Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
LỜI MỞ ĐẦU
BHXH là một chính sách lớn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm tổ
chức thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước. BHXH đã được Liên
hợp Quốc thừa nhận và coi đó là một trong những quyền lợi cơ bản của con
người. Do đó, BHXH cần phải được thực hiện đối với mọi người lao động.
Trong những điều kiện khác nhau của đất nước, chính sách BHXH cũng có sự
thay đổi góp phần to lớn giúp cho người lao động ổn định cuộc sống khi họ
gặp phải những sự kiện bảo hiểm.
Với tỷ lệ chiếm 51,48% dân số, 52% lực lượng lao động xã hội của đất
nước, phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng đã và đang tham gia trên mọi lĩnh
vực của đời sống cả về chính trị, kinh tế và xã hội. Thực tế cho thấy phụ nữ
Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc và ngày nay là công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài
đóng góp cho xã hội, phụ nữ còn phải đảm đương công việc gia đình với thiên
chức là người vợ, người mẹ. Chính bởi vậy, ngay từ khi thành lập nước, Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm đến lao động nữ được thể hiện: ngay khi
BHXH Việt Nam đi vào hoạt động chế độ trợ cấp thai sản là một trong số ít
chế độ được triển khai thực hiện ngay lúc đó. Chế độ thai sản đã góp phần
giảm bớt những gánh nặng cho người lao động đặc biệt là lao động nữ trong
xã hội.
Chế độ trợ cấp thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách
BHXH và là một chế độ không thể thiếu đối với người lao động không chỉ bởi
tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn bởi chính tính chất nội tại của nó là
sản xuất ra sức lao động xã hội. Trong những năm qua, chế độ thai sản đã bảo
vệ cho hàng vạn lao động nữ và hàng vạn trẻ em. Tuy nhiên, với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường cũng như sự phát triển và tiến bộ xã hội thì hiện tại
chế độ thai sản cũng còn một số điểm chưa phù hợp.
Vấn đề đặt ra cho BHXH Việt Nam là: làm thế nào để cải thiện, nâng
cao hơn nữa hiệu quả của việc thực hiện chế độ thai sản, từ đó sẽ nâng cao
được đời sống vật chất của lao động nữ trong thời kỳ họ gặp sự kiện thai sản.
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CHẾ ĐỘ TRỢ
CẤP THAI SẢN
I/ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BHXH
Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở …Để
thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản
phẩm cần thiết. Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con
người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như
vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ
thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế cuộc sống,
không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và
mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó
khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất
thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau,
tai nạn hay già, yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của
tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội
khác … khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc
sống không vì thế mà mất đi. Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất
hiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần được khám chữa bệnh và điều trị khi
ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng. Bởi
vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải
tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm
bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ
của Nhà nước. Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc
chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn công nhân trở nên
phổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa người lao động làm thuê và giới chủ
cũng trở nên phức tạp. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động,
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngông Nhân quyền ngày
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội
có quyền hưởng BHXH. Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền
về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do phát triển của con
người”.
II/ LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHXH
1. BHXH trên thế giới
Ở thời cổ đại, con người vừa tự lực, vừa biết hợp đoàn để đi săn bắn,
lao động nhằm kiếm sống, vật lộn với thiên nhiên. Khi gặp rủi ro tai biến thì
họ vừa tự mình chịu đựng khắc phục, vừa được các thành viên của cộng đồng
hỗ trợ, cưu mang. Ở thời kỳ này, sự tương trợ lẫn nhau mang tính tự phát,
theo bản năng và mới được thể hiện trong phạm vi cộng đồng nhỏ: giữa anh
chị em cùng gia đình, thân tộc, giữa các thành viên cùng bộ lạc, thôn xóm.
Đến gia đình có phân công lao động, sản xuất xã hội phát triển hơn,
quan hệ xã hội, quan hệ tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các cộng
đồng cũng phát triển hơn. Tôn giáo xuất hiện, các thánh địa, hội nhà chùa,
nhà thờ, trại bảo dưỡng … được thiết lập, trong đó có mục đích từ thiện, trợ
giúp các tín đồ, các con chiên gặp phải nghịch cảnh, trước hết là người nghèo,
trẻ mồ côi. Những hoạt động nhân ái của người dân cũng làm thức tỉnh giới
cầm quyền. Để ngăn chặn rối loạn xã hội có thể nảy sinh làm lung lay địa vị
thống trị, không ít vua quan đã tham gia hoạt động từ thiện. Nhiều triều đại
vua đã coi việc hỗ trợ các gia đình giảm thiểu nghèo khó không chỉ là nghĩa
vụ nhân đạo, mà còn là một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất để
làm yên dân thịnh nước.
Ngành công nghiệp hình thành, hàng loạt người dân nông thôn di cư ra
thành thị. Trong khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, một số nghiệp đoàn
thợ thủ công ra đời. Tình đoàn kết tương thân giữa những người làm thuê nảy
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhiều trường hợp rủi ro xảy ra vượt quá khả
năng khắc phục của một ông chủ. Giới thợ luôn luôn mong muốn phải chi ít
hơn, nên tranh chấp giữa chủ - thợ lại tiếp diễn. Trước tình hình đó, Nhà nước
đã phải can thiệp, điều chỉnh. Sự can thiệp này, một mặt làm tăng vai trò của
Nhà nước, giới chủ buộc phải đóng góp thêm, đồng thời giới thợ cũng phải
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính mình, cả giới chủ và giới thợ
đều thấy mình có lợi và được bảo vệ. Mặt khác, Nhà nước lại tăng chi tiêu
ngân sách. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của
người lao động được dàn trải theo nhiều chiều, một quỹ tiền tệ tập trung trên
phạm vi quốc gia nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động khi bị ốm, tai
nạn, tuổi già … được thiết lập. Nhờ vậy, đã tạo ra khả năng giải quyết các
phát sinh rủi ro, bất lợi lớn nhất với một tổng dự trữ nhỏ nhất. Trên cơ sở xác
suất phát sinh rủi ro của cả tập hợp người lao động trong phạm vi bao quát
của quỹ. Điển hình là:
+ Vào năm 1850 dưới thời tổng thống Bis-mác, nhiều bang của
nước Đức đã giúp các địa phương lập quỹ bảo hiểm ốm đau, do các công
nhân đóng góp để được bảo hiểm. Năm 1884, xuất hiện chế độ rủi ro nghề
nghiệp. Năm 1889, xuất hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật.
+ Trong khoảng thời gian từ năm 1883 đến 1889 một hệ thống
BHXH lớn lần đầu tiên đã ra đời áp dụng nguyên tắc người được BHXH phải
đóng phí BHXH. Theo gương nước Đức, năm 1918, Pháp thực hiện BHXH
phổ cập trong cả nước nhưng không thành công. Đến năm 1930, Pháp thông
qua đạo luật thứ 2 về BHXH áp dụng chủ yếu cho ngành công nghiệp và
thương mại.
+ Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, liên tiếp các nước Mỹ latinh, Hoa Kỳ,
Canada, đều áp dụng, từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai và sau khi giành
độc lập, nhiều nước châu Phi, châu Á và vùng Caribê cũng lần lượt áp dụng
cứu tế thất nghiệp và ban bố Bộ luật lao động”. Trong tuyên ngôn 10 điểm
Chương trình Điều lệ Việt Minh (25/10/1941) cũng bao gồm nội dung trên và
ghi thêm “Người già, kẻ tàn tật được Chính phủ chăm nom và cấp dưỡng”.
Ngay sau khi giành được chính quyền và suốt trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
bản nói về BHXH, chế độ BHXH đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều lần bổ
sung, sửa đổi và cải tiến, từng bước phát triển thành một hệ thống chế độ
BHXH tương đối hoàn chỉnh.
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
Quá trình hình thành và phát triển của BHXH ở Việt Nam có thể được
phân chia thành các giai đoạn như sau:
Từ năm 1961 trở về trước
Năm 1945 cuộc cách mạng của dân tộc ta đã giành được thắng lợi đáng
dấu sự kiện này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảng
trường Ba Đình, dù với một nền tài chính hết sức eo hẹp, kinh tế nghèo nàn
và lạc hậu, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn quan tâm đến chế độ chính sách
BHXH. Khởi đầu là sự ra đời của sắc lệnh số 54/SL ngày 01/11/1945 đã quy
định trợ cấp hưu bổng đối với công chức (phải đủ 55 tuổi hoặc sau khi làm
việc được 30 năm), tiếp đó là sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 đã hoàn
thiện thêm về mức trợ cấp hưu bổng cho công chức. Ở hai sắc lệnh này Chính
phủ đã quy định rõ mức đóng góp của các bên vào quỹ hưu bổng.
Sau đó, sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947; sắc lệnh số 76/SL và số
77/SL ngày 22/5/1950 đã quy định cụ thể về các chế độ: ốm đau, thai sản,
hưu trí, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và tiền tuất đối với cán bộ, công nhân
viên chức.
- Hoà bình được lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ BHXH có những bước phát triển mới.
Tháng 11/1954, chế độ lương hưu thương tật được hình thành và đến ngày
+ Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
+ Trợ cấp mất sức lao động.
+ Trợ cấp hưu trí.
+ Trợ cấp tử tuất.
Theo quyết định số 31/CP ngày 20/3/1963 của Hội đồng Chính phủ quy
định nhiệm vụ của Bộ Nội vụ và Tổng công đoàn Việt Nam đối với công tác
BHXH. Lúc này, việc quản lý sự nghiệp BHXH được phân ra như sau: Tổng
công đoàn Việt Nam quản lý 3 chế độ: ốm đau, thai sản, TNLĐ & BNN nhẹ;
Bộ Nội vụ quản lý 3 chế độ: mất sức lao động, hưu trí, tử tuất.
Trong thời gian thực hiện Điều lệ tạm thời này các chế độ, chính sách
BHXH đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ,
được thể hiện qua sự ra đời của các Nghị định ngày 30/10/1964, Hội đồng
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
10
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
Chính phủ ban hành Nghị định số 161/CP; Nghị định số 164/CP (ngày
14/7/1979) về sửa đổi bổ sung một số chế độ. Chế độ trợ cấp mất sức lao
động được tính trên cơ sở thời gian công tác liên tục tương ứng là 6-8-10
năm. Chế độ trợ cấp tiền tuất được sửa đổi từ 4 mức thành 1 mức, không phân
biệt theo số lượng người phải nuôi dưỡng, nếu gia đình có nhiều người phải
nuôi dưỡng thì được hưởng trợ cấp đến mức ngang với tiền lương của người
công nhân viên chức trước khi chết.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản để áp dụng BHXH ở vùng mới giải phóng
(miền Nam) lúc này BHXH đã được thực hiện trong phạm vi cả nước.
Các nghị định số 10/NĐ-76 ngày 18/6/1976 của Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Nghị định số 186/CP ngày
25/9/1976 đã quy định rõ hơn về chính sách BHXH khu vực miền Nam.
Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, tình hình kinh tế - xã hội của
nước ta gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế suy giảm, lạm phát lớn, tình trạng dư
- Quyết định số 60/HĐBT ngày 1/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về
sửa đổi chế độ trợ cấp đối với công nhân viên chức nghỉ hưu vì mất sức lao
động.
- Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 ban hành điều lệ Bảo hiểm
Y tế (BHYT), mở ra một loại hình bảo hiểm bắt buộc và loại hình bảo hiểm tự
nguyện
- Ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định
tạm thời chế độ BHXH. Nội dung trước hết nhằm xoá bỏ tư duy bao cấp, ỷ lại
trong lĩnh vực BHXH, mở ra loại hình xã hội bắt buộc và loại hình BHXH tự
nguyện, thực hiện cơ chế đóng góp phí BHXH đối với người được bảo hiểm.
Nghị định quy định 5 chế độ trợ cấp: ốm đau, TNLĐ & BNN, thai sản, hưu
trí, tử tuất, xoá bỏ chế độ trợ cấp mất sức lao động vốn đã bộc lộ nhiều biểu
hiện tiêu cực và bất hợp lý, thống nhất hoá tổ chức quản lý BHXH trong cả
nước.
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
Từ năm 1995 đến nay
Trên cơ sở thực tiễn thực hiện BHXH từ trước, nhất là căn cứ vào những
kinh nghiệm thực hiện Nghị định 43/CP và để hoàn thiện chính sách BHXH,
ngày 26/1/1995 Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP về Điều lệ BHXH đối
với người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế.
Điều lệ BHXH mới có sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể chủ yếu
là điều kiện và mức hưởng trợ cấp BHXH.
Điều lệ BHXH mới được ban hành đã mở ra một trang mới trong lịch sử
ra đời của BHXH nước ta, với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Để phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập, từ năm 1998 đến nay
chính sách BHXH đã được tu chỉnh, bổ sung. Đặc biệt nhất là sự tu chỉnh, bổ
sung Bộ luật Lao động trong đó chương nói về BHXH cũng có một số thay
giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động
tham gia BHXH.
1.1.2 Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao
động. Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà
đối tượng tham gia BHXH là khác nhau. Đối tượng này có thể là tất cả hoặc
một bộ phận những người lao động nào đó.
Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH
đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương.
Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao
động còn có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của
Nhà nước. Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm
của họ để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH
nhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phải có
trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối
với người lao động. Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trưng riêng có
của BHXH. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn
định và bền vững .
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
14
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
1.2 Bản chất của BHXH
BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá. Khi trình độ phát
triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH
có điều kiện ra đời phát triển. Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và
phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế
chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống
BHXH vững mạnh được. Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa
dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng
phong phú.
như: tuổi già, thai sản … Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong
và ngoài quá trình lao động.
Bốn là: Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi
khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn
quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do các bên tham gia
BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Năm là: Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu
thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập,
mất việc làm. Nó được tổ chức lao động quốc tế cụ thể hoá:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo
nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu
cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
BHXH là bộ phận lớn nhất trong hệ thống An sinh xã hội. Có thể nói,
không có BHXH thì không thể có một nền An sinh xã hội vững mạnh.
1.3 Chức năng của BHXH
Chức năng là sự khái quát của các nhiệm vụ cơ bản, là dạng hoạt động
đặc trưng và khái quát nhất của tổ chức hay cá nhân gắn với chức danh nào đó
trong một hệ thống tổ chức hoạt động thuộc một phạm vi nhất định trong xã
hội. Cũng như các thành phần khác của kinh tế bảo hiểm, bảo hiểm xã hội có
hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Tuy
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
16
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
nhiên, do tính đặc thù của mình, BHXH không những có tính kinh tế mà còn
có tính xã hội rất cao. Vì vậy, về tổng quát, BHXH có những chức năng sau:
Thứ nhất: Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động được bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị
giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm theo những điều kiện
không được hưởng trợ cấp bảo hiểm. Số lượng những người không được
hưởng trợ cấp như vậy thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số những
người tham gia đóng góp. Chỉ những người lao động bị giảm hoặc mất thu
nhập trong những trường hợp xác định và có đủ các điều kiện cần thiết mới
được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH. Số lượng những người này thường chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp nêu trên. Như vậy,
BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập
theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người lao động có thu nhập thấp
hơn, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu
phải nghỉ việc và khái quát hơn là giữa số ít người hưởng trợ cấp theo những
chế độ xác định. Điều đó cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội.
Thứ ba: Góp phần kích thích, khuyến khích người lao động hăng
hái lao động sản xuất.
Người lao động có việc làm, khi khoẻ mạnh làm việc bình thường sẽ có
tiền lương, tiền công, khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặc
không may bị chết đã có BHXH bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập quan trọng, do đó đời sống của bản thân và gia đình họ luôn luôn có chỗ
dựa luôn luôn được đảm bảo. Chính vì thế, họ sẽ gắn bó với công việc, với
nơi làm việc và yên tâm, tích cực lao động sản xuất góp phần tăng năng suất
lao động cũng như tăng hiệu quả kinh tế. Nói cách khác, tiền lương (tiền
công) và BHXH là những động lực thúc đẩy hoạt động lao động của người
lao động.
Thứ tư: Phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích.
BHXH dựa trên cơ sở đóng góp ít nhưng đều kỳ của mọi người sử
dụng lao động, người lao động và Nhà nước cho bên thứ 3 là cơ quan BHXH,
để tồn tích dần thành một quỹ tập trung, quỹ này lại huy động phần nhàn rỗi
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
18
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
tương đối vào hoạt động sinh lợi làm tăng thêm nguồn thu. Do đó, BHXH
Tất cả các loại quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại một
thời điểm mà còn luôn biến động theo hướng tăng lên ở đầu vào với các
nguồn thu và giảm đi ở đầu ra với các khoản chi như một dòng chảy liên tục.
Tương tự như vậy, quỹ BHXH cũng được hình thành từ các nguồn thu khác
nhau và được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH cho người thụ hưởng và
các chi phí quản lý khác theo quy định của pháp luật. Vì vậy, quỹ BHXH phải
tính toán sao cho nguồn thu phải đủ lớn và phải liên tục để đảm bảo các chi
phí đầu ra của BHXH không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai.
Theo đó ta có khái niệm về quỹ BHXH: “Quỹ BHXH là tập hợp những
đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH (có thể bao gồm người
lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp) và
các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả
cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu
nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm và chi phí cho
các hoạt động nghiệp vụ BHXH”.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự
phòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện
hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn
tại và phát triển.
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN. Từ đó
ta thấy quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:
• Quỹ ra đời và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc
sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm
hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích
kinh doanh kiếm lời. Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu
– chi.
• Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mang
tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện: người lao động là đối
tượng tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
21
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
• Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng
thời kỳ nhất định của đất nước. Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có
nhiều điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về
BHXH đối với người lao động càng được nâng cao. Đồng thời khi kinh tế - xã
hội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao
hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH …
2.2 Nguồn hình thành quỹ BHXH
Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ thuộc vào
pháp luật BHXH và tuỳ thuộc vào mục đích của hệ thống BHXH của mỗi
nước. Nhìn chung, quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Người lao động đóng góp
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm
- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng
hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi).
Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho
người lao động được phân chia cho cả nguời sử dụng lao động và người lao
động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro,
mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một
phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra
một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê
mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo
được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía người lao động, sự đóng
góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi
ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách
chặt chẽ.
lý BHXH …
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
23
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.S Nguyễn Hải Đường
Bảng 1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới
Tên nước Chính phủ
Tỷ lệ đóng góp
của người lao
động so với tiền
lương (%)
Tỷ lệ đóng góp của
người sử dụng lao
động so với quỹ
lương (%)
CHLB Đức
CH Pháp
Inđônêxia
Philipin
Malaixia
Bù thiếu
Bù thiếu
Bù thiếu
Bù thiếu
Chi toàn bộ chế độ
ốm đau, thai sản.
8,188,14 ÷
82.11
0,3
25,985,2 ÷
5,9
chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học
khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán
khác nhau:
- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp
BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng.
- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng.
- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định
mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải
đóng.
Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lại
khá phức tạp vì nó liên quan đến cả người lao động. người sử dụng lao động
và Nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và
điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí
BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: Cân bằng thu chi, lấy số đông bù số
ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với
nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH xác định theo công thức:
P = f
1
+ f
2
+ f
3
Trong đó:
P - Phí BHXH
f
1
- Phí thuần tuý trợ cấp BHXH
Nguyễn Thị Thanh Uyên Lớp: Bảo hiểm 44A
25