LuËn v¨n tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây những yêu cầu về môi trường đang ngày
càng trở thành một rào cản thương mại to lớn thì các doanh nghiệp buộc phải
có cách nhìn nhận mới về vấn đề môi trường. Các doanh nghiệp càng ngày
càng phải nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải đạt tới hoạt động kinh
doanh bền vững và giảm các tác động môi trường do các hoạt động công
nghiệp gây ra. Từ đó để hướng tới “phát triển bền vững”, đạt được sự cân
bằng giữa tăng trưởng kinh tế cùng với quá trình tiến bộ xã hội và bảo vệ môi
trường.
Khi đời sống của người dân được nâng cao thì nhận thức về môi trường
ngày càng phát triển họ bắt đầu có những đòi hỏi sản phẩm và hoạt động sản
xuất “thân thiện với môi trường” hơn. Đồng thời các doanh nghiệp cũng chịu
áp lực từ phía các nhà đầu tư, người lao động, các cơ quan pháp luật, ngân
hàng…Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần phải có sự tiếp cận với phương
pháp hạch toán quản lý môi trường mới ngoài cách quản lý truyền thống hiện
nay. Với phương pháp này toàn bộ các chi phí môi trường được phân biệt rõ
ràng với các chi phí khác, từ đó cho doanh nghiệp xác định rõ các chi phí môi
trường trong quản lý và sản xuất, giúp doanh nghiêp đánh giá được đầy đủ
các chi phí môi trường trực tiếp và gián tiếp vào trong bảng cân đối thu chi
nội bộ của doanh nghiệp và phân bổ nó hợp lý hơn đối với từng sản phẩm.
Các doanh nghiệp cần xem xét vấn đề môi trường một cách hệ thống và có
phương pháp để đảm bảo duy trì mục đích cao nhất là lợi nhuận. Cần phải
biết chi phí môi trường gồm những chi phí gì, chiếm bao nhiêu phần trăm
trong giá thành sản phẩm, những hoạt động nào làm tăng chi phí môi trường.
Từ đó để phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững, giảm thiểu những tác động
ô nhiễm trực tiếp bằng các hệ thống xử lý hoặc gián tiếp bằng các hoạt động
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nhằm nâng cao ý thức, sức khoẻ, và cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ
ng xó hi theo nguyờn tc phỏt trin bn vng. Mt khỏc, hch toỏn mụi trng
cng cú th c hiu l mt thut ng rng cp ti s ho nhp ca yu t chi
phớ v thụng tin mụi trng vo nhng ni dung khỏc nhau ca h thng hch
toỏn kinh doanh ca doanh nghip. Do ú hch toỏn mụi trng l mt phng
phỏp tr giỳp cho quỏ trỡnh ra quyt nh kinh doanh cú tớnh n cỏc c hi v
thỏch thc mụi trng doanh nghip ngy nay ang phi i mt.
H thng hch toỏn mụi trng cú th chia lm 3 loi:
* Hch toỏn qun lý mụi trng (EMA)
* Hch toỏn mụi trng bờn ngoi (EEA), c tin t v phi tin t
* Cỏc h thng hch toỏn mụi trng khỏc
Hch toỏn qun lý (MA) l quỏ trỡnh xỏc nh, thu thp, phõn tớch cỏc
thụng tin cho mc ớch kinh doanh ca cụng ty theo nguyờn tc ó nh. Vỡ
mc ớch chớnh ca MA l giỳp cho quỏ trỡnh ra quyt nh v qun lý kinh
doanh nờn nú cng c xem xột k cng. MA cú th bao gm cỏc d liu v
chi phớ, mc sn xut, tn kho, ng v cỏc khớa cnh quan trng khỏc
cu kinh doanh. Cỏc thụng tin thu thp c t h thng MA c s dng
Vũ Thị Minh Trang Lớp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát bằng nhiều cách. Hiểu theo cách thông
thường, MA là một công cụ quản lý bên ngoài quyết định cho cả các tổ chức
cá nhân và các tổ chức công cộng.
MA không phải là một công cụ đơn lẻ mà là một bộ các công cụ mà
những cung cấp quản lý khác nhau có những quan tâm và yêu cầu khác nhau.
Ở cấp quản lý cao nhất sẽ quan tâm đến thông tin mang tính chiến lược là
đem lại lợi nhuận như thế nào, kinh doanh của công ty sẽ đạt doanh thu bao
nhiêu hay bị thua lỗ bao nhiêu, còn những người quản lý sản xuất cấp dưới lại
quan tâm đến thông tin chi tiết, cụ thể liên quan đến quá trình sản xuất hay
một bộ phận sản xuất cụ thể nào đó
Vậy MA có thể định nghĩa “ MA là sự nhận dạng, đo lường, tích luỹ,
phân tích, chuẩn bị, giải thích và truyền đạt thông tin giúp đỡ các nhà quản
Cõu hi m cỏc nh qun lý cao nht ca mt cụng ty thng a ra l:
Tụi cú cn thụng tin mụi trng ra quyt nh qun lý ca cụng ty? Bi
vỡ a s doanh nghip u ngh rng vn mụi trng khụng quan trng
Vũ Thị Minh Trang Lớp KTMT 45
Hch toỏn qun lý
(bao gm c hch toỏn
qun lý mụi trng)
Thụng tin hch toỏn
cho khỏch hng
Hch toỏn mụi trng
Hch toỏn
thu
Hch toỏn
ti chớnh
Thụng tin hch toỏn
cho ngi cho vay
vn
Hch toỏn khỏc
HCH
TON
NGOI
CễNG
TY
HCH
TON
NI
B
LuËn v¨n tèt nghiÖp
hoặc ít ảnh hưởng đến vấn đề kinh doanh của họ.Theo điều tra thì khi hỏi các
cấp quản lý khác nhau trong một công ty rằng họ nghĩ thế nào về chi phí do
Bản chât của EMA: Là công cụ thông tin quản lý trong nội bộ công ty
* EMA có các chức năng sau:
- Hỗ trợ việc ra quyết định nội bộ trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm hướng tới hai mục đích là cải thiện kết quả hoạt động tài chính
và kết quả hoạt động môi trường.
- Cung cấp thông tin về chi phí thông thường, chi phí liên quan đến môi
trường, thông tin thực tế về các dòng vật chất và năng lượng.
- Là cơ sở cho các nhiệm vụ bên ngoài công ty (như báo cáo tài chính,
báo cáo môi trường)
EMA điển hình bao gồm chi phí vòng đời, hạch toán chi phí toàn bộ,
đánh giá lợi ích và kế hoạch chiến lược cho quản lý môi trường. Tuy nhiên
trong luận văn tốt nghiệp này sẽ tập trung vào hạch toán chi phí môi trường
và đánh giá lợi ích cho các hoạt động quản lý môi trường của doanh nghiệp.
Ngoài ra cơ quan phát triển bền vững liên hợp quốc (UNDSD) năm 2001
đã đưa ra một định nghĩa khác về EMA. Định nghĩa này cho thấy tầm quan
trọng của hệ thống EMA tạo ra thông tin cho việc ra quyết định bên trong, nơi
mà thông tin có thể hoặc phi tiền tệ hoặc tiền tệ trong sự tập trung. Như
UNDSD tuyên bố: “ Sử dụng thông tin EMA nói chung là cho việc tính toán
tổ chức bên trong và ra quyết định. Các thủ tục EMA cho việc ra quyết định
nội bộ của công ty bao gồm cả các thủ tục phi tiền tệ cho việc tiêu thụ nguyên
liệu và năng lượng chôn lấp thải và thải bỏ cuối cùng, và các quy trình tiền tệ
của các chi phí, các khoản tiết kiệm và doanh thu liên quan đến các hoạt
động môi trường tiềm ẩn”.
EMA là một yếu tố không thể tách rời khỏi công việc quản lý trong một
công ty, nó là một trong những công cụ thông tin quan trọng nhất để nhận
dạng, thu thập, ước lượng, phân tích tài chính và thông tin phi tài chính, báo
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
cáo nội bộ sử dụng thông tin dòng phi tiền tệ (thông tin về nguyên vật liệu và
các dạng năng lượng) thông tin chi phí môi trường khác mà dựa vào đó đưa ra
phẩm…
Có nhiều khái niệm liên quan đến EMA khác như: Hạch toán môi trường
(EA), hạch toán chi phí đầy đủ (FCA), đánh giá chi phí tổng cộng (TCA),
hạch toán nguyên vật liệu, hạch toán tài nguyên và nhiều loại khác,
EMA giám sát và đánh giá thông tin chất lượng từ hệ thống hạch toán tài
chính, MA và các số liệu về nguyên vật liệu cũng như các dạng năng lượng
trong mối quan hệ tương hỗ nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguyên
vật liệu và năng lượng, giảm nhẹ các tác động của môi trường trong các hoạt
động của công ty, sản phẩm và dịch vụ, giảm rủi ro môi trường và cải thiện
các kết quả quản lý cho doanh nghiệp.
Các chi phí được xác định là sự tiêu thụ của các yếu tố sản xuất được
tính bằng đơn vị tiền tệ, là kết quả từ doanh thu của công ty. Các chi phí này
không chỉ bao gồm việc giảm bớt vốn đối với đối tượng kinh doanh (ví dụ đối
với đầu ra) mà còn đối với đối tượng khác như chi phí xã hội, chi phí do
không tuân thủ luật pháp và các quy định về môi trường (các khoản tiền phạt),
các chi phí gây ra do các nhân tố bất thường (thiệt hại), chi phí do việc thực
hiện chính sách kinh tế của chính phủ (thuế lợi tức) và các vấn đề khác (như
các chi phí giải trí, các chi phí trả cho việc chăm sóc thân thể).
1.3. Tổng quan hiện trạng ứng dụng phương pháp luận hạch toán quản lý
môi trường .
1.3.1. Những ứng dụng hạch toán quản lý môi trường trên thế giới
Năm 1998, tại phiên họp thường kỳ của Hội đồng bảo an liên hợp quốc
về phát triển bền vững, nhóm làm việc nhằm cải thiện vai trò của chính phủ
trong việc thúc đẩy EMA đã được thành lập trong bối cảnh các cuộc thương
lượng về các công nghệ thân thiện môi trường. Các buổi thảo luận đã chỉ ra
rằng một số chính phủ đã quan tâm đến việc thúc đẩy EMA, nhưng ít có sự
thông tin giữa các cơ quan có liên quan. Nhóm làm việc này đã họp 5 lần
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
khác nhau tại các địa điểm khác nhau là thủ đô Washington vào tháng 8 năm
Lan đã sáng kiến với sự hỗ trợ ngang nhau từ 5 bộ quốc gia, chỉ 2 trong số các
bộ này có nhiệm vụ về môi trường cụ thể.
• Một vài ứng dụng EMA trên thế giới:
Ứng dụng đầu tiên là dự án: “Giảm đến mức tối thiểu chất thải doanh
nghiệp và các chi phí môi trường” do Bộ Nông Nghiệp và Lâm nghiệp, môi
trường và quản lý chất thải của Áo chịu trách nhiệm với đối tác là Viện quản
lý môi trường kinh tế và trường đại học công nghệ Graz thực hiện. Dự án
nhằm mục đích tiếp cận các chương trình SXSH nhằm đem lại hiệu quả kinh
tế kết hợp với các công nghệ giảm đến mức tối thiểu chất thải với việc giảm
các chi phí môi trường như chi phí xử lý và chôn lấp; chi phí nhân công; chi
phí các dịch vụ bên ngoài; chi phí tài chính đầu tư cho môi trường; ước tính
rủi ro… hướng phát triển tiếp theo của dự án này là đưa các công ty của Áo
dần tiếp cận với các tiêu chuẩn mới như ISO 14001.
Dự án tiếp theo là: “Áp dụng khung EMA trong chính quyền địa
phương giai đoạn 1995 -1996 và 1998-1999” do Văn phòng Quốc gia
Autralia về chính quyền địa phương ( NOLG) chịu trách nhiệm và tài trợ,
cộng với bộ phận thống kê môi trường và năng lượng của Cục thống kê
Autralia (ABS), với Bộ môi trường Autralia và với các cơ quan chính phủ
bang và liên bang khác. NOLG đã sử dụng trách nhiệm góp phần vào các
sáng kiến quản lý tài nguyên thiên nhiên môi trường phù hợp với chính quyền
các bang ở Autralia.
Dự án “ Thúc đẩy hạch toán môi trường doanh nghiệp và các hệ thống
báo cáo” do cơ quan môi trường Nhật Bản (JEA) với đối tác là Viện hạch
toán cộng đồng, một số hội doanh nghiệp và các tổ chức khác. JEA đã khởi
đầu sáng kiến nghiên cứu hạch toán môi trường vào năm 1996 nhằm tạo ra
các tiêu chuẩn hệ thống hạch toán môi trường trong đó bao gồm cả ISO
14001. Đặc biệt vào tháng 7 năm 1999 thủ tướng Nhật Bản Obuchi đã đề xuất
việc đầu tư hạch toán môi trường như là một phần của sự cải cách chung
nhằm tạo ra việc làm và nâng cao tính cạnh tranh cho ngành công nghiệp
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
các tiêu chuẩn EMA, một số phương pháp quản lý chi phí môi trường khác
nhau. Phương pháp luận của dự án bào gồm phương pháp hạch toán chi phí
môi trường truyền thống, phương pháp hạch toán dòng chi phí nguyên liệu và
năng lượng, phương pháp tính toán các chi phi đầu tư môi trường liên quan và
lợi nhuận. Lý thuyết cơ bản của EMA, khái niệm, định nghĩa và hướng dẫn đã
và đang được phát triển như một phần của dự án. Dự án đang được phát triển
và phổ biến tại Đức.
Dự án ECOMAC/EMAN “ Thúc đẩy hạch toán quản lý sinh thải như
một công cụ cho quản lý môi trường” được bảo trợ bởi uỷ Ban môi trường và
chương trình khí hậu của cộng đồng Châu Âu. Dự án ECOMAC được sáng
kiến vào năm 1996 đã khảo sát quy mô để “hạch toán quản lý sinh thái” đang
xuất hiện trong cộng đồng chung Châu Âu (cụ thể là các nước Đức, Italia, Hà
lan, và Anh). Dự án được thực hiện ở 84 công ty lớn nhỏ ở 4 nước và 15
nghiên cứu điển hình đã được thực hiện. Có thể xem hạch toán quản lý sinh
thái gần giống với EMA, chỉ khác là nó đi xa hơn EMA về việc xem xét các
chi phí bên ngoài. Hạch toán quản lý sinh thái (EMAN) là một mạng lưới
gồm các nhà nghiên cứu, cố vấn, thương gia … Những người cố vấn chính
sách quan tâm đến EMA như một công cụ cho việc quản lý môi trường doanh
nghiệp. Mục đích của mạng lưới là để thúc đẩy sự hiểu biết và việc sử dụng
EMA bằng kinh doanh, để khích lệ các nghiên cứu trong phạm vi, thúc đẩy sự
giáo dục về EMA và để nhận dạng các cơ hội cho những nỗ lực của chính
phủ về EMA. Thành công của dự án này giúp cho các công ty hiểu sâu sắc
các nguyên tắc hạch toán môi trường như thế nào.
Một ứng dụng tiếp theo là “ Sáng kiến hạch toán môi trường” do cơ
quan môi trường của Anh đề xuất. Sáng kiến này có 3 mục tiêu: phát triển
một hệ thống hạch toán môi trường bên trong quá trình quản lý tài chính của
công ty: giảm tiêu thụ tài nguyên, thực hiện báo cáo các khoản tiết kiệm chi
phí. Tác động đến cộng đồng và các tổ chức cá nhân để thông qua, xúc tiến và
Còn rất nhiều những ứng dụng của EMA trên thế giới khác như dự án “
các hoạt động hạch toán xanh” của cơ quan bảo vệ môi trường Đan Mạch,
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
chương trình “ Lợi ích sinh thái - Các dự án đa dạng sinh học cho các công
nghệ môi trường kết hợp” của Bộ bảo vệ môi trường Á, các hoạt động giảm
thiểu ô nhiễm tại New jersey - Mỹ…. Tuy nghiên ứng dụng EMA chủ yếu
mới được thực hiện và diễn ra ở các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật
Bản, Châu Âu, các nước ở Châu Á và Châu phi gần như chưa có cách tiếp cận
với phương pháp luận này.
1.3.2. Những ứng dụng hạch toán quản lý môi trương tại Việt Nam
EMA là phương pháp luận đã được ra đời hơn một thập kỷ, nó đã được
nhiều nước trên thế giới biết đến và đặc biệt nhiều công ty trên thế giới từ các
công ty có quy mô lớn, đến các công ty có quy mô nhỏ, và đã đạt được những
thành công nhấ định trong kinh doanh và cải thiện môi trường. Tuy nhiên ở
Việt Nam EMA còn là một khái niệm hết sức mới mẻ và rất ít người biết đến.
Dự án đầu tiên là dự án phổ biến EMA cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Việt Nam là dự án EMA- SEA kể trên cho các nước Đông Nam Á trong đó có
Việt Nam. Đối tác thực hiện dự án phía Việt Nam là Viện khoa học công
nghệ môi trường - trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Dự án đã chọn 2 công
ty đại diện Việt Nam tham gia vào nghiên cứu điển hình thực hiện áp dụng
EMA, và dự án kết thúc vào năm 2007.
Ngoài ra còn một ứng dụng khác nữa của EMA tại Hà Nội là đề tài :
“Nghiên cứu ứng dụng phương pháp EMA cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của thành phố Hà Nội” do sở khoa học công nghệ Hà Nội tiến hành. Uỷ ban
nhân dân thành phố Hà Nội đứng ra quản lý và tài trợ, cơ quan chủ trì và thực
hiện đề tài là Vịên khoa học và công nghệ môi trường, đại học Bách Khoa Hà
Nội.
1.4. Hạch toán truyền thống
Trong những thập kỷ trước các nước phát triển và đang phát triển đều sử
công ty, doanh nghiệp, các ngành nghề trong xã hội đều phải sử dụng nó như
một công cụ thiết yếu
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Các hệ thống hạch toán là một trong số những công cụ quản lý quan
trọng nhất cho mọi công ty. Chức năng của hạch toán là để cung cấp thông tin
thích hợp, tin cậy và chính xác nhằm hướng dẫn cho việc ra quyết định của
các nhà quản lý, nhà đầu tư và các cổ đông
* Những ưu điểm của hệ thống hạch toán truyền thống
- Hệ thống hạch toán truyền thống cung cấp thông tin tài chính về một
công ty một cách có hệ thống cho các cổ đông. Các cổ đông của một doanh
nghiệp cần các hệ thống thông tin nhằm giảm sự phức tạp của môi trường
kinh doanh để giúp họ ra quyết định trong các điều kiện nhất định
- Các hệ thống hạch toán truyền thống có mục đích trình bày cho những
người không nằm trong doanh nghiệp thấy vị thế tài chính của doanh nghiệp
và những thay đổi trong vị thế tài chính của nó trong một giai đoạn cụ thể. Cụ
thể là các hệ thống hạch toán truyền thống thừa nhận, đo lường, tiết lộ và tạo
thuận lợi cho việc quản lý tài sản và nguồn vốn. Thách thức cho hạch toán
môi trường là phải kết hợp quá trình hạch toán với báo cáo về các khía cạnh
tài chính của các hoạt động công ty mà có ảnh hưởng đến môi trường
- Nghiệp vụ hạch toán có mặt trên khắp thế giới và bất kỳ sự thay đổi
nào trong thực tế hạch toán đều tạo ra những ảnh hưởng cho tất cả các nước.
Do đó hạch toán có thể được xem như một trong số các ngôn ngữ quốc tế
được nhiều người sử dụng trên khắp thế giới. Điều này thể hiện tầm quan
trọng và ảnh hưởng ngày càng tăng của nghề kế toán.
Các hệ thống hạch toán truyền thống phản ánh đặc điểm về sự tích luỹ
tài sản, sức khoẻ, quyền lực đo được bằng các đơn vị tiền tệ. Không có nhân
viên kế toán nào thừa nhận rằng những thay đổi của hệ thống hạch toán
truyền thống là đủ để giải quyết các vấn đề môi truờng to lớn của hôm nay và
tương lai. Tuy nhiên hạch toán là một cách làm cần thiết và quan trọng để có
môi trường bị thiệt hại gây đối với môi trường có thể khắc phục được hay
không, hay liệu năng lực sản xuất có quá tải hay không. Nếu quản lý chỉ dựa
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
vào thông tin hạch toán truyền thống thì nó sẽ không thể nhận ra rằng môi
trường đã bị thiệt hại do:
- Các tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên môi trường không được
phản ánh trong bảng cân đối kế toán
- Khấu hao nguồn vốn tự nhiên không được tính toán
- Các thiệt hại môi trường được xem xét đến, trừ khi nó được phản ánh
trong các khoản tiền phạt, giấy phép và các chi phí làm sạch môi trường.
Do đó người ta cho rằng theo một khía cạnh nào đó, ảnh hưởng bất lợi
cho môi trường có thể được xem xét như là kết quả từ việc áp dụng hạch toán
hiện hành. Hệ thống hạch toán hiện hành sẽ không bao giờ có thể phản ảnh tất
cả các tác động đến môi trường. Vào thời điểm khi sản phẩm mới được phát
triển hay một hoạt động mới được sáng lập thì không thể ước lượng một cách
chính xác các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai mà hạch toán truyền thống
không quan tâm đến tương lai.
Quan điểm phê phán còn chỉ ra sự khác biệt tiềm ẩn giữa hệ thống hạch
toán truyền thống và hệ thống sinh thải tự nhiên. Đối với hệ thống hạch toán
truyền thống giới hạn cho các nguồn tài chính không tồn tại từ “đủ”, trong đó
môi trường tự nhiên lại có giới hạn này và nó được phản ánh thông qua khái
niệm “quy mô”. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, quan điểm này được sử dụng như
là một luận điểm để phê phán khái niệm tổng sản phẩm quốc gia(GNP) khi
coi khái niệm này là phương tiện để đánh giá sự giàu có và người ta không
ngừng cố gắng để có GNP cao hơn. Trong khi những tác hại với môi trường
không được xem xét đến trong nỗ lực để có được thu nhập cao hơn và sự giàu
có hơn nữa, vì không có giá trị nào được thể hiện trong các hàng hoá môi
trường. Những quan điểm phê phán khác cũng cho rằng tác hại môi trường là
không cần thiết vì nó sẽ tạo thành mức giá giả tạo cho hàng hoá môi trường.
và các dòng vốn của công ty và được thể hiện trong các đơn vị tiền tế ( ví dụ,
các phép đo được bộc lộ trong phí tổn về SXSH, các chi phí tiền phạt cho sự
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
vi phạm các luật môi trường, giá trị tiền tệ có thể được xem xét như một sự
mở rộng phạm vi hay một sự phát triển xa hơn hay sự cải tiến hạch toán
truyền thống trong các đơn vị tiền tệ khi chúng được dựa trên các cách thức
của các hệ thống hạch toán truyền thống. Thông tin môi trường tiền tệ có thể
được xem như các chi phí về nguyên vật liệu, năng lượng, nước… là các tài
nguyên thiên nhiên mà doanh nghiệp đã sử dụng nó cho hoạt động kinh tế của
mình và các tài nguyên môi trường này được định giá bằng tiền.
* Các tác động liên quan đến các hoạt động công ty lên hệ thống môi
trường liên quan đến “thông tin môi trường phi tiền tệ”. Do đó, ở mức độ
công ty, thông tin môi trường phi tiền tệ bao gồm tất cả dòng vật liệu và năng
lượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai có tác động lên các hệ sinh thái.
Thông tin môi trường phi tiền tệ luôn được thể hiện trong các đơn vị vật lý
hay còn gọi là đơn vị phi tiền tệ như kg, m
3,
, hay jun. Thông tin môi trường
phi tiền tệ được xem như các hoạt động sản xuất của công ty gây ra tác động
bằng tiền và có thể không định giá được như một mét khối khí thải là bao
nhiêu, hay hoạt động doanh nghiệp tác động đến các tài nguyên trong khu vực
như thế nào, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ra sao… chưa định giá được.
EMA bao gồm cả việc hạch toán nội bộ các khía cạnh môi trường theo
2 mặt tiền tệ và phi tiền tệ.
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Bảng 1: Các hệ thống hạch toán môi trường
Các đơn vị
Loại hạch toán Tiền tệ Phi tiền tệ
trường tự nhiên, được thể hiện trong các thuật ngữ vật lý như tấn, kg, m
3
,…
Nhiệm vụ của hạch toán quản lý môi trường phi tiền tệ là phân loại, thu thập,
ghi chép, phân tích và truyền thông tin nội bộ về các dòng vật chất và năng
lượng. Những tác động môi trường được định giá theo đại lượng phi tiền tệ vì
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45
LuËn v¨n tèt nghiÖp
chúng thường không được định giá bằng tiền trên thị trường. Hạch toán quản
lý môi trường phi tiền tệ như một cách tiếp cận hạch toán môi trường nội bộ
được dùng cho các mục đích sau:
Một công cụ phân tích được thiết kế để tìm ra những mặt mạnh và
những nhược điểm sinh thái học.
Một công cụ kiểm soát trực tiếp và gián tiếp các hậu quả môi trường
Một phương pháp kỹ thuật để hỗ trợ việc ra quyết định đến chất lượng
môi trường nổi bật
Một công cụ đo lường là một phần không thể thiếu của các phép đo
môi trường, như hiệu quả sinh thái.
Một công cụ hạch toán cung cấp một cơ sở trung lập và rõ ràng cho nội
bộ, và gián tiếp, cho truyền thông bên ngoài.
Một công cụ có sự điều chỉnh chặt chẽ và bổ sung cho một bộ công cụ
đang được phát triển để giúp cho việc đẩy mạnh phát trỉên bền vững về mặt
sinh thái.
Khi xem xét đến nội dung EMA, các công cụ hạch toán có thể được
phân biệt theo độ dài chu kỳ thời gian ngắn hạn và dài hạn và được xem tới
theo quá khứ những yêu cầu khác nhau và do vậy trong một số trường hợp
các nhà quản lý quan tâm đến thông tin trong quá khứ hoặc tương lai, ví dụ
như nhiều lúc họ cần biết đến những thông tin trong quá khứ và ngắn hạn, hay
một số quyết định đầu tư cần thông tin dự báo tương lai; hoặc khi quyết định
đầu tư một dây chuyền công nghệ trong tương lai… Ngoài ra các công cụ
CHƯƠNG 2
HẠCH TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG
2.1. Chi phí môi trường và cách xác định
Trong các công cụ của EMA, ECA là định hướng quá khứ, và có một
trọng tâm ngắn hạn. Trong giới hạn luận văn tốt nghiệp, sử dụng công cụ
ECA là công cụ bổ sung thông tin về chi phí môi trường vào các quá trình
hạch toán chi phí hiện tại hay xác định các chi phí môi trường và phân bổ
chúng vào quá trình sản xuất phù hợp.
2.1.1. Sự cần thiết phải hạch toán CPMT trong doanh nghiệp
Chi phí môi trường là một trong nhiều loại chi phí mà các doanh nghiệp
phải chi trả khi cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng. Hoạt động môi
trường là một trong những yếu tố quan trọng để dẫn tới thành công trong kinh
doanh. Chi phí môi trường và hoạt động môi trường xứng đáng được quan
tâm trong hệ thống quản trị doanh nghiệp vì:
- Khi có các quyết định về sự thay đổi quy mô hoạt động trong kinh
doanh hoặc đầu tư vào công nghệ thân thiện môi trường (xanh, sạch,…) hay
thiết kế lại quá trình sản xuất, sản phẩm thì nhiều khoản chi phí môi trường sẽ
được giảm đi đáng kể.
- Chi phí môi trường có thể đưa vào tài khoản chi phí quản lý, chi phí
sản xuất, chi phí bất thường hay bị bỏ qua
- Nhiều doanh nghiệp nhận thức được rằng các chi phí môi trường có thể
được bù đắp lại từ các khoản thu được từ việc bán sản phẩm phụ, phế liệu,
phế thải, phần thưởng từ việc chống ô nhiễm hày việc cấp giấy phép cho công
nghệ sạch, hay chi phí môi trường có thể gây nên những thiệt hại cho công ty
như các khoản tiền phạt cho việc gây ô nhiễm, không tuân thủ pháp luật về
môi trường.
Vò ThÞ Minh Trang Líp KTMT 45