Qui hoạch phát triển ngành than việt nam giai đoạn 2006-2020 - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây khi nhắc tới hệ thống kế hoạch hoá trong phát triển các
ngành kinh tế quốc dân chúng ta thường bắt gặp nhiều cụm từ: chiến lược
phát triển ngành, kế hoạch phát triển ngành mà ít khi thấy các ngành lập
qui hoạch phát triển cho riêng ngành. Sở dĩ là vì qui hoạch gắn với bố trí
sắp xếp nên nó phù hợp hơn với hệ thông kế hoạch hoá phát triển cho các
vùng, các khu đô thị. Tuy nhiên đã có một thực tế đáng buồn xảy ra với các
ngành kinh tế quốc dân đặc biệt là các ngành khai thác tài nguyên thiên
nhiên đó là việc phát triển một cách tự phát các cơ sở sản xuất không tuân
theo bất cứ một khuôn khổ nào, dẫn tới các ngành rất khó kiểm soát và
không thể phát triển theo đúng kế hoạch đã đặt ra. Việc này gây ra những
rắc rối trong quản lý ngành gây lãng phí mất mát lớn, không đạt hiệu quả
trong đầu tư.
Trong khoảng 5-10 năm trở lại đây các ngành đã chú trọng hơn tới
công tác xây dựng qui hoạch phát triển cho mình (ngành điện, ngành than,
ngành xi măng ). Xây dựng qui hoạch là một nội dung khó do nó đòi hỏi
phải phân tích tỷ mỉ các điều kiện phát triển ngành ở các vùng, sự liên kết
phát triển ngành giữa các vùng và sự hợp tác giữa các ngành trong vùng.
Tuy nhiên nếu có được một bản qui hoạch tốt sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi
cho các ngành phát triển nhanh và bền vững.
Qui hoạch ngành là một nội dung lớn trong hệ thống kế hoạch hoá
phát triển kinh tế xã hội. Trong quá trình thực tập tại công ty Cổ phần Tư
vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp, em có điều kiện được tìm hiểu về ngành
than và qui trình lập qui hoạch phát triển ngành than Việt Nam. Chính vì
vậy em đã quyết định lựa chọn để tài luận văn là: Qui hoạch phát triển
ngành than Việt Nam giai đoạn 2006-2020.
Bài luận văn cua em gồm 3 chương:
Chương I: Sự cần thiết phải lậpqui hoạch phát triển ngành than Việt
Nam.
Chương II: Hiện trạng qui hoạch ngành than

hiệu quả cao, phát triển bền vững. Vai trò của qui hoạch phát triển chính là
sự cụ thể hoá chiến lược trong thức tế về cả mục tiêu và các giải pháp. Nếu
không có qui hoạch sẽ mù quáng, lộn xộn, đổ vỡ trong phát triển, qui hoạch
để định hướng, dẫn dắt, điều chỉnh trong đó có cả hiệu chỉnh thị trường.
Mặt khác chức năng của qui hoạch còn là cầu nối giữa chiến lược, kế hoạch
và quản lý thực tiễn chiến lược, cung cấp các căc cứ khoa học cho các cấp
để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình dự
án đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu
quả.
Qui hoạch phát triển bao gồm: Qui hoạch tổng thể kinh tế - xã hội,
qui hoạch ngành và qui hoạch vùng lãnh thổ.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 3 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
Qui hoạch tổng thể là xác định và lựa chọn mục tiêu cuối cùng, tìm
những giải pháp để thực hiện mục tiêu. Qui hoạch cũng như chiến lược, xét
cho cùng vẫn là định hướng. Tuy vậy, một trong những khâu quan trọng
nhất của qui hoạch là luận chứng về tính tất yếu, hợp lý cho sự phát triển và
tổ chức không gian kinh tế - xã hội dài hạn dựa trên sự bố trí hợp lý bền
vững kết cấu hạ tầng vất chất kĩ thuật phù hợp với những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Trong xây dựng qui hoạch
phải đi vào luận chứng ở mức cần thiêt từ khâu điều tra, phân tích đến tính
toán chứng minh, so sánh các phương án, các giải pháp, xem xét moi yếu tố
tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng, đi từ
tổng quát đến cụ thể và ngược lại, cần chú ý sự phù hợp cả không gian lãnh
thổ và thời gian cụ thể.
Trên cơ sở khung qui hoạch tổng thể và chiến lược phát triển, các
ngành sẽ xây dựng qui hoạch phát triển của ngành mình. Các tiềm năng
phát triển sẽ được đánh giá chuẩn xác hơn và cụ thể hơn, đồng thời trên
một mức độ nào đó sẽ lượng hoá các nguồn lực phát triển có thể khai thác
từ các nguồn tiềm năng, thiết lập cơ cấu phát triển ngành, làm cơ sở xây

nguồn lực đến phát triển ngành hiện tại và trong tương lai ( tác động gì? và
như thế nào? đến phát triển ngành); Mức độ cạnh tranh trong điều kiện hội
nhập; Từ phân tích những yếu tố, nguồn lực phải thấy được các điều kiện
để có thể khai thác phát huy chúng trong tương lai. Nội dung cụ thể cần
đánh giá gồm:
a)Xác định vị trí, vai trò của ngành đối với nền kinh tế quốc dân
Để xác định vị trí, vai trò của ngành trong nền kinh tế ta có thể dựa
vào một số chỉ tiêu: tỷ lệ đóng góp GDP ngành trong nền kinh tế qua các
năm, tỷ lệ sử dụng vốn đầu tư của ngành trên tổng vốn đầu tư của toàn xã
hội qua các năm, tỷ lệ thu hút lao động của ngành, tỷ lệ trang bị công nghệ
hiện đại cho ngành Dựa vào các chỉ tiêu này có thể đưa ra nhận định
chung về tiềm năng và khả năng phát triển ngành ( nhanh, trung bình, yếu),
xác định vai trò của ngành trong hệ thống kinh tế, vai trò thu hút lao động
của ngành, khả năng hiện đại hoá công nghệ ( tiên tiến, trung bình, lạc
hậu)
b) Đánh giá các nhân tố đầu vào cho phát triển ngành
Những nhân tố đầu vào cho phát triển ngành gồm: điều kiện tự
nhiên, nguyên liệu, cung cấp điện, nước, lao động. Cần đánh giá mức độ
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 5 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với sự phát triển của ngành. Từ đó
đưa ra được các kết luận cụ thể: Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
đến phát triển ngành (là thuận lợi hay khó khăn); khả năng cung cấp
nguyên liệu cho sản xuất ngành ( bao gồm cả nguyên liệu từ khoáng sản và
nguyên liệu nông lâm ngư nghiệp) là dồi dào hay khan hiếm; đánh giá
nguồn vốn đầu tư, lao động lành nghề cung cấp cho ngành là nhiều hay ít.
c) Phân tích ảnh hưởng của bối cảnh thế giới đến phát triển ngành
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế đến sự phát triển
của ngành phải quan tâm đến những vấn đề: Ý kiến của các chuyên gia
chuyên ngành; quan điểm của các chuyên gia kinh tế đánh giá chung về

- Những kết luận rút ra từ phân tích, đánh giá hiện trạng qui hoạch
phát triển phải là một trong những cơ sở để đề ra mục tiêu và phương
hướng cần khắc phục và phát huy trong giai đoạn tới.
a) Đánh giá kết quả công tác qui hoạch phát triển ngành trong 5-10 năm
- Đánh giá qui mô, tốc độ tăng trưởng ngành: Thông qua các chỉ tiêu
tính toán về: Giá trị sản xuất, số lượng các loại nguyên liệu cung cấp cho
ngành, nhịp độ tăng trưởng GTSX, GDP, nhịp độ tăng trưởng GDP, diện
tích, năng xuất, sản lượng các sản phẩm chủ yếu của ngành, nhịp độ tăng
trưởng của các sản phẩm chủ yếu, qua các năm. Từ đó đưa ra các kết luận
cơ bản về qui mô phát triển của ngành trong thời gian qua; mức độ phát
triển của ngành trong giai đoạn vừa qua; khả năng cạnh tranh.
- Đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Mục đích chính là
tính toán đóng góp của ngành trong toàn bộ nền kinh tế, đồng thời xác định
sự chuyển dịch sự đóng góp đó qua các năm của ngành. Thông qua các chỉ
tiêu tính toán: tỷ trọng GTSX, GDP của ngành trong tổng GTSX, GDP cả
nền kinh tế; cơ cấu GTSX, GDP, vốn đầu tư, lao động theo các sản phẩm
hoặc theo các phân ngành, theo các mốc thời gian; đánh giá và phân tích
kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Từ đó đưa ra các nhận định
chính về qui mô sản xuất ngành trong nền kinh tế, cơ cấu các phân ngành,
so sánh cơ cấu qua các mốc để đưa ra kết luận về hướng chuyển dịch cơ
cấu ngành.
b) Đánh giá hiện trạng ngành
- Đánh giá trình độ và khả năng phát triển khoa học - công nghệ của
ngành: Đối với các ngành sản xuất công nghệ đóng vai trò quyết định trong
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 7 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
quá trình phát triển. Trong điều kiện hội nhập toàn cầu đổi mới công nghệ
mang lại khả năng cạnh tranh cao. Đánh giá mức độ hiện đại hoá công nghệ
cho ngành sẽ được tính toán từ các chỉ tiêu: thống kê trang thiết bị theo các
thế hệ công nghệ ( cũ/mới); tỷ lệ trang bị hiện đại/đơn vị sản phẩm; tỷ lệ

(GDP) ngành theo các vùng;
- Cơ cấu ngành và các phân ngành theo các vùng lãnh thổ;
- Các khu công nghiệp tập trung trên các vùng.
Từ đó đưa ra những nhận xét về tính hợp lý của tình hình phân bố
ngành, khai thác nguồn lực của các vùng, hiệu quả hoạt động của các khu
công nghiệp khu tập trung khai thác.
d) Tổng hợp đánh giá chung
Sau những phân tích và nhận xét cụ thể về các mặt trên của ngành ta
đưa ra các kết luận chung về tính hợp lý trong công tác qui hoạch hiện tại
của ngành, những điểm mạnh và những tồn tại chủ yếu cần khắc phục.
Đồng thời nêu được nguyên nhân của các thành công và hạn chế đó.
2.3.Luận chứng phương hướng phát triển
a) Xây dựng quan điểm, mục tiêu cho phát triển ngành
Quan điểm phát triển của ngành phải phù hợp với quan điểm phát
triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nội dung quan điểm thể hiện sự lựa
chọn những mũi nhọn và vấn đề ưu tiên cho ngành, thể hiện quan điểm hội
nhập trong cơ chế thị trường.
Mục tiêu sẽ tuỳ theo từng ngành để thể hiện được sự phát triển bền
vững, trước tiên là mục tiêu hiệu quả, mục tiêu đáp ứng những nhu cầu xã
hội và đảm bảo ổn định môi trường. Mục tiêu cụ thể bao gồm các chỉ tiêu
số lượng về nhịp độ tăng trưởng, doanh thu, xuất khẩu, lao động, đầu tư,
của ngành.
b) Dự báo các nhân tố tác động tới phát triển ngành
Trong nền kinh tế thị trường phát triển các nhân tố thị trường thường
xuyên vận động, gây ra những tác động lớn tới sự phát triển của ngành.
Nắm bắt các nhân tố tác động tới phát triển ngành một cách đầy đủ và
chính xác là điều kiện quan trọng để có được một bản qui hoạch khả thi.
Cần phân tích và dự báo đầy đủ các yếu tố thị trường có liên quan đến phát
triển ngành:
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 9 Lớp: Kế hoạch 45B

ngành cần đưa ra được các kết luận chủ yếu sau:
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 10 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
- Phân bố các cơ sở sản xuất của ngành và qui mô của chúng theo
các vùng ( cụ thể về danh mục cơ sở nào tiếp tục duy trì sản xuất, cơ sở nào
sẽ cải tạo nâng cao công suất, danh mục các cơ sở sản xuất mới sẽ xây
dựng trong thời gian qui hoạch, và cả các cơ sở sản xuất sẽ đóng cửa ngừng
sản xuất).
- Phân bố các cơ sở sản xuất của ngành trong các khu công nghiệp.
- Danh mục các công trình then chốt quyết định lớn tới sự phát triển
của ngành.
- Danh mục các sản phẩm mũi nhọn của ngành và sẽ phát triển chúng
ở đâu.
- Cơ cấu ngành, cơ cấu các sản phẩm chủ lực của ngành theo vùng.
- Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của ngành.
2.5. Các giải pháp và tổ chức thực hiện qui hoạch
Nội dung này đưa ra các giải pháp cần thiết để thực hiện các mục
tiêu của qui hoạch và xác định khả năng thực hiện các giải pháp đó. Các
giải pháp đưa ra phải thoả mãn được các tiêu chí: tiết kiệm năng lượng, tiết
kiệm vốn, tạo nhiều việc làm, đổi mới công nghệ. Không nêu dàn trải các
giải pháp mà tìm những giải pháp chủ yếu nhất để thực hiện qui hoạch,
không nêu chung chung mà cần có tính toán cụ thể khả năng thực hiện các
giải pháp đó. Phải đưa ra được tiến độ thực hiện cho các thời kì qui hoạch
và đề xuất những chương trình lớn, những dự án kêu gọi đầu tư xây dựng.
Cụ thể đối với những giải pháp về vốn đầu tư cần phải nêu rõ nhu
cầu về vốn đầu tư. Xác định khả năng huy động vốn: Từ nguồn vốn trung
ương, vốn địa phương, vốn doanh nghiệp,vốn huy động trong dân, vốn huy
động từ nước ngoài. Cần tính toán cơ cấu vốn hợp lý và các giải pháp huy
động để đáp ứng yêu cầu;
Các giải pháp về chính sách, cơ chế cần chú trọng đến các cơ chế tổ

thác than ở núi An Lăng (xã An Thọ, huyên Đông Triều). Thời đó nghề đào
than hết sức đơn sơ, chỉ lấy than ở điểm lộ.
Công tác đi tìm mỏ được người Pháp quan tâm và tiến hành đầu tiên
ở Bắc Kì vào những năm 1881-1883. Đến cuối năm 1888 toàn bộ khu mỏ
Quảng Ninh đã trở thành thuộc địa của Pháp và được phân chia cho các tập
đoàn tư bản Pháp khai thác. Cuối năm 1906 ở vùng thượng du Bắc Kì
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 12 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
nhiều điểm than được phát hiện và tổ chức khai thác như Đồng Đỏ ( Hà
Tĩnh), Khe Bố ( Nghệ An), Làng Cẩm, Quán Triều ( Thai Nguyên), Từ
đây công nghiệp khai thác than ra đời, đây là ngành công nghiệp ra đời sớm
nhất và phát triển nhanh nhất. Những năm 20 của thế kỷ XX, bên cạnh các
công ty khai thác than của Pháp, một số nhà tư bản Việt Nam cũng đã đầu
tư khai thác mỏ như: Bạch Thái Bưởi, Pham Kim Bảng, Nguyễn Hữu
Thu,
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ngành khai thác than chia
làm 2 vùng: ở vùng tự do, công tác khai thác than và quản lý mỏ do Tổng
liên đoàn lao động Việt Nam quản lý; Trong vùng bị tạm chiếm Công ty
SFCT khôi phục và mở rộng khai thác. Khi vùng Quảng Ninh được hoàn
toàn giải phóng, căn cứ theo Hiệp định đã kí kết với công ty Than Bắc Kì
của Pháp thì công ty này nhượng lại tất cả máy móc, thiết bị, dụng cụ, vật
tư dự trữ cho Việt Nam và Chính phủ trả dần hàng năm cho Pháp bằng
than.
Khi đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, 5-8-1964, Vùng
mỏ bị đế quốc Mĩ tấn công ác liệt, cán bộ và công nhân vùng mỏ quyết tâm
sản xuất tha thời chiến, tổ chức sơ tán thiết bị máy móc, vừa sản xuất , vừa
chiến đấu. Thợ mỏ bắn rơi nhiều máy bay Mĩ, binh đoàn than và Tây
Nguyên được thành lập. Thời kì 1965-1974 ngành than đã sản xuất được
29,7 triệu tấn than. Sau ngày miền Nam được giải phóng, sản lượng than
tăng dần, đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế và giữ vai trò

đóng vai trò chủ chốt quyết định sự phát triển của nền kinh tế. Việt Nam là
một nước nhiệt đới sự phân hoá thời tiết thành hai mùa mưa và khô rất rõ
rệt nên nguồn thuỷ điện cung cấp là không ổn định. Thêm vào đó là sự tăng
trưởng nóng của nền kinh tế đòi hỏi năng lượng cao phục vụ cho sinh hoạt
và sản xuất, đặc biệt là các ngành công nghiệp tiêu thụ nguyên liệu than
(ngành điện, ngành sản xuất xi măng, ngành công nghiệp hoá chất, ).
Chính vì vậy vai trò của ngành than càng trở nên quan trọng hơn đối với sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam có may mắn là một trong những nước được thiên nhiên ưu
đãi có trữ lượng than lớn và chất lượng tương đối tốt. Ngành công nghiệp
khai thác than đã có lịch sử hơn 100 năm phát triển, ngày nay đã được đầu
tư hơn về kĩ thuật và vốn mang lại hiệu quả kinh tế lớn, đóng góp đáng kể
vào GDP cả nước.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 14 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
Than với công nghiệp điện
Hiện nay Việt Nam có 17 nhà máy nhiệt điện cung cấp khoảng 30%
sản lượng điện cho cả nước. Nguyên liệu than sử dụng cho nhiệt điện
chiếm khoảng 30-50% tổng sản lượng ngành than. Những con số đã phần
nào cho thấy vai trò của ngành than đối với ngành công nghiệp điện. Đặc
biệt là trong tình trạng thiếu điện trầm trọng như hiện nay thì 30% tổng sản
lượng điện cả nước quả thực là một con số vô cung ý nghĩa. Trong giai
đoạn tới ngành than còn tính tới việc tăng cường cung cấp than cho nhiệt
điện để đảm bảo năng lượng cho phát triển kinh tế đất nước trong cả
phương án tăng trưởng bình thường và tăng trưởng cao.
Than với các ngành công nghiệp khác
Than là nguyên liệu chính cho hầu hết các ngành công nghiệp: ngành
sản xuất xi măng, ngành luyện kim, ngành công nghiệp phân bón hoá học,
hoá chất, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành công nghiệp giấy,
ngành công nghiệp dệt, da, may nhuộm Đó đều là những ngành công

Ngoài ra ngành than còn thu hút khá nhiều lao động. Năm 2005,
ngành đã giải quyết công ăn việc làm cho gần 100 nghìn người. Ngành than
phát triển sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn và ổn định đời sống của công nhân
viên ngành than.
3. Sự cần thiết khách quan phải lập qui hoạch phát triển ngành than
Than là nguồn tài nguyên thiên nhiên quí, là nguồn năng lượng
không thể tái tạo. Như đã trình bày ở trên ta cũng đã thấy được vai trò quan
trọng của ngành than đối với nền kinh tế quốc dân. Trữ lượng than là có
giới hạn vì vậy cần phải có biện pháp khai thác sử dụng than có hiệu quả để
tránh thất thoát lãng phí và để có thể sử dụng nguồn tài nguyên này lâu dài.
a) Đảm bảo nhu cầu phát triển bền vững năng lượng quốc gia
Than là nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp quan trọng.
Vì vậy việc cung cấp than đáp ứng đủ nhu cầu của các ngành công nghiệp
là điều kiện quan trọng đảm bảo việc sản xuất của các ngành sử dụng
nguyên liệu than. Trong hoàn cảnh hiện nay, các ngành công nghiệp đều
đang tăng trưởng rất nhanh và nhu cầu về than cũng tăng theo tương ứng.
Việc khai thác than cần được tính toán để cân bằng cung cầu. Qui hoạch
ngành than sẽ tính toán nhu cầu và đưa ra quyết định khai thác ở đâu, bao
nhiêu tránh tình trạng khai thác tràn lan, bừa bãi. Một mặt sẽ giảm thiểu
những tác động không tốt đến môi trường, mặt khác sẽ đảm bảo khai thác
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 16 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
tiết kiệm, có hiệu quả. Điều này là vô cùng ý nghĩa, nó cho phép nền kinh
tế quốc dân có thể sử dụng tài nguyên than dài lâu ít nhất là trong giai
đoạn tới, cho tới khi chúng ta tìm ra một nguồn năng lượng khác thay thế.
b) Cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh than trung hạn và ngắn
hạn
Qui hoạch phát triển ngành than được xây dựng dựa trên chiến lược
phát triển ngành than. Nó là sự cụ thể hoá các quan điểm chiến lược theo
không gian trong một giai đoạn nhất định ( thường là 10-15 năm). Qui

Công ty tư vấn đầu ngành của Tổng công ty than Việt Nam) đảm nhiệm
chính, dựa trên những qui định của nhà nước về phát triển ngành than và sự
đóng góp ý kiến của các ban ngành liên quan.
4. Cơ hội và thách thức của ngành than trong thời kì hội nhập
Ngày 17/10/2006 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Đây là một cột mốc quan trọng đánh giấu
bước ngoặt lớn đối với sự phát triển của đất nước trên tất cả các lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, xã hội. Các rào cản thương mại dần được tháo bỏ, cùng
với chính sách mở cửa thông thoáng, Việt Nam đang được đánh giá là một
nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ và có nhiều tiềm năng lớn, là
môi trường đầu tư lý tưởng cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Việc gia nhập WTO và mở cửa nền kinh tế ngành than sẽ có điều
kiện thuận lợi hơn trong việc chuyển giao công nghệ, tiếp nhận những công
nghệ khai thác than tiên tiến nhất của thế giới hiện nay. Đây thực sự là một
cơ hội lớn, cho phép ngành Than Việt Nam phát triển sản xuất than, đặc
biệt là trong công nghệ khai thác than hầm lò. Bởi vì xu thế hiện nay, khai
thác than hầm lò ngày càng chiến tỷ trọng cao trong tổng sản lượng khai
thác than trong nước. Tuy nhiên công nghệ khai thác hiện tại của chúng ta
còn lạc hậu không đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển sản xuất. Hiện nay
chúng ta đang tích cực đổi mới công nghệ. Và trong điều kiện thuận lợi này
chúng ta hi vọng ngành than sẽ nhanh chóng tiếp thu hoàn thiên công nghệ
mới đưa vào sản xuất để nâng cao công suất, mở rộng sản xuất đáp ứng nhu
cầu than ngày một gia tăng.
Khi gia nhập WTO các rào cản thương mại dần được phá bỏ, ngành
than sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu. Đặc biệt là trong bối cảnh
nền kinh tế các nước châu Á đang vươn lên mạnh mẽ (Trung Quốc, Ấn
độ, ) và sự tăng trưởng trở của các nền kinh tế lớn ( Nhật Bản, các nước
châu Âu). Các nền kinh tế phát triển đòi hỏi sử dụng nguyên liệu cao, do
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 18 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp

cơ sở đảm bảo tính hiện thực của qui hoạch cũng có nhiều triển vọng hơn.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 19 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
Tiến bộ về khoa học công nghệ của ngành than Việt Nam nói riêng
và của thế giới nói chung trong các năm gần đây và trong tương lai cũng có
nhiều thay đổi.
Ở tầm quản lý vỹ mô, Chính phủ cũng đã có yêu cầu phải rà soát,
điều chỉnh, bổ xung các qui hoạch phát triển ngành, các lĩnh vực then chốt
cho thời kì 2006-2015 có xét đến triển vọng năm 2025.
Trước những thay đổi lớn trên, việc lập bản qui hoạch phát triển mới
thay cho qui hoạch cũ đã không còn phù hợp là việc hết sức cấp bách đặt ra
cho ngành than để có thể nắm bắt thời cơ và đương đầu với thách thức đảm
bảo sự phát triển bền vững ổn định trong giai đoạn tới.
Bản "Qui hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2006-
2020" của em đưa ra nhằm mục đích: Qui hoạch phát triển ngành than bền
vững và hợp lý để đáp ứng nhu cầu than ngày càng cao của nền kinh tế
quốc dân.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 20 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
Chương II: HIỆN TRẠNG QUI HOẠCH NGÀNH THAN
I. Hiện trạng sản xuất kinh doanh ngành than
1. Kết quả thực hiện qui hoạch phát triển ngành than đến năm 2006
Theo " Qui hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2010 và
dự báo đến năm 2020" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết
định số: 20/2003/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2003 các chỉ tiêu về sản
lượng than sản xuất và tiêu thụ của toàn ngành than như sau:
Năm 2005 sản xuất và tiêu thụ 16-17 triệu tấn.
Năm 2010 sản xuất và tiêu thụ 23-24 triệu tấn.
Năm 2015 sản xuất và tiêu thụ 26-27 triệu tấn.
Năm 2020 sản xuất và tiêu thụ 29-30 triệu tấn.

2020. Năm 2006 sản lượng khai thác và tiêu thụ than tiếp tục tăng nhanh đã
vượt xa cả chỉ tiêu qui hoạch cho năm 2020. Nguyên nhân là do thị trường
trong nước và xuất khẩu đều phát triển mạnh mẽ. Trên thị trường quan hệ
cung cầu đã thay đổi căn bản: "cầu" đã lớn hơn "cung", đồng thời trong
ngành than cũng có sự tiến bộ về khoa học công nghệ áp dụng dẫn tới sản
lượng sản xuất và tiêu thụ tăng lên nhanh chóng. Lợi nhuận ngành than
tăng cao càng khuyên khích ngành có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất và
áp dụng công nghệ mới tiên tiến nâng cao sản lượng khai thác than. Đây
cũng là nguyên nhân chính dẫn tới phải làm lại qui hoạch phát triển ngành
than.
2. Hiện trạng khai thác
Trong giai đoạn 1995-2005 ngành than đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong khai thác. Tổng sản lượng than nguyên khai được khai thác
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 22 Lớp: Kế hoạch 45B
Luận văn tốt nghiệp
khoảng 130.512,14 triệu tấn. Sản lượng than khai thác không ngừng tăng
lên nhanh chóng qua từng năm. Tốc độ tăng trưởng sản lượng luôn đạt
được những con số ấn tượng cả về số tuyệt đối và tương đối, đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế quốc dân. Khai thác than chủ yếu bao gồm hai hình
thức là: khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò.
CƠ CẤU KHAI THÁC THAN
Đơn vị: 1000 Tấn
Năm Than nguyên khai Lộ thiên Hầm lò
Sản lượng %
Sản
lượng
% Sản lượng %
1995 9369 100 6932 74 2437 26
2000 12200 100 7889 64.7 4311 35.3
2001 14589 100 9585 65.7 5004 34.3

Hiện nay có trên 30 mỏ hầm lò đang hoạt động. Trong đó chỉ có 8
mỏ có trữ lượng huy động lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng tương đối
hoàn chỉnh, khai thác với sản lượng hầm lò từ 1 triệu tấn/năm trở lên. Các
mỏ còn lại sản lượng khai thác dưới 1 triệu tấn/năm, dây chuyền công nghệ
và cơ sở hạ tầng không đầy đủ và kém an toàn. Một số mỏ còn quá nhỏ,
diện tích khai trường hẹp, trữ lượng ít nên không có điều kiện để phát triển
sản lượng và cơ giới hoá dây chuyền công nghệ. Khai thác hầm lò có rất
nhiều tiềm năng nhưng hiện nay còn hạn chế do công nghệ khai thác chưa
đáp ứng được yêu cầu phát phát triển.
Xu hướng hiện nay là khai thác lộ thiên giảm dần tỷ trọng và tỷ trọng
khai thác hầm lò tăng. Nhưng sản lượng của cả hai loại hình khai thác này
đều tăng (trong tương lai gần, khai thác than lộ thiện vẫn có thể tăng sản
lượng). Đây là một xu hướng hợp lý, một mặt vẫn đảm bảo chú trọng phát
triển cả hai hình thức khai thác, mặt khác tiến tới phát triển theo chiều sâu
bằng cách đổi mới công nghệ, ngày càng phát huy tiềm năng của khai thác
hầm lò.
3. Đánh giá tình trạng kỹ thuật và công nghệ
a) Khai thác lộ thiên
Hiện nay tại tất cả các mỏ lộ thiên được trang bị đồng bộ thiết bị
khoan, xúc bốc, vận tải ngoài thuộc loại trung bình, tiên tiến. Đối với các
mỏ qui mô lớn như Cao Sơn, Cọc Sáu, Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo, Hà Lầm
phục vụ cho dây chuyền bóc đất đá là máy khoan thuỷ lực với đường kính
lỗ khoan d= 110-200 mm, máy xúc điện EKG có dung tích gàu E=4,6-8
m
3
, máy xúc thuỷ lực với dung tích gầu xúc E= 3,5-6,7 m
3
, ô tô tự đổ có
trọng tải 30-58 tấn gồm các chủng loại như BelAZ, Komatsu, Đào hào
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 24 Lớp: Kế hoạch 45B

+ Ô tô vận tải cỡ lớn ( Trọng tải 42÷60 tấn), ô tô khung động ( xe lúc
lắc có khả năng leo dốc cao và bán kính đường vòng nhỏ).
Tóm lại, tình trạng kỹ thuật và công nghệ của các mỏ lộ thiên hiện
nay đã được cải thiện một bước về chất, đang tiếp tục đổi mới và dần dần
đi vào nề nếp, tiến tới phải đảm bảo qui trình, qui phạm kỹ thuật và phù
hợp với cơ chế kinh tế thị trường.
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Hải 25 Lớp: Kế hoạch 45B

Trích đoạn Đánh giá chung 1 Những thành tựu chủ yếu Dự báo nhu cầu than Phương hướng phát triển ngành than Qui hoạch khai thác vùng than Quảng Ninh Qui hoạch khai thác hầm lò
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status