CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THUẾ
XUẤT NHẬP KHẨU Ở NƯỚC TA
I. ĐÔI NÉT VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU QUA CÁC
THỜI KỲ .
1.Thời kỳ phong kiến và thực dân pháp thống trị .
1.1. Thời kỳ phong kiến Việt Nam .
Thời kỳ mở đầu dựng nước ở Việt nam cách đây khoảng 4000 năm lịch sử,
từ khi kỹ thuật luyện kim bắt đầu xuất hiện, đây là thời đại Hùng Vương, thời
kỳ này nền kinh tế mang tính chất một nền kinh tế tự nhiên, con người đã biết
trồng trọt canh tác và thuần hoá các con vật để chăn nuôi chúng hoạt động trao
đổi không diễn ra, cho nên hầu như không có hoạt động ngoại thương. Đến thời
kỳ phong kiến hoá (179Tr CN- 983) đây là thời bọn phong kiến Trung quốc
đô hộ nước ta. Thời kỳ này ngoài việc phải cống nộp ra chúng nhưng sản vật
quý, chúng còn thi hành chính sách thuế bóc lột đó là tô thuế, thuế muối, thuế
sắt và lao dịch. Hoạt động ngoại thương đều do Trung quốc quản lý, chúng thi
hành chính sách độc quyền về ngoại thương. Sau đó đến thời kỳ phong kiến tự
chủ, nước ta đã trải qua rất nhiều triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần,Hồ và
Lê sơ nhìn chung tất cả đều thi hành chính sách kinh tế “dĩ nông vi bản “từ đó
đi tới chính sách trọng nông ức công thưong. Về ngoại thương thì do hệ thống
giao thông đường thuỷ đã mở ra mối liên hệ và giao lưu giữa Việt nam vói
nước ngoài, đặc biệt thời kỳ Lý-Trần thì Vân đồn (Quảng Ninh )là cửa khẩu
quan trọng, ở đó có các thuyền buôn nước ngoài đến buôn bán hàng hoá.Tiếp
đó là thời kỳ Lê Mạt tới thời Nguyễn đây vốn là thời kỳ khủng hoảng suy vong
của chế độ phong kiến Việt Nam. Nhà nước lại thực hiện chính sách kìm hãm
sự phát triển của công thương nghiệp khiến nó rơi vào tình trạng khủng hoảng,
ở trong nước thì nhà nước đánh thuế khoá nặng nề làm cho nhiều ngành bị phá
1
sản, đối với hoạt động ngoại thương thì bằng những chính sách thuế cao đối với
nhiều loại hàng hoá và thực hiện ngăn cấm với nước ngoài. Nhưng đến cuối thế
kỷ thứ 19 dưới triều đại Quang Trung thì nhà nước lại giảm bỏ nhiều loại thuế
Nhưng đến sau năm 1939 thì chúng lại thực hiện chính sách thuế quan tự trị
với nội dung: (1) các mặt hàng buôn bán giữa Pháp vào Vệt nam thì lại không
được miễn thuế nữa, (2)thuế xuất nhập khẩủ Đông Dương thì do Đông Dương
tự quyết định và phải được sự chuẩn y của Pháp. Nền kinh tế Việt nam trong 50
năm (1890-1939) liên tục xuất siêu, 11 năm xuất siêu và 9 năm nhập siêu.
2. Chính sách thuế xuất nhập khẩu từ 1945 đến nay.
Ngày 13/08/1951 chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 49/SL quy định
nguyên tắc tổ chức quản lý ngoại thương và thể lệ xuất nhập khẩu. Văn kiện
lịch sử này đặt nền móng để xây dựng chính sách quản lý xuất nhập khẩu sau
này. Nhưng do chiến tranh nên sau khi thống nhất đất nước thì chính sách quản
lý xuất nhập khẩu mới được định hình và vận hành, đồng thời từng bước được
sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ đổi
mới, phương sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã mở
đường cho việc hình thành và phát triển nền sản xuất hàng hoá hướng vào xuất
khẩu thay thế nhập khẩu của các thành phần kinh tế phong phú hướng ra thị
trường, hướng ra bên ngoài. Đó là yếu tố nội lực đòi hỏi phải chuyển đổi chính
sách xuất nhập khẩu. Cùng lúc đó sự biến động của các nước XHCN, sự bao
cấp viện trợ quốc tế không còn nữa, việc buôn bán phải hoà nhập vào cộng
đồng thế giới. Đây là yếu tố khách quan cũng rất bức bách không những phải
đổi mới mà phải đổi mới nhanh chóng, đồng bộ toàn diện chính sách quản lý
xuất nhập khẩu để có đIều kiện đưa nền ngoại thương nói riêng và nền kinh tế
nước ta nói chung vượt qua khủng hoảng để có bước phát triển.
Bước “ đột phá “ của việc đổi mới chính sách là mạnh dạn thay đổi quan niệm
về Nhà nước độc quyền ngoại thương,mà nhà nước chỉ độc quyền ban hành
chính sách,luật pháp thực hiện quản lý thông qua hành lang pháp lý, thực hiện
qua luật thuế xuất nhập khẩu .
3
II. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam .
4001
400110
400120
Cá, động vật, giáp xác và động vật
thân mềm
Cá sống các loại
Cà phê các loại rang, chưa rang
hoặc đã khử chất Cafein,các chất
thay thế Cafê có chứa Cafê theo tỷ
lệ.
Chè các loại
Hồ tiêu, ớt khô, xay tán
Gạo các loại
Cá đã chế biến ăn được, trứng cá
muối,các sản phẩm trứng cá muối
chế biến từ trứng cá.
Dầu mỏ, dầu chế biến từ khoáng
chất Bitum, dạng thô.
Dầu thô
Than
Than bánh than quả và các loại
nhiên liệu rắn sản xuất từ than
được.
Cao su tự nhiên, nhựa cây Balata
Mủ cao su tự nhiên
Cao su tự nhiên dạng khác
0
1
0
0
Cà fê
Chè các loại
Hạt tiêu
Gạo các loại
Than
Dầu thô
Cao su
0
4
0
0
0
0
0
0
4
0
Nguồn: Tổng cục thuế
Trên đây là biểu thuế suất của một số mặt hàng chủ lực mà Việt Nam đã thực
hiện trong thời gian qua. Thông qua hai biểu thuế suất thuế xuất khẩu trên ta có
nhận xét như sau: nếu như năm 1991 trong biểu thuế xuất khẩu chỉ có 60 mặt
hàng tương ứng với 11 mức thuế suất (0 - 45%) thì đến nay năm 1999 trong
biểu thuế suất thuế xuất khẩu có tới 62 nhóm mặt hàng nhưng chỉ có 10 mức
thuế suất (0 - 45%).
1.2. Biểu thuế nhập khẩu .
Số mặt hàng mà nước ta phải nhập khẩu có tới hơn 3000 mã nhóm mặt hàng.
Biểu thuế nhập khẩu (1991) có kết cấu như sau:
6
Bảng số 3
Mã số Nhóm, tên mặt hàng Thuếsuất(%)
15
30
120
0
0
0
15
5
Nguồn: Tổng cục thuế
Cho đến năm 1998 thì biểu thuế suất của một số nhóm mặt hàng đã được thay
đổi chẳng hạn như:
7
Bảng số 4.
Mã số Nhóm, tên mặt hàng Thuế suất (%)
1 2 3
300450.11
300450.19
300450.30
8418.3010
8418.3090
8509.10
8524.90.10
8703.10.11
8703.10.12
8704.21.11
8704.21.12
Vitamin A
Vitamin loại khác
Vitamin B1,B2,B6,B12
chính phủvề việc sửa đổi tên và thuế suất của một số mặt hàng trong biểu thuế
nhập khẩu .
8
Bảng số 5.
Mã số Nhóm, tên mặt hàng Thuế suất (%)
1 2 3
870310
870310.11
870310.12
870310.13
870310.21
870310.22
870310.23
870310.31
870310.32
870310.33
ôtô và cácloại xe khác thiết kế cho người
* Loại 15-20 chỗ ngồi
Nguyên chiếc
Dạng SKD
Dạng CKD1
* Loại 5-15 chỗ ngồi
Nguyên chiếc
Dạng SKD
Dạng CKD1
* Loại <= 5 chỗ ngồi
Nguyên chiếc
Dạng SKD
Dạng CKD1
100
áo len, áo nỉ, cardigans
Quần âu, quần soóc
áo sơ mi nữ
áo sơ mi nam
4
5
6
7
8
0.02USD/ chiếc
0.05USD/ chiếc
0.05USD/chiếc
0.05USD/chiếc
0.05USD/chiếc
Nguồn: Tổng cục hải quan
Ngày 29/4/98 Bộ tài chính đã ra quyết định về việc ban hành giá mua tối
thiểu để tính thuế nhập khẩu và làm căn cứ xác định giá tính thuế nhập khẩu.
Bảng này có nội dung như sau:
Bảng số 7.
Tên hàng Đơn
vị
Giá tính thuế
(USD)
1 2 3
* Nhóm 1: Đồ uống các loại
- Rượu Extra old
- Rượu Remy Martin Extra
* Nhóm 2: Xi măng các loại
- Xi măng đóng bao đen/ xám do G7sản
xuất
nơi và thời điểm mua hàng đối với trường hợp có hợp đồng mua bán nghiêm
chỉnh, đủ các điều kiện chứng từ, thủ tục để xác định giá tính thuế.
- Trong bảng tính thuế này chỉ đề cập đến một số nhóm mặt hàng, còn các
mặt hàng khác thì Bộ tài chính giao quyền cho các cục hải quan tham khảo ý
kiến các cơ quan thuế, vật giá cùng cấp, căn cứ vào các nguyên tắc xây dựng
giá tính thuế nhập khẩu để quy định giá tính thuế bổ sung. Trên thực tế, do
không có tổ chức theo dõi đầy đủ, kịp thời sự biến động giá cả thuộc mọi loại
hàng hoá và thường là với tư tưởng đơn thuần chạy theo kế hoạch, phần lớn giá
địa phương quy định cao hơn giá thực tế. Vấn đề nổi lên khá trầm trọng ở đây
là có rất nhiều hàng hoá có gía cao,thấp khác nhau đều được xếp chung vào một
“giỏ “. Mặc dù, cùng một loại hàng nhưng do tên hiệu, công thức pha chế mà
giá cả chênh lệch rất lớn, ví dụ: đối với nhóm hàng rượu (rượu Extra old là
42USD/lít trong khi đó rượu Remy Martin extra là 90USD/lít) .
- Trong luật thuế có quy định một số điều, thủ tục cần thiết về giấy phép, về
hợp đồng, hoá đơn chứng từ có liên quan để xác định tính hợp lệ của việc nhập
11
hàng. Đại bộ phận các công ty lớn nhập khẩu đã chấp hành đúng đắt, nhưng
để giữ tín nhiệm quốc tế với lý do chính đáng nào đó ghi trên hoá hợp đồng có
thể giá thấp hơn giá tối thiểu ở cửa khẩu nhập thì lại không được xem xét công
nhận làm căn cứ tính thuế. Cách giải quyết như vậy đã động trạm đến lòng tự
trọng của họ và cũng bị xếp vào loại “làm ăn có nghi vấn “. Điều này dẫn đến
hiện tượng hải quan lớn quyền và thiếu tin cậy cần thiết theo thông lệ quốc tế .
2. Thực trạng của chính sách thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
2.1.Những ưu điểm của chính sách thuế xuất nhập khẩu .
Trong những năm qua Luật Thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu đã phát huy tác
dụng tích cực hỗ trợ kinh tế trong nước, thúc đẩy hoạt động ngoại thương của
Việt Nam phát triển và huy động nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước
(biểu1), dần trở thành công cụ quản lý vĩ mô, khuyến khích đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu phù hợp với chính sách mở cửa, chính sách kinh tế của nước
ta trong tình hình mới .
24,2
21,85
23,6
24,9
Nguồn: Tổng cục thuế
12
Đến nay ta đã quan hệ kinh tế với khoảng 105 nước trên thế giới. điều này,
đã mở rộngthị trường xuất nhập khẩu theo hướng ngày càng gia tăng. đáng chú
ý là nhiều thị trường xuất khẩu có dung lượng lớn như các thị trường: Liên
minh Châu Âu(EU), Nhật bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Trung cận đông, Châu
Phi và các nước Đông Nam Á. Trong những nước mà có quan hệ với ta thì đã
có khoảng 65 nước có thoả thuận về đối xử tối huệ quốc trong đó có: Cộng hoà
Achentina, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Italia, Liên bang Nga, và có 8 nước
trong khu vực Đông Nam Á thoả thuận về đối xử ưu đãi đặc biệt trong quan hệ
thương mại với nước ta. Trong 105 quốc gia thì có 10 quốc gia là bạn hàng lớn
nhất chiếm 75% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu. Hàng của Việt nam đã
bắt đầu xâm nhập vào các thị trường Mỹ, Tây Âu (đây vốn là những thị trường
khó tính) còn các thị trường truyền thống như các nước trước đây thuộc Liên
Xô và Đông Âu đang được khôi phục lại. Triển vọng trong quan hệ thương mại
giữa Việt Nam và các nước trên thế giới đang được tiếp tục mở rộng và phát
triển.
Danh mục mã số hàng hoá thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam dựa theo danh
mục của hệ thống điều hoà HS. Điều này tạo thuận lợi trong việc quy định mức
thuế suất từng nhóm hàng và cho biểu thuế Việt Nam phù hợp với thương mại
và thuế quốc tế.
Ngày 05/07/1993 quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều luật thuế xuất
khẩu,thuế nhập khẩulần thứ hai, trong đó có sửa đổi quy định về miễm thuế đối
với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thời hạn nộp thuế hàng xuất
khẩu, hàng là nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu và
ngoài ra còn quy định lại chế độ miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế. Đến năm
như: Dầu thô, thuỷ sản, dệt may,giầy dép, gạo, cà fê, hạt điều, cao su, lạc
nhân,điện tử.
Hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, xuất khẩu nói riêng đạt được những
thành tựu đáng kể trên là do hệ thống chính sách, cơ chế quản lý. Nói chung
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, cũng như chính sách thuế xuất nhập khẩu ở
14
nước ta cũng đã hình thành theo hướng ổn định dần. Điều đó có tác dụng tích
cực thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu tăng nhanh và hướng nhập khẩu phục tốt
cho sản xuất và tiêu dùng. Đặc biệt số lượng donh nghiệp tham gia vào hoạt
động xuất nhập khẩu đã tăng rất rõ. Nếu như trước đây chủ yếu là doanh nghiệp
nhà nước thì hiện nay số doanh nghiệp ở tất cả các thành phần phần kinh tế có
thể tham gia xuất nhập khẩu theo quy định của nhà nước. Các chính sách và cơ
chế quản lý đó được cải thiện theo hướng chú trọng đến việc nâng cao chất
lượng hàng xuất khẩu thông qua việc tiếp thu và áp dụng những tiến bộ mới và
tiên tiến của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ.
Có thể nói rằng, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của nước ta có
tác động tích cực trong việc quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu, góp phần
bảovệ sản xuất trong nước, hướng người tiêu dùng và tạo nguồn thu cho ngân
sách nhà nước. Thuế xuất nhập khẩu hiện hành đã và đang là công cụ quan
trọng của Nhà nước trong việc bảo trợ cho sản xuất trong nước phát triển và là
nguồn thu qua trọng của ngân sách nhà nước.
Chính sách xuất nhập khẩu góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
còn thể hiện ở các văn bản pháp lý được Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước
ban hành, Chính phủ hướng dẫnvà Bộ Tài chính cùng các ban ngành có liên
quan. Như thông tư của Bộ Tài chính số 84/1997 TT-BTC ngày 13/11/1997 về
việc hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điểm trong Luật thuế xuất nhập khẩu
như sau:
Khi nhập khẩu vẫn phải nộp thuế nhập khẩu và khi tái xuất máy móc, thiết
bị ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sẽ được hoàn thuế nhập khẩu số thuế nhập khẩu
được hoàn dựa trên cơ sở nguyên tắc giá trị sử dụng còn lại của máy móc thiết
cho công nghệ hoá hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là bố trí lại cơ cấu kinh tế,
tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại song phương, đẩy nhanh quá
trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu. Trước
yêu cầu đó, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã bộc lộ những hạn sau:
16
Một là, thuế nhập khẩu của ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu thực
hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu. Điều này thể hiện ở nhưng mặt sau:
* Thuế nhập khẩu hiện nay với chức năng bảo vệ cho sản xuất trong nước đã
thường xuyên được điều chỉnh thuế suất cho phù hợp với những mặt hàng trong
nước đã sản xuất được, do đó nó đã góp phần hỗ trợ tích cực cho sản xuất trong
thời kỳ đầu phát triển. Nhưng chính điều này đã tạo ra những lệch lạc trong
định hướng đầu tư trong nước, đặc biệt là thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong những năm qua, đầu tư nước ngoài đã được thu hút vào những ngành
sản xuất ra các sản phẩm có mức thuế bảo hộ cao phục vụ cho nhu cầu của thị
trường trong nước chứ không nhằm vào xuất khẩu. Do tổ chức quản lý,điều
hành xuất nhập khẩu còn nhiều yếu kém nên có tình trạng 50% sản phẩm của
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không xuất khẩu sản phẩm mà
cung cấp vào thị trường nội địa,và đây là việc làm đã gây nhiều khó khăn cho
các doanh nghiệp trong nước trong việc tiêu thụ phẩm. Điều này đã dẫn đến
tình trạng vốn đầu tư này chưa thực sự góp phần tăng tiềm lực xuất khẩu, tăng
khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và đẩy nhanh được khả năng
thâm nhập thị trường của hàng Việt Nam, gây lãng phí trong sử dụng nguồn
vốn này.
Trong điều kiện thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu,
hội nhập với các nền kinh tế khu vực và thế giới, chức năng bảo vệ sản xuất
trong nước của thuế nhập khẩu cần được thay đổi căn bản so với thời kỳ trước
đây. Cũng như nhiều nước trên thế giới đã sử dụng thuế nhập khẩu để bảo vệ
cho sản xuất trong nước đối với mọi ngành sản xuất, trong điều kiện hội nhập
chúng ta cần xác định rõ quan điểm thuế nhập khẩu lựa chọn để bảo vệ, hỗ trợ
những ngành sản xuất có khả năng cạnh tranh và xuất khẩu trong khu vực
kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng. Song chính sách
thuế xuất nhập khẩu của ta chưa được hoàn thiện thích ứng với tình hình này.
18
Cho đến nay sự khác biệt về chế độ xuất nhập khẩu giữa doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn rất lớn. Chẳng hạn đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài việc nhập khẩu máy móc, thiết bị
để hình thành doanh nghiệp thì được miễn thuế, còn đối với các doanh nghiệp
trong nước nhập khẩu máy móc, thiết bị để hình thành donh nghiệp lại phải
đóng thuế.
Như vậy, các doanh nghiệp trong nước vốn thì không lớn, khả năng cạnh
tranh yếu lại phải nộp thuế, còn đối với các doanh nghiệp nước ngoài vốn lớn,
khả năng cạnh tranh mạnh lại không phải đóng thuế. Thiết nghĩ đây là mâu
thuẫn lớn cần được xem xét và sớm giải quyết.
Trong những năm gần đây, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa
đổi, bổ sung theo hướng đưa sản xuất hàng xuất khẩu lên vị trí ưu tiên hàng
đầu nhưng luật đầu tư trong nước chưa được điểu chỉnh theo hướng này. Trên
thực tế, sản xuất hàng xuất khẩu theo luật đầu tư trong nước được xếp vào vị
trí ưu tiên số 4 sau cả sản xuất dầu ăn và nước giải khát.
Hiện nay, thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu vẫn là các doanh
nghiệp nhà nước trực tiếp đảm nhận, các doanh nghiệp trong nước thuộc các
thành phần kinh tế khác chủ yếu làm đại lý cho doanh nghiệp nhà nước.
Ba là, trong tổ chức thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu cũng còn
nhiều bất cập như:
Việc tính thuế còn tuỳ tiện,đặc biệt ở một số cửa khẩu biên giới phía Bắc
như: Kalong (Móng cái , Quảng ninh ), Chi ma (Lộc Bình,lạng Sơn) đặc biệt
là tình trạng Hải Quan có “quyền” ,”hành” doanh nghiệp. Hải Quan mỗi nơi áp
dụng một mức thuế suất khác nhau chẳng hạn nhu đối với một số phụ tùng của
máy móc, phương tiện vận tải, được quy định tại biểu thuế nhập khẩu thuộc
nhiều mã (chương ,nhóm) khác nhau lại tuỳ ý áp mã số thuế. Nếu doanh nghiệp
tự khai thuế mà lỡ áp sai mã số thuế thì hải quan “đè cổ” ra lập biên bản, xử
chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan đã bắt 16 tàu buôn lậu với hàng hoá trị
20
giá trên 10 tỷ đồng và trong 6 tháng cuối năm lực lượng quản lý thị trường đã
kiểm tra 47.000 vụ buôn bán hànglậu và kinh doanh hàng giả thu nộp ngân sách
198 tỷ đồng.
Bốn là, theo Luật Thuế hiện hành, thuế suất đối với hàng nhập khẩu gồm
thuế suất thông thường, thuế suất đặc biệt và thuế suất ưu đãi đặc biệt. Hiện
nay, ta đã ký hiệp định thương mại với nhiều nước trong đó đều có các điều
khoản ưu đãi tối huệ quốc về thuế nhập khẩu nhưng không ghi rõ từng mặt
hàng với số lượng cụ thể. Vì vậy, trên thực tế chưa áp dụng được thuế suất ưu
đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt với bất kỳ nước nào.
* Hoạt động xuất nhập khẩu thời gian qua có tình trạng hàng xuất khẩu
của ta bị một số nước thực hiện chính sách phân biệt đối xử khi nhập hàng hoá
của ta vào nước đó. Chúng ta vẫn chưa có được biện pháp đối phó phù hợp vì
Luật thuế xuất nhập khẩu chưa có quy định nâng mức thuế suất lên hay hạ
xuống. Do đó không thể thực hiện được chính sách của ta với những hánh
động cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại quốc tế.
* Việc miễn thuế nhập khẩu đối với những hàng chuyên dùng phục vụ
trực tiếp cho an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo
trong thời gian qua cho thấy thực tế rất khó xác định. Trừ một số mặt hàng như:
vũ khí, khí tài quân sự, còn phần lớn các mặt hàng khác đều có thể dùng cho cả
những đối tượng khác, làm cho thủ tục xét miễn thuế phức tạp, không đảm bảo
tính chặt chẽ và rễ bị lợi dụng trốn thuế.
Trong thực tế xuất nhập khẩu của ta cũng đã phát sinh những trường hợp
hàng đã xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu trở lại Việt Nam hoặc đã nhập khẩu
nhưng phải xuất khẩu trở lại nước ngoài. Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu chưa có quy định đối với trường hợp này.
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU
1. Sự cần thiết phải cải cách thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam.
22
Trước hết cần nhận thức rằng cải cách thuế nói chung và cải cách thuế xuất
nhập khẩu nói riêng là công việc hết sức phức tạp và khó khăn. Đặc biệt thuế
xuất nhập khẩu chẳng những động chạm đến lợi ích quốc gia, doanh nghiệp và
dân cư trong nước mà cò ảnh hưởng đến các bạn hàng nước ngoài.
Ngày nay Việt Nam đã gia nhập ASEAN, đã ký nhiều hiệp định với nhiều
quốc gia, khu vực. Những yếu tố đó cần được xem xét khi cải cách thuế xuất
nhập khẩu.
Do vậy khi cải cách cần quán triệt một số quan điểm sau:
a) Cải cách phải huy động được tiềm năng của thuế xuất nhập khẩu . xét trên
quan điểm pháp chế, cải cách phải chú trọng và việc hạn chế, xem xét giảm
những chênh lệch hiện có giữa các mức thuế suất, phải ngày càng thể hiện tính
trung lập .
b) Cần có sự phối kết giữa các loại thuế khác nhau trong một hệ thống thuế.
Một hệ thống thuế thực sự không chỉ đơn thuần là con số cộng các loại thuế, mà
phải có sự ăn khớp tối thiểu giữa các loại thuế.
c) Cải cách thuế phải nhằm khuyến khích mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và
thế giới, cho phép học tập và ứng dụng những thành tựu phát triển kinh tế của
thế giới.
d) Phát huy nội lực của nền kinh tế và đóng góp nguồn htu cho ngân sách
nhà nước.
e) Cải cách phải tăng sự cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam .
3. Một số kinh nghiệm trong quá trình cải cách thuế xuất nhập khẩu .
Kinh nghiệm của các nước đang phát triển về cải cách thuế quan rất phong
phú. Họ thường sử dụng những biện pháp sau đây trong cải cách thuế nói chung
và thuế xuất nhập khẩu nói riêng:
a) Thay đổi định kỳ mức thuế hiện hành.
b) Ban hành thêm những loại thuế mới để tăng thu cho ngân sách.
23
Trước xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, mỗi quốc gia sẽ phải trở thành một
mắt xích trong chuỗi liên kết kinh tế khu vực và thế giới. Chính sách thuế xuất
nhập khẩu được coi là chiếc chìa khoá mở cửa nền kinh tế ra bên ngoài,đồng
thời nó cũng là công cụ để ” gạn đục khơi trong” bảo vệ nền kinh tế. Vì vậy,
thuế xuất nhập khẩu là một công cụ không thể thiếu được trong hệ thống thuế
của đất nước, để hội nhập vào vào xu thế chung đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải
tự xác định cho mình một chính sách thuế riêng dựa trên trên cơ sở cái chung,
cái tiêu chuẩn của thế giới.
Hơn nữa, hoạt động ngoại thương ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp
mang tính cạnh tranh cao. Muốn đẩy mạnh được xuất khẩu, hạn chế nhập
khẩu thì ngày càng phải hoàn thiện hơn nữa chính sách quản lý xuất nhập
khẩu trước hết là cải cách biểu thuế sao cho tạo ra được tính trung lập của biểu
thuế, hoàn thiện bổ sung các loại thuế suất và các chế độ miễn, giảm và hoàn
thuế, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của độ ngũ các bộ hành thu
thuế, đảm bảo tăng nguồn thu cho ngân sách.
Một “loại thuế hoàn hảo” được coi là lý tưởng nghĩa là: thu được nhiều về
mặt tài chính, thể hiện công bằng xã hội, có tác dụng kích thích về kinh tế và
đơn giản về nghiệp vụ.
Tuy vậy, trong quá trình cải cách cần phải xuất phát từ tình hình thực tế, xu
hướng chung của thời đại , kinh nghiệm về cải cách thuế của các nước đi trước
và một số nguyên tắc đã trình bày ở phần trước.
2. Một số phương hướng hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu .
Xuất phát từ yêu cầu CNH-HĐH đẩy mạnh phát triển theo hướng xuất khẩu
mở của và hội nhập, từ thực trạng của chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu
25