triển vọng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu da giầy việt nam - Pdf 10

Lời nói đầu
Mặt hàng giày dép là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nớc ta trong giai
đoạn 2001 - 2010. Ngành đã có đóng góp to lớn trong kim ngạch xuất khẩu,
hiện đứng thứ ba sau dầu thô và dệt may, có triển vọng rất tolớn và sẽ phát
triển rất mạhh tự hoàn thiện thành một ngành công nghiệp sản xuất giày thực
thụ. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là làm thế nào Việt Nam có thể tự sản
xuất giày mà không lệ thuộc vào phía nớc ngoài từ nguyên - phụ liệu mẫu mã
cho đến đầu ra của sản phẩm. Vì vậy việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để thúc
đẩy xuất khẩu da giày là rất quan trọng.
Chơng I
Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu
I. Khái niệm và vai trò xuất khẩu trong nền kinh tế
1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và hoạt động kinh doanh để đem
lại lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu
để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng.
Nhà nớc ta luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất
khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết
công ăn việc làm và tăng thu ngoại tệ.
2. Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế.
a) Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
Công nghiệp hoá đất nớc đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu
máy móc, thiết bị, kỹ thuật, vật t và công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc hình thành từ các nguồn nh :
- Liên doanh đầu t nớc ngoài với nớc ta.
- Vay nợ, viện trợ, tài trợ.
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ.
- Xuất khẩu sức lao động
Trong các nguồn vốn nh đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ cũng phải
trả bằng cách này hay cách khác. Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất là
từ xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.

+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ
giá thành.
c) Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của
nhân dân.
Trớc hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra
nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống của
nhân dân.
d) Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại và làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động xuất khẩu
ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên có thúc đẩy các quan hệ
này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy các
quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc
đẩy quan hệ tín dụng, đầu t, vận tải Quốc tế Đến l ợt nó chính các quan hệ
kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
II. Quy trình xuất khẩu.
Trớc khi tiến hành xuất khẩu hàng hoá chủ hàng phải chuẩn bị bộ hồ sơ
gồm :
Hợp đồng ngoại thơng (1bản sao), Packing list (3 bản chính), tờ khai hải
quan (3 bản chính), hợp đồng ủy thác, giấy phép (nếu có). Quy trình thông
quan xuất khẩu gồm các bớc sau :
Bớc 1 : Chủ hàng phải tiến hành đăng ký tờ khai hải quan. Công thức 1 sẽ
tiến hành kiểm tra bộ hồ sơ của chủ hàng, kiểm tra khai báo của chủ hàng và
cho đăng ký tờ khai đồng thời tiến hành nhập dữ liệu.
Bớc 2 : Bớc này do lãnh đạo chi cục đảm nhiệm, có quyền quyết định
hình thức và tỉ lệ kiểm tra, giải quyết những vớng mắc phát sinh và xác nhận

hội chúng còn tợng trng cho nền kinh tế thịnh vợng hay sa sút của một quốc
gia, là tiếng nói bản sắc của cộng đồng sử dụng.
Da giày là một trong những ngành đóng góp chủ yếu vào sự tăng trởng
GDP cũng nh tăng thu nhập chung của đất nớc ở thời kỳ trớc 2020. Công
nghiệp da giày phát triển sẽ có nguồn thu ngoại tệ sánh đợc với các mặt hàng
coi nh đầu vị trong xuất khẩu của nông nghiệp và công nghiệp tiêu dùng.
Những năm của thập niên 90, thế kỷ 20 mặt hàng da giày đợc xếp vào hạng
thứ ba về giá trị xuất khẩu sau các mặt hàng gạo, dầu khí nhng đến năm 1999
lại đợc nâng lên hạng hai chỉ sau mặt hàng gạo và hiện nay đứng ở vị trí thứ
ba sau dầu thô và dệt may. Năm 2001, Bộ thơng mại thông báo tất cả các mặt
hàng có thuế nhập khẩu xấp xỉ 20% sẽ đợc giảm xuống theo Hiệp định chung
về thuế quan u đãi đã đợc ký kết. Nh vậy thuế nhập khẩu sẽ bị cắt giảm 20%
hoặc ít hơn khi Việt Nam tham gia hoàn toàn vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) sau khi Chính phủ thông qua danh mục các mặt hàng cắt
giảm thuế giai đoạn 2001 -2006. Bộ tài chính đã đa ra lộ trình cắt giảm thuế
hàng giàydép có đế bằng cao su theo Hiệp định u đãi thuế quan
(CEPT/AFTA) nh sau: Năm 2001 : 50% ; 2002 : 40% ; 2003 : 35% ; 2004 :
30% ; 2005 : 20% ; 2006 : 5%. Với việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt -
Mỹ đợc hởng quy chế tối huệ quốc (MFN) của Mỹ, trong thời gian tới xuất
khẩu hàng giày dép vào thị trờng Mỹ sẽ tăng trởng rất nhanh.
Tuy nhiên theo nhận xét của các chuyên gia trong ngành, năm 2000 tình
hình sản xuất kinh doanh da giày trên thế giới đang gặp khó khăn. Nền kinh tế
Mỹ, Nhật EU suy giảm, lợng cầu hạ thấp, tiền tệ của thị trờng chính (đồng
EU) mất giá, bệnh bò điên và lở mồm long móng gây khủng hoảng nguyên
liệu da làm giá đầu vào tăng Ngành da giày Việt Nam cũng là nạn nhân của
tình trạng này. Nhng đáng quan tâm nhất là việc Trung Quốc gia nhập WTO.
Lợi thế của ngành da giày Việt Nam là nhân công rẻ, dồi dào, đợc hởng nhiều
u đãi thuế quan từ những thị trờng lớn nhng với Trung Quốc với việc các rào
cản thơng mại đợc loại bỏ dần dần, nhân công của họ dồi dào hơn ta và có một
bề da dày lịch sử, công nghệ hiện đại cùng nhiều u đãi của Chính phủ Trung

biên giới, khoảng 1/3 sản lợng giày là phải nhập khẩu hoàn toàn).
Các chuyên gia thuộc Liên đoàn giày Châu Âu cho rằng trong tơng lai
khó mà tìm ra bất cứ một sản phẩm nào đợc sản xuất toàn bộ trong cùng một
nớc. Triển vọng của thị trờng toàn cầu sẽ đợc mở rộng, bởi ngành vận tải đợc
cải thiện và chi phí bảo dỡng của ngành này sẽ giảm thấp. Tuy nhiên dự báo
trung hạn còn gặp nhiều yếu tố thờng hay thayđổi bất ngờ, khó lờng. Do đó,
cũng rất khó mà hình dung đợc trong tơng lai những nớc nào sẽ có chi phí
thấp để tiếp tục duy trì sản xuất và xuất khẩu giày mạnh. Chi phí lao động
chắc chắn có ý nghĩa lớn đối với sản xuất giày nhng cha hẳn đã là đủ điều
kiện để trở thành một giải pháp duy nhất trong sự suy xét để phát triển nghề
giày.
Chơng II
Tình hình kinh doanh xuất khẩu da giày của Việt Nam
I. Thực trạng và xuất khẩu da giày Việt Nam trớc 1990 và các
nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu.
1. Thực trạng xuất khẩu da giày Việt Nam
1.1. Thực trạng xuất khẩu da giày Việt Nam trên thị trờng Đông Âu và
Liên Xô cũ.
Trớc 1990 ngành da giày Việt Nam chủ yếu thực hiện các hợp đồng hợp
tác gia công mũ giày cho Liên Xô và các nớc XHCN Đông Âu, tiến hành các
hoạt động sản xuất găng tay cao su xuất khẩu cho thị trờng Đông Âu với đồng
vốn ít ỏi. Do yêu cầu của sự hợp tác và phân công lao động giữa các nớc
XHCN cũ, năm 1987, Liên hiệp các xí nghiệp da giày thuộc Bộ công nghiệp
nhẹ đợc thành lập với nhiệm vụ chủ yếu là gia công mũ giày da, giày vải, găng
tay bảo hộ lao động và hàng mềm xuất khẩu theo các hiệp định kinh tế với
Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu. Từ đó, ngành da giày Việt Nam đã thực sự
trở thành ngành kinh tế -kỹ thuật độc lập nhng cơ sở vật chất kỹ thuật còn
nghèo nàn, lạc hậu. Sản phẩm làm ra với mẫu mã đơn giản, chất lợng không
cao. Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 đạt 33,27tr Rup/USD, năm 1990 đạt 125
tr Rup/USD. Toàn ngành có hơn 50 đơn vị gia công sản xuất da giày đợc hình

kinh doanh của cán bộ Việt Nam còn yếu kém do mới hình thành ngành kinh
tế kỹ thuật, cha có trờng lớp đào tạo. Phần lớn cán bộ cha thể tự mình chủ
động độc lập điều hành sản xuất và kỹ thuật một cách khoa học đồng bộ, đúng
tiến độ và có chất lợng.
2. Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong xuất khẩu.
Vào đầu những năm 90 các doanh nghiệp da giày Việt Nam đều rơi vào
tình trạng khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Thứ nhất, sự lạc hậu về nhà xởng, trang thiết bị, đặc biệt là việc bố trí
mặt bằng, trang bị kỹ thuật, máy móc bất hợp lý và lãng phí, vệ sinh công
nghiệp kém, môi trờng công nghiệp lạc hậu là đặc điểm phổ biến của các
doanh nghiệp ở các nớc đã từng hoạt động theo mô hình quản lý kế hoạch hoá
quan liêu bao cấp mà Việt Nam là một trong những điển hình. Đây thực sự là
một trở lực cho việc đa cái mới vào hoạt động quản lý.
Thứ hai là hoạt động trong điều kiện thiếu thông tin và do vậy không
nhanh nhạy với thị trờng. Phần lớn các doanh nghiệp đều lúng túng trong việc
tổ chức hoạt động thông tin điều đó một phần quan trọng bắt nguônf từ mô
hình và cơ cấu tiêu dùng tổ chức doanh nghiệp cha có sự đổi mới cần thiết,
phần khác do sự hỗ trợ bên ngoài nh các cơ quan Nhà nớc cán bộ, sở quản lý
ngành chuyên ngành còn yếu.
Thứ ba là do phần lớn các doanh nghiệp có cán bộ dôi d lớn không mạnh
dạn đổi mới cơ cấu doanh nghiệp, còn theo mô hình tổ chức phòng ban cũ, do
vậy không tạo ra sự chuyển biến đồng bộ và tác phong mới trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và sự đồng bộ trong việc giải quyết vấn đề chất lợng.
Ngoài ra nhận thức về quản lý chất lợng sản phẩm còn nhiều điều cha rõ,
nhận thức về tác động của cơ chế thị trờng còn phiến diện nặng về tác động
tiêu cực, từ đó tìm cách đối phó bằng các biện pháp không cơ bản, nh móc nối
mua bán không trung thực, không thấy đợc yếu tố cơ bản của sự cạnh tranh là
uy tín, chất lợng sản phẩm, chất lợng dịch vụ.
Vấn đề sở hữu và quan hệ sở hữu trong khu vực Nhà nớc cha đợc giải
quyết triệt để cũng làm hạn chế sự vơn lên, sáng tạo, dám nghĩ dàm làm của

Từ một ngành kinh tế kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ trong nền kinh tế quốc
dân mới trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật độc lập từ năm 1987 ngành da
giầy ngày nay đã trở thành một ngành có sức phát triển mạnh kim ngạch xuất
khẩu lớn cùng ngành dệt may đóng góp đáng kể vào sự tăng trởng kinh tế
chung của đất nớc. Tuy nhiên ngành sản xuất da giầy còn lệ thuộc nhiều vào
các đối tác nớc ngoài do chủ yếu làm gia công, hiệu quả kinh tế còn thấp (chỉ
trừ mặt hàng giày vải là tơng đối chủ động trong sản xuất.
Trong thời gian tới để trở thành một quốc gia mạnh về sản xuất da và
xuất khẩu giày dép chúng ta phải cần xúc tiến mở rộng thị trờng hơn nữa, có
biện pháp xâm nhập thị trờng khó tính hoà nhập vào mạng lới tiêu thụ của các
tập đoàn lớn trên thế giới. Đồng thời cần quan tâm nâng cao giá trị xuất khẩu
không chỉ ở số lợng mà cả hiệu quả kinh tế bằng cách phát triển sản phẩm độc
lập, tiến tới tự chủ trong cung cấp nguyên vật liệu, tự chủ cả về thị trờng, khoa
học, công nghệ, mẫu, mốt thời trang, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
Trớc tình hình đó, hởng ứng đổi mới, hoà nhập và mở cửa nền kinh tế của
Đảng và Chính phủ, các doanh nghiệp da giầy Việt Nam đã năng động nắm
bắt những thời cơ và vận hội mới, phát huy mọi tiềm lực với những nỗ lực cao
nhất để tiếp nhận sự chuyển dịch ngành da giầy thế gioứi thông qua việc hợp
tác, gia công, liên doanh liên kết đầu t 100% vốn nớc ngoài với các đối tác nớc
ngoài mà chủ yếu là Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan.
II. hoạt động xuất khẩu da giầy Việt Nam sau 1990
1. Thực trạng xuất khẩu
Sau khi Liên Xô cũ và Đông Âu tan rã toàn bộ chơng trình hợp tác gia
công mũ giày với các nớc này chấm dứt ngành da giầy Việt Nam bớc vào thời
kỳ phát triển mới, thời kỳ tiếp nhận sự chuyển dịch sản xuất các sản phẩm dày
dép để xuất khẩu từ các nớc nhập khẩu trong khu vực nh Đài Loan, Hàn
Quốc, Hồng Kông nhằm khai thác lợi thế mà Việt Nam có đợc trong sản xuất
và xuất khẩu giày dép. Đó là : Việt Nam có lực lợng lao động dồi dà, trẻ khoẻ,
tiếp thu nhanh, tiền công lao động còn thấp Việt Nam cha bị các nớc nhập
khẩu giày dép khống chế bằng hạn ngạch và đợc chế độ u đãi thuế quan (GSP)

7%) nhất là thị trờng Hàn Quốc (từ 20-30%). Đối tác của Công ty da Sài Gòn
đã chấm dứt hợp đồng sản xuất nên sản lợng chỉ đạt 80% kế hoạch đợc giao.
Trong khi đó, các đơn vị sản xuất da thuộc vẫn đang gặp nhiều khó khăn.
Nguồn nguyên liệu không ổn định, chất lợng thấp, thiết bị lạc hậu nên sản
phẩm da thuộc chất lợng thấp, giá thành cao, cha lọt vào kênh tiêu thụ. Vì rất
nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan tác động nên các chỉ tiêu kinh tế đề
ra cha thực hiện đợc nh mong muốn. Tuy giá trị sản xuất công nghiệp đạt hơn
671 tỷ đồng (bằng 92% kế hoạch 1998 và bằng kế hoạch 1997) ; tổng doanh
thu đạt hơn 1.128 tỷ đồng (bằng 102,5% kế hoạch1998) ; giá trị xuất khẩu
toàn Tổng Công ty thực hiện đờc 188 triệu USD đạt 97,1% kế hoạch năm và
bằng 97,7% so với thực hiện năm 1997 nhng Tổng Công ty vẫn nộp ngân sách
Nhà nớc vợt mức kế hoạch 5% đạt 12,3 tỷ đồng.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là một xu thế tất yếu của
sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam hiện đã là thành viên
của ASEAN, APEC, đang xin đàm phán gia nhập WTO và đã ký kết hiệp định
Việt Mỹ. Qúa trình hội nhập quốc tế yêu cầu chúng ta cần chủ động và tích
cực chuẩn bị để đầu t có hiệu quả, ổn định, bảo đảm phát triển của ngành da
giày. Ngoài việc nghiên cứu phát triển sản phẩm của mình và lựa chọn thị tr-
ờng, các nhà xuất khẩu còn phải quyết định các biện pháp để xâm nhập thị tr-
ờng. Từ năm 1989 đến nay sản lợng giày thế giới liên tục biến động. Khu vực
sản xuất giày dép lớn nhất là Châu á (chiếm 2/3 tổng sản lợng thế giới) tiếp
theo là Châu Âu và Châu Mỹ ; Mỹ, EU, Nhật là ba thị trờng nhập khẩu giày
dép chủ yếu trên thế giới đặc biệt là Mỹ. Có một điều cần chú ý rằng đây đều
là các nớc đòi hỏi tiêu chuẩn ba chất lợng hàng hoá rất cao. Ngoài ra yếu tố
môi trờng và yếu tố thời trang cũng hết sức quan trọng để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Đánh giá về khả năng xuất khẩu giày dép của Việt Nam, báo cáo
của Bộ thơng mại cho biết ngành da giày đã bổ sung hoàn chỉnh và trang bị
đồng bộ gần 200 dây chuyền sản xuất giày, trên 1900 máy may chuyên dùng
sản xuất túi, cặp da, sửa chữa gần 200.000m
2

nhất để tiếp nhận sự chuyển dịch ngành da giày thế giới thông qua việc hợp
tác, gia công, liên doanh liên kết đầu t 100% vốn nớc ngoài với các đối tác n-
ớc ngoài mà chúng ta cần củng cố và phát triển thị trờng này, khai thác tối đa
các u đãi mà thị trờng này còn giành cho Việt Nam (cha bị quản lý bằng hạn
ngạch, đợc hởng u đãi thuế quan, bằn 70% mức thuế bình thờng nếu bảo đảm
tiêu chuẩn xuất xứ C/O). Tăng cờng các mối quan hệ kinh doanh trực tiếp với
các nhà nhập khẩu EU, một vấn đề đang đợc EU quan tâm. EU chiếm gần
70% thị phần, trị giá xuất khẩu giày sang EU năm 1996 tăng gấp 30 lần so với
năm 1992 ; từ 1996 đến 1997 tăng bình quân 4 đến 50% mỗi năm. Việt Nam
là một trong năm nớc có số lợng giày dép tiêu thụ nhiều nhất ở EU do giá rẻ,
chất lợng và mẫu mốt chấp nhận đợc 9 tháng xuất khẩu (năm 1999) đạt 1.014
triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 1998, bình quân xuất khẩu đạt 113
triệu USD tháng tăng 30 triệu USD/tháng. Cơ cấu thị trờng 9 tháng đầu năm
1999 so với năm 1998 thì Châu Âu là khoảng 730 triệu USD, chiếm 72% tăng
8% trong đó EU : 700 triệu USD, chiếm 69,6% tăng 8%. Các thị trờng nhập
khẩu chủ yếu là Đức với tỷ trọng 18%. Vơng quốc Anh 17%, Bỉ 10%, Pháp
9%, Hà Lan 8,6%, Italia 6%, Đài Loan 3,8%.
1.2. Thị trờng Mỹ.
Cơ cấu thị trờng 9 tháng đầu năm 1999 so với 1998 Châu Mỹ : 101 triệu
USD, chiếm 10% giảm 3,6%. Trên thị trờng Mỹ năm 1997 chúng ta mới đạt
70,2 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật cũng tăng nhanh, năm 1997
đạt 79 triệu USD.
Mỹ là nớc có nhu cầu tiêu thụ và nhập khẩu giày dép lớn nhất thế giới.
Hàng năm nhập khẩu khoảng 1,4 tỷ đôi giày dép các loại trị giá khoảng 14
-15tỷ USD. Hiện nay Việt Nam mới xuất khẩu giày dép sang Mỹ đạt kim
ngạch xuất khẩu năm 1998 trên 110 triệu USD (chiếm trên 10% kim ngạch
xuất khẩu toàn ngành). Với việc ký kết hiệp định thơng mại Việt- Mỹ và đã
bắt đầu có hiệu lực trong năm tới (từ 12/2001 trở đi) kim ngạch xuất khẩu da
giày trên thị trờng Mỹ sẽ tăng rất mạnh, không hề thua kém vào thị trờng EU
thậm chí còn có thể cao hơn.

hàng Trung Quốc, đứng vững đợc tại thị trờng trong nớc. Coi trọng thị trờng
nội địa còn có ý nghĩa đủ sức tự cứu khi các rủi ro, bấp bênh có thể có của thị
trờng tiêu thụ hớng ngoại. Để xâm nhập thị trờng các doanh nghiệp cần xây
dựng chiến lợc Marketing hỗn hợp và tổ chức các bộ phận Marketing.
1.4. Vài nét về hoạt động gia công da giày ở Việt Nam
10 năm kể từ khi thị trờng Liên Xô cũ và Đông Âu khủng hoảng, đến nay
ngành da giày đã có những bớc tiến phi thờng. Tuy nhiên đó mới chỉ là sự
khẳng định và tiềm lực và khát vọng vơn dậy của ngành kinh tế kỹ thuật này.
Xu hớng hội nhập đang đặt ngành da giầy lên sàn đấusống còn của thị tr-
ờng quốc tế bình đẳng và khắc nghiệt. Thế nhng da giầy Việt Nam đang khoác
tấm áo rội lên mình những sản phẩm của ngoại quốc, đổi lại chỉ nhận đợc
những đóng tiền gia công rất nhỏ bé.
Những năm gần đây ngành da giầy luôn có mức tăng trởng từ 12 - 14%
trong cơ cấu sản xuất giày dép xuất khẩu 4 tháng đầu năm 1999 thì 70% là gia
công cho nớc ngoài, trong nớc chí chiếm 30%, về mặt hàng giày dép liên
doanh với nớc ngoài, trong nớc chỉ chiếm 30%, về mặt hàng giày dép liên
doanh với nớc ngoài có u thế hơn nhiều nhất là loại giày cao cấp với 55% tỷ
trọngcòn các doanh nghiệp trong nớc là 45%, kim ngạch xuất khẩu, năm 2000
đạt 1,468 tỷ USD, tơng ứng với 450 triệu sản phẩm các loại Những con số đó
đã vợt qua các nớc cùng khu vực nh Thái Lan, Malaysia, sugapore và cho
thấy ngành kinh tế kỹ thuật này đã giữ một vị trí quan trọng trong lĩnh vực
công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên, sức mạnh về sự đóng góp thực tế của ngành da
giầy chỉ bằng một phần rất nhỏ con số trên.
Nguyên do thứ nhất là phần lớn lợi nhuận, ngoại tệ xuất khẩu không rơi
vào túi nhà nớc, doanh nghiệp hay ngời lao động Việt Nam vì hiện 98% sản
phẩm của ngành đợc xuất khẩu nhng thực ra ta chỉ đóng góp duy nhất phần
gia công. Gọi là xuất khẩu nhng các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết nhận
nguyên liệu, mẫu mã của đối tác nớc ngoài để sản xuất, khi ra sản phẩm lại
giao cho họ. Giá bán bao nhiêu, bán cho ai thì không đợc biết. Có nghĩa là ng-
ời Việt Nam chỉ đợc hởng tiền công lao động. Nếu tính giá trị sản phẩm da

Nhà nớc theo luật đầu t nớc ngoài. Nguy hiểm hơn các doanh nghiệp này có
dây chuyền hiện đại, nhà xởng, quy mô lớn, trả lơng cao để thu hút cán bộ
công nhân viên Việt Nam có trình độ tay nghề cao và khi khách hàng n ớc
ngoài vào tìm đối tác để đặt hàng thì họ lại chọn các doanh nghiệp t nhân giả
bia. Từ đó thị phần và đơn hàng của doanh nghiệp vốn trong nớc dần bị thu
hẹp. Tình trạng này diễn ra phổ biến ở Đồng Nai, Hải Phòng và Thành phố Hồ
Chí Minh. Ví dụ ở Hải Phòng có Công ty TNHH Đỉnh Vàng lớn nhất thành
phối với 10 dây chuyền sản xuất giày thể thao, giày nữ và 2 xí nghiệp sản xuất
để cho 12 triệu đôi sản phẩm/ năm. Bà Nguyễn Thị Kim Thúy làm giám đốc
nhng do một ngời Thái Lan bỏ vốn và thâu tóm : Công ty TNHH Thành Hng
cho 3 triệu sản phẩm/năm do Bà Đoàn Thị Thu Hà làm Giám đốc nhng vốn và
quyền nằm trong tay ngời ngoại quốc.
Nh vậy ngành da giày chỉ dựa vào Tổng Công ty da giày làm nòng cốt.
Tổng Công ty này có 17 doanh nghiệp, năng lực sản xuất 39 triệu đôi giày
dép/năm bằng 1/10 toàn ngành, kim ngạch xuất khẩu, lao động cũng tỷ lệ
thuận. Nhng thiết bị, vốn cố định và lu động tỷ lệ đó còn thấp hơn nhiều.
Các nhà nghiên cứu cho biết gốc rễ của tình trạng không làm chủ đợc sản
xuất và thị trờng của ngành da giày chỉ là khả năng cung cấp nguyên liệu (yếu
tố đầu tiên và gần nh quyết định) của ta quá yếu. Theo tính toán của hiệp hội
da giày Việt Nam, với sản lợng sản xuất nh hiện nay thì mỗi năm cả nớc cần
khoảng 130 triệu square feet (gọi tắt là bia) da thành phẩm, cùng một lợng lớn
giả da, vải, vải tráng PU, PU, keo tổng hợp nh ng đều phải nhập ngoại từ 80 -
90% nhu cầu. Đây không phải là sự khống chế của nớc ngoài khi ta gia công
cho họ (vì họ cũng muốn mua tại Việt Nam để đỡ tốn kém) mà chỉ vì ta
không sản xuất đợc những sản phẩm đó. Ông Phan Đình Độ chủ tịch hiệp hội
da giày Việt Nam cho biết sản lợng da thuộc thành phẩm của năm 2000 của
ngành đạt 32 triệu bia. Những các chuyên gia nhận xét đây là da chất lợng
thấp. Họ phân tích : Để sản xuất đợc sản phẩm da thuộc có chất lợng cao phải
có quy hoạch tổng thể từ chăn nuôi gia súc đợc chăn nuôi hỗn hợp, chủ yếu để
lấy thịt sức kéo và sữa, không có loại dành riêng cho lấy da. Khâu giết mổ lại

muốn biết từ lạc hậu, non trẻ lên hiện đại, quy mô. Điều này cũng đã xảy ra ở
Trung Quốc một quốc gia hiện đang rất mạnh về da giày.
2. Đánh giá hoạt động xuất khẩu
2.1. Những thành tựu đạt đợc
Bắt đầu từ năm 1993, ngành da giày đã khởi sắc trở lại nhờ làn sóng di
chuyển sản xuất và cùng với đó là sự di chuyển của đơn hàng, từ những vùng
có truyền thống về sản xuất da giày nh Đài Loan, Hàn Quốc sang nớc ta. Nếu
nh thời kỳ 1990 1992 mới chỉ có 4 doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài hoạt
động trong lĩnh vực da giày thì sang đầu năm 1998 cả nớc có 32 doanh nghiệp
với tổng vốn đầu t đã thực hiện là 124 triệu USD, năng lực sản xuất đạt 87
triệu đôi giày dép/năm và 34 triệu sản phẩm da/năm. Cho tới nay toàn ngành
giày dép có khoảng 130 nhà máy và cơ sở sản xuất với 250 dây chuyền đồng
bộ, công suất thiết kế đạt 265 triệu đôi/năm.
Về cơ cấu sản phẩm, giày thể thao đạt 130 triệu đôi (49%), giày vải đạt
48 triệu đôi, giày nữ đạt 38 triệu đôi (14%), dép đạt 48 triệu đôi (18%) và giày
da đạt 4 triệu đôi (1,5%) (Năm 1999).
Quá trình đầu t và phát triển sản xuất kinh doanh ngành da giầy đã thu
hút và đào tạo đợc một đội ngũ lao động đông đảo, tính đến 31/12/1998 đã có
hơn 200.000 lao động làm việc, đông gấp 12 lần, có tay nghề tốt hơn, học vấn
cao hơn, phong cách làm việc hiện đại hơn so với trớc 1992. Trình độ quản lý
kỹ thuật sản xuất, quản trị kinh doanh, khả năng tiếp thị của đội ngũ cán bộ
quản lý đã đợc nâng lên rõ rệt.
Về giá xuất khẩu, do chi phí sản xuất và chi phí lu thông thấp nên giá
hàng giày dép xuất khẩu của Việt Nam tơng đối thấp, có thể cạnh tranh đợc
với các nớc khác. Số lợng các sản phẩm giày dép chất lợng cao đợc sản xuất
và xuất khẩu tăng lên đã góp phần nâng cao đơn giá xuất khẩu bình quân từng
chủng loại tăng cao hơn.
Về kim ngạch xuất khẩu, hàng giày dép là một trong những mặt hàng có
tốc độ tăng trởng nhanh nhất : Năm 1997 là 965,5 triệu USD, tăng 82,2% năm
1998 : 1.031,8 triệu USD, tăng 6,9%, năm 1999 : 1391,6 triệu USD tăng

hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, ảnh hởng đến thế cạnh
tranh của các sản phẩm.
- Tình trạng quá yếu kém về tài lực, vốn đầu t đều phải tự vay trung hạn
với lãi suất cao, nếu trên 70% các doanh nghiệp Việt Nam phải thực hiện gia
công sản phẩm cho nớc ngoài. Phơng thức này đang tạo điều kiện cho khách
hàng nớc ngoài vào khai thác thị trờng lao động rẻ (cha đến 0,3 USD cho 1 giờ
công lao động giầy, thấp nhất so với các nớc trong khu vực).
- Trình độ quản lý kỹ thuật công nghệ thiết kế và phát triển mẫu mốt
quản lý và vận hành sản xuất kinh doanh của cán bộ Việt Nam còn yếu kém
do mới hình thành ngành kinh tế kỹ thuật, cha có trờng lớp đào tạo. Phần lớn
cán bộ Việt Nam cha thể tự mình chủ động độc lập điều hành sản xuất và kỹ
thuật một cách khoa học, đồng bộ, đúng tiến độ và có chất lợng.
- Do lợng hàng tồn kho lớn và sự mất giá của đồng EURO, nên sức mua
của thị trờng truyền thống của chúng ta (EU) đang giảm mạnh vào năm 2000.
Đặc biệt là đối với giày vải và giày thể thao, lợng đơn hàng năm 2000 chỉ đạt
từ 50 70% so với 1999.
Thêm vào đó là sự cạnh tranh khốc liệt với Trung Quốc, một đất nớc có
thế mạnh giống Việt Nam nhng lớn hơn và mạnh hơn ta nhiều lần. Mới đây
Trung Quốc lại có lợi thế thơng mại hơn ta do hiệp định Thơng mại Trung Mỹ
đã có hiệu lực về Trung Quốc đã gia nhập WTO. Bên cạnh đó giá giày dép
Trung Quốc luôn thấp hơn ta từ 10 30% do chính sách hỗ trợ xuất khẩu của
Trung Quốc tốt hơn, năng suất lao động ở Trung Quốc cao hơn đặc biệt là
Trung Quốc đã đầu t và sản xuất đợc hầu hết các nguyên phụ kiện cho giày
dép nên có điều kiện hạ giá thành sản phẩm và hoàn toàn chủ động trong sản
xuất và đa dạng về mẫu mốt. Có lẽ đây là thách thức lớn nhất đối với ngành
da giầy Việt Nam.
- Thị trờng Mỹ và một số nớc mở rộng đối với ngành Da giầy Việt Nam
với những u đãi về thuế quan và phi thuế qaun, nhng cũng có những đòi hỏi
khắt khe về tiêu chuẩn chất lợng, vệ sinh công nghiệp, môi trờng luật pháp mà
không phải doanh nghiệp nào, sản phẩm nào cũng có thể vào đợc một cách dễ

việc Trung Quốc gia nhập WTO, đợc tháo bỏ các rào cản thơng mại sẽ làm
những thế mạnh của ta bị đe doạ và mờ nhạt. Tuy nhiên ban đầu Trung Quốc
vẫn bị khống chế bởi hạn ngạch và một số điều khoản chống phá giá của
WTO nên ta cũng không gặp biến động ngay, song thời gian để đối phó cũng
không còn nhiều.
Cần phải nói thêm rằng ngành da giầy của Việt Nam có rất nhiều điểm
thuận lợi, nguồn lao động dồi dào. Nhân công tại Việt Nam, Inđônêxia vẫn rẻ
hơn nhiều so với các nớc trong khu vực. Tham gia vào sản xuất da giầy có
nhiều loại hình doanh nghiệp nh t nhân, Nhà nớc, liên doanh và đây là cơ hội
để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý và cạnh tranh
nhau cùng tiến lên. Hơn nữa, những cánh cửa mở ra cho Việt Nam nh AFTA,
WTO cũng sẽ là điều kiện thuận lợi để công nghiệp da giày nói riêng và
ngành công nghiệp nói chung cuả Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Dự đoán
trong 10 năm nữa sản lợng giày dép, cặp túi các loại của ta khoảng 720 triệu
chiếc, kim ngạch xuất khẩu là 4,7 tỷ USD sản xuất gia công đợc thay bằng sản
xuất khép kín, 80 triệu bia da, 250 triệu yard giả da và các loại vải 550000 tấn
đế giày, 10000 tấn keo tổng hợp là nguyên phụ liệu sản xuất trong n ớc. Việt
Nam sẽ có các Trung tâm thơng mại, trung tâm nghiên cứu thiết kế mẫu mốt
ngang tầm khu vực. Sản phẩm có mặt ở tất cả các thị trờng lớn. Tuy nhiên,
ngành da giày Việt Nam chỉ có thể tìm đợc con đờng vạn dặm khi tất cả các
doanh nghiệp đều nỗ lực hết mình cùng sự hỗ trợ kịp thời của nhà nớc.
II. Giải pháp và kiến nghị thúc đẩy xuất khẩu da giầy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status