế hệ loài ngời.
Nh vậy, thực tiễn không chỉ là những hoạt động vật chất của từng con
ngời cá biệt mà là dạng hoạt động cơ bản của loài ngời trong quá trình phát
triển lịch sử của mình. Xét từ nội dung cũng nh phơng thức thực hiện, hoạt
động thực tiễn mang tính chất xã hội. Chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay
đổi đợc thế giới hiện thực, mới thực sự mang tính chất phê phán và cách
mạng. Tất nhiên hoạt động thực tiễn không thể tách vai trò hớng dẫn của nhận
thức, của lý luận nhng lý luận tự nó không thể làm biến đổi đợc hiện thực.
3

và họ cũng luôn cho ta những lời khuyên sáng suốt đó sao.
Tất cả những điều trên đã cho thấy thực tiễn phải là yếu tố quyết định
của lý luận. Nhng lý luận cũng tác động đến thực tiễn với 1 vai trò không nhỏ:
chỉ đạo thực tiễn.
4
1.2. Khi lý luận quay trở lại thực tiễn nó sẽ chỉ đạo thực tiễn
Ta hiểu rằng lý luận là trình độ cao của nhận thức, là một hệ thống
những tri thức đợc khái quát từ thực tiễn, phản ánh nhiều mối liên hệ bản chất,
quy luật của thế giới khách quan. Mà ta đã biết theo quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng: quá trình nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách
quan vào bộ óc con ngời. Nó không phải là sự phản ánh giản đơn máy móc mà
là sự phản ánh có tính chất biện chứng. Nó là quá trình phức tạp của hoạt động
trí tuệ tích cực và sáng tạo. Nh vậy lý luận đã nâng nhận thức lên 1 tầm cao
hơn.
Tuy rằng tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu đợc trong cuộc
sống hàng ngày của con ngời nhng tri thức kinh nghiệm lại có hạn chế bởi
trình độ tri thức kinh nghiệm cha thể nắm bắt cái tất yếu sâu sắc nhất, mối
quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tợng. Anghen trong cuốn sách biện
chứng về tự nhiên đã nhận xét: "Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không
bao giờ có thể chứng minh đợc đầy đủ tính tất yếu". Nh vậy lý luận là 1 trình
độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Nếu nh kinh nghiệm chỉ là những kiến
thức đợc tích luỹ đơn thuần từ hoạt động thực tiễn thì tri thức lý luận là tri thức
khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm,
phạm trù, quy luật của lý luận.
Lý luận đợc hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm
nhng lý luận không hình thành 1 cách tự phát từ kinh nghiệm và không phải
mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tợng và khái quát cao.
Nhờ đó nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính quy luật của các sự
vật hiện tợng khách quan. Theo Mác, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là " đem

nhất biện chứng
Rõ ràng là vai trò của lý luận cũng quan trọng không kém vai trò của
thực tiễn. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải nhìn nhận mối quan hệ này nh
thế nào.
Chủ nghĩa Mác-Lê nin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất
biện chứng-đó là nguyên tắc cơ bản trong chủ nghĩa Mác-Lê nin. Hoạt động
của con ngời đợc chia làm hai loại: một là hoạt động thực tiễn tức là hoạt động
vật chất và một là hoạt động nhận thức lý luận là hoạt động tinh thần. Hai hoạt
động này không thể tách rời vì chúng song song diễn ra, bổ sung cho nhau.
Thực tiễn tuy có vai trò quyết định đối với lý luận nhng nếu không có lý
luận dẫn dắt sẽ trở thành thực tiễn mù quáng. Bởi vậy, mặc dù chúng ta cần
coi trọng những kinh nghiệm do thực tiễn của bản thân đa lại song nếu chỉ dựa
vào kinh nghiệm của bản thân, tuyệt đối hóa nó, coi thờng lý luận thì sẽ mắc
bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Đúng nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Có kinh
nghiệm mà không có lý luận cũng nh một mắt sáng một mắt mờ".
6
Hơn nữa, chúng ta đều biết rằng mặc dầu những vấn đề bức bách do
cuộc sống, do hoạt động thực tiễn đặt ra bao giờ cũng là những vấn đề hết sức
cụ thể, nhng để giải quyết những vấn đề hết sức cụ thể ấy một cách có hiệu
quả thì không một ai có thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, là
cơ sở cho việc giải quyết những vấn đề cụ thể đó.
V.I.Lênin đã từng nhận xét: "Ngời nào bắt tay vào những vấn đề riêng tr-
ớc khi giải quyết các vấn đề chung thì kẻ đó, trên mỗi bớc đi sẽ không sao
tránh khỏi vấp phải những vấn đề chung đó một cách không tự giác. Mà mù
quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trờng hợp riêng thì có nghĩa là đa
chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính
nguyên tắc". (V.I.Lênin toàn tập) Chính vì vậy mà chúng ta lại càng phải coi
trọng vai trò chỉ đạo của lý luận đối với thực tiễn.
Mặt khác, cũng phải thấy rằng do tính gián tiếp, trừu tợng cao trong sự
phản ánh hiện thực nên lý luận đã có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo

Bắc theo kiểu mẫu nền kinh tế kế hoạch tập trung, mặc dù trải qua mấy chục
năm chiến tranh đã bị biến dạng nhiều nhng vẫn mang một số đặc trng lớn của
nó.
Thứ nhất là, nhà nớc trực tiếp điều khiển các hoạt động kinh tế quan
trọng trong cả nớc thông qua hệ thống các kế hoạch sản xuất và phân phối
hàng hoá, thông qua hệ thống giá cả, tỉ giá, lãi suất đợc quy định nghiêm ngặt.
Với mong muốn sớm làm cho sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể chiếm vị trí
chủ đạo trên phạm vi toàn nền kinh tế; nhà nớc trực tiếp đầu t qua tín dụng để
trợ giúp cho các thành phần kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể để ngày càng
chiếm tỉ trọng lớn. Kinh tế t nhân quy mô lớn không đợc khuyến khích phát
triển và là đối tợng của sự cải tạo để dần dần trở thành kinh tế nhà nớc hay
kinh tế tập thể.
Trong khi đó, cơ chế thị trờng chỉ hoạt động trong phạm vi kinh doanh
nhỏ và kinh tế gia đình, tức là ở một phần nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và bán lẻ hàng tiêu dùng, dịch vụ. Phần lớn t liệu sản xuất đợc coi không phải
là hàng hoá, không đợc phép mua bán tự do trên thị trờng mà đợc phân phối
theo hệ thống kế hoạch hoá của nhà nớc. Nhà nớc còn độc quyền trong hoạt
động ngoại thơng. Do hoàn cảnh lịch sử, hầu hết các quan hệ mậu dịch quốc
tế của Việt Nam là với Liên Xô và Đông Âu. Các công ty ngoại thơng của
Nhà nớc thực hiện những hiệp định buôn bán đó. Lãi hay lỗ của hoạt động
ngoại thơng đều đợc đa vào ngân sách Nhà nớc. Còn t nhân không hề đợc
tham gia vào hoạt động này.
Ngoài ra, ngân sách Nhà nớc còn bù đắp các khoản lỗ của doanh nghiệp
quốc doanh và thu phần lớn lợi nhuận chung. Nh vậy là tài chính quốc gia và
tài chính của các doanh nghiệp quốc doanh không tách biệt nhau. Nhà nớc còn
trợ cấp cho toàn bộ hoạt động sản xuất thông qua việc bán với giá thấp nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị đợc nhập khẩu bằng tiền vay nợ của Nhà nớc hoặc
8
viện trợ cho Chính phủ. Vì thế thiếu hụt ngân sách và nợ nớc ngoài tăng lên
cùng với sự tăng trởng của sản xuất. Chính sách kinh tế nh vậy có u điểm là

2.1.2. Những điều kiện kinh tế đã làm nền tảng cho việc phát triển t duy
Đầu tiên là việc cắt giảm nguồn viện trợ bên ngoài - vốn là nguồn thu
đáng kể của ngân sách Nhà nớc - vào những năm 1979-1980 đã làm bộc lộ rõ
9
những điểm yếu và tính lỗi thời của các thể chế kinh tế kiểu thời chiến, điều
hành tập trung vào bao cấp đó, thúc đẩy tìm kiếm các giải pháp mới.
Trong bối cảnh nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, những ý t-
ởng cải cách trên một số lĩnh vực kinh tế quan trọng đã xuất hiện. Đầu tiên, đó
là những cố gắng của "phía dới", tức là của các đơn vị cơ sở và các gia đình,
tìm cách "phá rào", luồn lách qua những khe hở của thể chế hiện hành để hoạt
động có hiệu quả hơn. Đây quả là một điểm khá đặc biệt nhng cũng dễ hiểu vì
khi bị những chính sách lớn gò bó và hạn chế thì sớm hay muộn sức sáng tạo
cũng sẽ tự nó thoát ra ngoài. Sau đó, "phía trên" - tức là bộ máy quản lý các
cấp của Nhà nớc, thấy đợc sự cần thiết và tính hợp lý của việc điều chỉnh các
chính sách và thể chế.
Kết quả của quá trình đó là một số hình thức mới vận hành nền kinh tế
đã đợc thử nghiệm, đi vào thực tế cuộc sống và đợc chấp nhận ở quy mô rộng.
Những biện pháp tự do hoá hoạt động kinh tế đợc áp dụng từng bớc và sự can
thiệp trực tiếp của bộ máy hành chính vào lĩnh vực kinh tế cũng giảm đi một
cách tơng ứng. Những kết luận của hội nghị lần VI ( khoá 4 ) Ban chấp hành
Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam tháng 9-1979 cho rằng phải coi trọng
hiệu quả kinh doanh, nới lỏng sự quản lý hành chính đối với các hoạt động
kinh tế nằm ngoài kế hoạch và ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, chuyển
trọng điểm đầu t từ lĩnh vực công nghiệp nặng, quy mô lớn sang sản xuất hàng
tiêu dùng quy mô vừa và nhỏ, chú ý đúng mức tới lợi ích của các tập thể và cá
nhân ngời lao động. Theo hớng đó đã có một loạt thay đổi diễn ra trong các
lĩnh vực kinh tế cụ thể. Những điều này đã cho thấy rõ vai trò của thực tiễn đối
với lý luận t duy.
Nớc ta xây dựng Chủ nghĩa xã hội nhng lại xuất phát từ một xã hội
thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ

đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới t duy của Đảng mà bớc ngoặt của nó là Đại
hội VI. Sự năng động của quần chúng và sự nhạy cảm của lãnh đạo là nguyên
nhân quan trọng dẫn đến quá trình đổi mới.
Nh đã nói ở trên, so với công cuộc cải cách và chuyển đổi từ kinh tế tập
trung sang kinh tế thị trờng ở các quốc gia khác, đổi mới ở Việt Nam có
những nét đặc thù riêng: đổi mới ở Việt Nam diễn ra từ cả hai chiều: từ dới lên
- tức là từ các doanh nghiệp và trong nội bộ dân c, và từ trên xuống - tức là từ
các quyết định của hệ thống lãnh đạo Đảng và Nhà nớc. Mối quan hệ hai
chiều tơng đối nhanh nhạy giữa Đảng và nhân dân trong việc nảy sinh, nhận
biết và đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của các chính sách kinh tế, xã hội đã làm
cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam diễn ra không có sự xung đột giữa "phía
trên" và "phía dới", cũng nh không có các "cú sốc" quá mạnh đợc tạo ra bởi
các chính sách và biện pháp điều chỉnh vĩ mô quá cứng rắn và duy ý chí của
bộ máy lãnh đạo "phía trên". Và ở nớc ta nhu cầu đổi mới các chính sách kinh
tế đã xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, từ thực tiễn, chứ không phải là hệ quả
11
của những biến động chính trị. Sự chuyển từ thời kì chiến tranh sang hoà bình
đã làm bùng nổ các nhu cầu về đời sống, từ đó làm nảy sinh yêu cầu tháo gỡ
các cản trở về quản lý kinh tế và sau đó dẫn đến những thay đổi trong quan
niệm về sự vận hành của nền kinh tế. Nói một cách khác là thực tiễn đã làm
"tan băng" các quan niệm xơ cứng và thúc ép hình thành hệ thống lý luận và
quan niệm mới phù hợp hơn. Tóm lại, một đặc điểm nổi bật của quá trình đổi
mới ở Việt Nam là vừa có sự sáng tạo của quần chúng từ bên dới lên, vừa có
sự chỉ đạo từ bên trên xuống. Do đó, đổi mới đã dẫn đến những thành công.
Có thể khái quát những nội dung của đổi mới kinh tế là: Chuyển từ nền kinh tế
tập trung sang chế độ sở hữu toàn dân; Thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội
và Mở cửa, tăng cờng hợp tác với bên ngoài.
Qua thực tế hơn 15 năm đổi mới, Đảng đã rút ra những kết luận quan
trọng điều chỉnh bổ sung cho nhiều chủ trơng chính sách, từng bớc phát triển
đờng lối đổi mới. Đây chính là khả năng của thực tiễn giúp cho lý luận thêm

những lý luận đã có vào cuộc sống. Thông qua đó mà một loạt những chuyển
biến đợc hình thành đã tạo động lực cho đổi mới kinh tế.
Chuyển biến thứ nhất là từ t duy dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với
sự tuyệt đối hoá sở hữu nhà nớc và tập thể, với sự phát triển vợt trớc của quan
hệ sản xuất đối với lực lợng sản xuất sang t duy mới xây dựng nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo trong
sự thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các
hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trng chủ yếu, nhằm
thúc đẩy phát triển sản xuất. Đây là chuyển biến căn bản mà ý nghĩa sâu xa
của nó là tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, và tuỳ thuộc vào trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất mà từng bớc thiết lập quan hệ sản xuất tơng ứng,
nhờ đó, mở đờng giải phóng mọi tiềm năng xã hội, giải phóng sức sản xuất,
trong đó có nhân tố quan trọng bậc nhất là con ngời với tất cả sự năng động,
sáng tạo của họ. Bớc chuyển này có ý nghĩa cách mạng. Nó đặt đúng vị trí và
tầm quan trọng của cái tất yếu kinh tế trong sự phát triển của nớc ta.
Chuyển biến thứ hai là từ t duy quản lý kinh tế dựa trên mô hình một
nền kinh tế chỉ huy tập trung, kế hoạch hoá tuyệt đối với cơ chế bao cấp và
bình quân sang t duy quản lý mới thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo
định hớng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của kế hoạch ở tầm vĩ mô, thông
qua quản lý, kiểm soát bằng pháp luật của Nhà nớc. Nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng dẫn tới sự tác động, thâm
nhập lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế, tạo thành sự đan xen các hình thức
sở hữu, các phơng thức tổ chức quản lý, các phơng thức phân phối lợi ích phù
hợp với yêu cầu của quan hệ sản xuất mới, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của lực lợng sản xuất ở thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
13
Con ngời với t cách vừa là chủ thể sản xuất - kinh doanh, vừa là chủ thể
tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá đã đợc đặt vào những cơ hội nh nhau để phát

đều nh nhau. Tất nhiên không phải vì thế mà chúng ta tách khỏi sự giao lu,
hợp tác quốc tế. Vấn đề đặt ra là phải kết hợp dân tộc với quốc tế, truyền
thống với hiện đại. Đó cũng là cơ sở của đờng lối đối ngoại. Nó mở ra khả
năng để Việt Nam tham gia vào thị trờng kinh tế thế giới, vào đời sống chính
14
trị quốc tế, vào sự giao lu, hợp tác văn hoá. Tuy nhiên, để giữ vững định hớng
xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khắc phục những ảnh hởng của chủ nghĩa giáo
điều, máy móc, tiếp nhận và sao chép mô hình nớc ngoài, đồng thời linh hoạt,
mềm dẻo trong sách lợc, phù hợp với hoàn cảnh, thời cuộc hiện nay. Thực tiễn
gần 15 năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy, kiên trì con đờng xã hội chủ nghĩa,
phát triển kinh tế, văn hoá và tổ chức quản lý xã hội thông qua hàng loạt
những biện pháp thực tiễn sáng tạo vừa phù hợp với đặc điểm của nớc mình,
vừa thích ứng với xu thế của thời đại là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển lành
mạnh, tích cực của sự nghiệp đổi mới.
Chuyển biến thứ năm trong sự hình thành quan niệm mới của Đảng về
chủ nghĩa xã hội là những nhận thức mới về nhân tố con ngời - nhân tố quyết
định thành công của chủ nghĩa xã hội. Khắc phục những hạn chế và khiếm
khuyết của nhận thức về chủ nghĩa xã hội có liên quan đến vấn đề con ngời,
chúng ta đã làm sáng tỏ hơn t tởng nhân đạo, khoa học và cách mạng của
Mác, Ăng-ghen, Lê-nin và Hồ Chí Minh. Trong khi phê phán và cơng quyết
loại bỏ chủ nghĩa cá nhân, chúng ta thừa nhân và bảo vệ những lơi ích chính
đáng của cá nhân, coi lợi ích cá nhân của những ngời lao động là một trong
những động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tất cả những điều trên đã góp phần đa đất nớc ra khỏ khủng hoảng kinh
tế - xã hội, mang lại diện mạo mới cho nền kinh tế nớc nhà. Thành quả của nó
đối với nền kinh tế quả là rất to lớn.
2.2.2. Thành quả của việc áp dụng đổi mới t duy trong đổi mới kinh tế
Đầu tiên là việc mở cửa nền kinh tế và đổi mới chính sách cơ cấu, đem
lại những thành công rực rỡ cho công cuộc đổi mới. Cho đến nay, nền kinh tế
nhiều thành phần đã cơ bản hình thành, tạo nên sự sống động mới trong sản

nghiệp hoá và hợp tác hoá đã làm cho sản lợng nông nghiệp tăng đáng kể,
giảm bớt sức lao động của con ngời.
2.2.3. Những đổi mới có tính đột phá
Một cách toàn diện và đầy đủ, chúng ta đã coi thị trờng vừa là căn cứ,
vừa là đối tợng của kế hoạch - kế hoạch chủ yếu mang tính định hớng và đặc
biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô. Mặt khác, thị trờng có vai trò trực tiếp h-
ớng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phơng án tổ chức
sản xuất kinh doanh trên cơ sở đó đã không ngừng tạo lập đồng bộ dẫn các
yếu tố của thị trờng ( hàng hóa và dịch vụ, công nghệ, các dịch vụ thông tin, t
vấn, tiếp thị, pháp lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, bảo lãnh, tiền
vốn, sức lao động ). Điểm này cho thấy rõ hơn mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận t duy và thực tiễn đổi mới kinh tế.
Từng bớc xoá bao cấp triệt để, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, hình
thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch,
chính sách v.v Mở rộng thị trờng giao lu hàng hoá thống nhất suốt cả nớc
từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế, xác định quyền của con ngời sở hữu quyền
16
của con ngời sử dụng t liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nớc trong lĩnh
vực kinh tế. Giá cả, tỷ giá hối đoái, lãi suất tín dụng đều đợc hình thành theo
cơ chế thị trờng Nh vậy, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về kết quả kinh doanh của mình, đổi mới và nâng cao hiệu lực hớng dẫn, kiểm
soát và diều tiết của nhà nớc.
Quá trình đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế trong thời gian qua luôn
gắn với giải quyết những vấn đề cấp bách nóng bỏng của nền kinh tế. Thực tế
chứng minh, bằng cơ chế, chính sách kinh tế đợc đổi mới đã đa đất nớc ra
khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phá đợc thế bao vây, cấm vận về kinh tế; và
hiện nay cũng đang còn nhiều vấn đề tồn tại về cơ chế, chính sách cần đợc tập
trung tháo gỡ, đổi mới.
2.3. Những điều cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới t duy ở n-
ớc ta

khác, có mặt lại gần nh không đổi mới đợc bao nhiêu. Có ngời nói nhiều về
đổi mới, nhng trong việc làm, trong hoạt động thực tiễn lại không đổi mới,
càng không đổi mới khi đụng chạm đến lợi ích của bản thân hay gia đình, thân
thuộc của mình. Khi đã bị cầm tù bởi những nhận thức lạc hậu, lỗi thời, bị trói
buộc bởi những t tởng sai lầm, cơ hội, cá nhân chủ nghĩa, bị chi phối bởi ph-
ơng pháp t duy siêu hình, giáo điều xơ cứng, thì con ngời không thể đổi mới
đợc. Đổi mới t duy là phải giải phóng khỏi tất cả những điều đó.
Trong quá trình đổi mới, cũng có một chiều hớng khác chỉ thấy những
hạn chế, tiêu cực diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ biết chê
bai, phê phán nh ngời ngoài cuộc, mà không đề xuất đợc những giải pháp có
hiệu quả. có khi nêu giải pháp, nhng nếu thực hiện theo những giải pháp đó,
thì chắc chắn chỉ đa công cuộc đổi mới đến đổ vỡ, thất bại. Nhân danh đổi
mới, có ngời còn đi đến phủ định cả chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin,
chứ không phải nhận thức lại cho đúng, đồng thời nêu ra đợc những kiến giải
để bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội phù hợp với
những điều kiện lịch sử mới. Chiều hớng đó hoàn toàn xa lạ với việc đổi mới
t duy của chúng ta.
Và điều quan trọng nhất đó là: khi áp dụng những lý luận t duy cần phải
xem xét cụ thể về điều kiện lịch sử, hoàn cảnh thực tế để hoạt động kinh tế có
hiệu quả.
2.4. Kiến nghị và giải pháp
Trong tình hình đất nớc ta hiện nay tuy quá trình đổi mới đã diễn ra gặt
hái đợc nhiều thành công song vẫn con một số vấn đề còn tồn tại cần tập trung
tháo gỡ. Trên cơ sở những tài liệu đã tham khảo, bài tiểu luận này sẽ đa ra một
vài giải pháp khả thi sau:
Đầu tiên và nhất quán trong toàn bộ quá trình đổi mới đó là ta phải giữ
vững định hớng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế. Điều này là rất quan
trọng bởi nó sẽ giúp ta đi đúng hớng tránh khỏi nhiều sai lầm lớn về t tởng ảnh
18
hởng đến sự nghiệp đổi mới. Đấy cũng là định hớng cho việc tiếp tục đổi mới

Phần kết
Sau khi đã tìm hiểu và nghiên cứu về những mối liên hệ, ảnh hởng giữa
đổi mới kinh tế và đổi mới t duy ở nớc ta, chúng ta có thể đánh giá lại quá
trình đổi mới, phát triển kinh tế một cách tổng quát và rút ra bài học từ chính
quá trình đổi mới.
Việt Nam tiến hành cải cách trong bối cảnh bị cô lập tơng đối cả về
chính trị và kinh tế. Nguồn viện trợ, cho vay của Liên Xô bị cắt từ cuối những
năm 80; các tổ chức tài chính quốc tế lớn gới hạn sự trợ giúp của họ cho Việt
Nam ở lĩnh vực t vấn. Trái lại sự phong toả vê kinh tế, sự lôi cuốn Việt Nam
vào những xung đột chính trị và quân sự bởi các yếu tố bên ngoài đã buộc đất
nớc phái tiêu hao nhiều nguồn lực mà lẽ ra có thể dùng cho tăng trởng kinh tế,
phát triển xã hội. Trong bối cảnh nh vậy, nên độc lập và sự đoàn kết dân tộc có
tính chất truyền thống vẫn đợc bảo tồn song song với quá trình cải cách đổi
mới.
Chúng ta đã lấy chủ nghĩa Mac-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng t tởng và kim chỉ nam cho hoạt động là nhằm giải quyết thắng lợi những
yêu cầu của công cuộc đổi mới, của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hhiện
đại hoá đất nớc hiện nay. Đó chính là vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển
chủ nghĩa Mac-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là con đờng phát triển
tiếp tục t duy của Đảng và của dân tộc.
Với thực tiễn đổi mới, trớc hết là đổi mới t duy, nhận thức nề chủ nghĩa
xã hội và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày một rõ ràng và
đầy đủ hơn. Điều này, trên thực tế đã trở thành một nguồn lực đặc biệt có ý
nghĩa bảo đảm cho mỗi hoạt động kinh tế văn hoá, xã hội cụ thể trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nớc.
Nhận thức bao giờ cũng là một quá trình đi từ đơn giản đến phức tạp, từ
cha hoàn thiện tới hoàn thiện hơn. Hơn thế nữa chủ nghĩa xã hội lại là một
hiện tợng mới mẻ, đang vận động sinh thành trong lịch sử loài ngời. Bởi vậy,
bám sát thực tiễn, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận đó là
yêu cầu to lớn mà thực tiễn đặt ra cho hoạt động lý luận của Đảng.

1.3. Sự cần thiết phải đặt lý luận và thực tiễn trong mối quan hệ thống
nhất biện chứng 6
2. Mối quan hệ giữa đổi mới t duy và đổi mới kinh tế ở nớc ta 8
2.1. Quá trình đổi mới kinh tế ở nớc ta đã đa đến sự phát triển, đổi mới về
t duy 8
2.1.1. Thực trạng nền kinh tế nớc ta những năm đầu khi cha có đổi mới
t duy 8
2.1.2. Những điều kiện kinh tế đã làm nền tảng cho việc phát triển t duy
9
2.2. Đổi mới t duy đã trở thành động lực của đổi mới kinh tế 12
2.2.1. Đờng lối đổi mới của Đảng đợc hình thành thông qua hàng loạt
chuyển biến của t duy 12
2.2.2. Thành quả của việc áp dụng đổi mới t duy trong đổi mới kinh tế
15
2.2.3. Những đổi mới có tính đột phá 16
2.3. Những điều cần quan tâm trong đổi mới kinh tế và đổi mới t duy ở n-
ớc ta 17
2.4. Kiến nghị và giải pháp 18
Phần kết 20
Tài liệu tham khảo 22
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status