Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Sau nhiều năm đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển đổi dần từ kinh tế
tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường có định hướng của Nhà nước đã có
những bước tiến đáng kể và đang dần thực hiện mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến tới hòa nhập vào cộng đồng
kinh tế thế giới. Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính
quan trọng nhất của nền kinh tế với chức năng là trung gian tài chính, tạo
phương tiện thanh toán và trung gian thanh toán, đã góp phần không nhỏ
vào sự phát triển chung của cả đất nước.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, các ngân hàng thương
mại thường gặp rất nhiều rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro
đạo đức… nhất là rủi ro tín dụng đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản
xuất kinh doanh của ngân hàng, gây ra nhiều tổn thất mà các ngân hàng
phải gánh chịu. Một trong những biểu hiện của rủi ro tín dụng gây nên tổn
thất cho ngân hàng là nợ tồn đọng (nợ khó đòi) là nợ khó có khả năng thu
hồi, nợ xấu và một số nguyên nhân gây nên nợ xấu là cơ chế bảo đảm tiền
vay trong các ngân hàng còn thực hiện chưa tốt mà đặc biệt hiện nay do có
sự tham cạnh tranh mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế buộc các ngân hàng phải thực hiện
hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và để thực hiện được điều đó thì đòi hỏi
hoạt động của ngân hàng phải có sự quản lý tốt sao cho kết quả đạt được là
cao nhất. Vì vậy các ngân hàng thương mại phải thực hiện tốt cơ chế bảo
đảm tiền vay thì sẽ giảm thiểu rủi ro, tạo nguồn thu nợ dự phòng tương đối
chắc chắn cho ngân hàng đồng thời giúp cho vốn tín dụng được sử dụng có
hiệu quả do các hình thức bảo đảm tiền vay gắn chặt với lợi ích vật chất của
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng. Do vậy, vấn đề bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng thương mại là một vấn đề rất quan trọng luôn đặt ra những yêu
dụng không minh bạch, áp dụng những chính sách tín dụng kém hiệu quả,
hay do nền kinh tế đi xuống không lường trước .Vì vậy điều không ngạc
nhiên là cán bộ thanh tra xuống ngân hàng, họ luôn kiểm tra toàn bộ danh
mục tín dụng, bao gồm phân tích chi tiết các hồ sơ tín dụng và hồ sơ bảo
đảm tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn, kiểm tra các khoản tín dụng
vừa và nhỏ, trên cơ sở đó đánh giá chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm
bảo đảm lành mạnh và hiệu quả để bảo vệ những người gửi tiền và cổ đông
của ngân hàng.
1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM
1.1.2.1 Các hình thức theo thời gian
Cho vay ngắn hạn
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
3
Chuyờn thc tp tt nghip
Cho vay ngn hn nhm ti tr cho ti sn lu ng hoc nhu cu s
dng vn ngn hn ca Nh nc, doanh nghip, h sn xut. Ngõn hng cú
th ỏp dng cho vay trc tip hoc giỏn tip, cho vay theo mún hoc hn
mc, cú hoc khụng cn m bo, di hỡnh thc chit khu, thu chi hoc
luõn chuyn.
Cho vay trung v di hn
Doanh nghio cú nhu cu vn trung v di hn mua sm trang
thit b mỏy múc xõy dng, ci tin k thut, mua cụng nghVi s phỏt
trin nhanh chúng ca nn kinh t thỡ nhu cu vn trung v di hn ngy
cng tng.
Nh nc vay trung v di hn u t phỏt trin. Vai trũ ca Nh
nc trong phỏt trin ngy cng c nhn mnh c bit l cỏc nc ang
phỏt trin, ni m kh nng tớch ly ca doanh nghip cha cao.
Ngõn hng cho vay i vi ngi tiờu dựng nhm tha món nhu cu
mua sm hng tiờu dựng lõu bn nh nh ca, phng tin vn chuyn.
1.1.2.2 Cỏc hỡnh thc cho vay theo hỡnh thc cp vn
Trong k khỏch hng cú th thc hin vay tr nhiu ln, song d n
khụng c vt quỏ hn mc tớn dng. Mt s trng hp ngõn hng quy
nh hn mc cui k thỡ d n trong k cú th ln hn hn mc. Tuy nhiờn
n cui k, khỏch hng phi tr n gim d n sao cho d n cui k
khụng vt quỏ hn mc
õy l hỡnh thc cho vay thun tin cho nhng khỏch hng vay mn
thng xuyờn, vn vay tham gia thng xuyờn vo hat ng sn xut kinh
doanh. Trong nghip v ny ngõn hng khụng n nh trc ngy tr n.
Khi khỏch hng cú thu nhp ngõn hng s tin hnh thu n, do ú to ch
ng qun lý ngõn qu cho khỏch hng. Tuy nhiờn do cỏc ln vay khụng
tỏch bit thnh cỏc k hn n c th nờn ngõn hng khú kim soỏt hiu qu
tng ln vay. Ngõn hng ch cú th phỏt hin vn khi khỏch hng np
bỏo cỏo ti chớnh hoc d n lõu khụng gim sỳt.
Cho vay luõn chuyn
SVTH: Th Mai Hnh - Lp Ngõn hng 44B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.
Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để
mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý
người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng
thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung
cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có thể thỏa thuận
trong một năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là
thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết
định có cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng cũng như tình hình tài chính của khách hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho khách hàng. Thủ tục vay chỉ
cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
gian như việc ngân hàng cho vay thông qua các tổ, hội, nhóm như nhóm
sản xuất, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ…Các tổ chức này
thường liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu là để
hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, làm giàu…
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngân hàng phát tiền vay trực tiếp cho khách hàng và đến kỳ trả nợ thì
các tổ chức trung gian sẽ thu nợ hộ ngân hàng. Tổ chức trung gian cũng có
thể đứng ra bảo đảm cho các thành viên vay hoặc các thành viên trong
nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người
vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường co nhiều
món vay nhỏ, người vay phân tan, cách xa ngân hàng. Trong trường họp
như vậy, cho vay thông qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay
(phân tích, giám sát, thu nợ…)
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bởt rủi ro, chi phí của ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết như nhiều trung gian đã
lợi dụng vị thế của mình để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền
của các thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để
bán hàng kém chất lượng với giá đắt cho người vay vốn.
1.1.3 Sự cần thiết của bảo đảm tiền vay tại NHTM
Tài sản của ngân hàng chủ yếu là các tài sản tài chính với tính rủi ro
thị trường, rủi ro tín dụng rất cao. Ngày nay công nghệ của ngân hàng cho
phép có thể chuyển nguồn tiền của mình đầu tư tới các vùng, các thị trường
khác nhau ngày càng xa trụ sở chính. Điều này một mặt cho phép ngân hàng
giảm bớt rủi ro thông qua đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
Ngân hàng
Trung gian:
đảm tiền vay có thể bẳng tài sản hữu hình, tài sản vô hình, hoặc bảo lãnh
của bên thứ ba.
*/ Mục đích của bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay giúp cho ngân hàng đủ cơ sở pháp lý để có
nguồn thu nợ thứ hai tương đối chắc chắn cho ngân hàng. Khi cho vay ngân
hàng đã xác định nguồn thu nợ thứ nhất cho mình tùy theo từng đối tượng
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khách hàng. Nhưng trên thực tế, khoản tín dụng nào cũng có tính thời hạn
mà không ai biết chắc chắn điều gì sẽ xảy ra trong tương lai đối với khoản
cho vay đó. Giả sử rủi ro xảy ra đối với người đi vay khiến cho nguồn thu
thứ nhất của ngân hàng không thể thực hiện được, nếu ngân hàng không dự
phòng thì chắc chắn rủi ro tín dụng xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng, do đó
để bảo đảm cho lợi ích của mình thù ngân hàng yêu cầu phải có bảo đảm
cần thiết khi vay.
Bảo đảm tiền vay gắn trách nhiệm vật chất của người đi vay
với vốn vay. Cho dù trong quá trình sử dụng vốn vay khách hàng đã sử
dụng vốn không đúng mục đích, không mang lại hiệu quả kinh tế nên không
có nguồn thu để trả nợ thì ngân hàng có thể phát mại tài sản bảo đảm để thu
hồi cả nợ gốc và lãi. Do đó, bảo đảm tiền vay giúp khách hàng sử dụng có
trách nhiệm hơn nguồn vốn vay sao cho có hiệu quả tốt nhất.
Bảo đảm tiền vay giúp cho nguồn vốn tín dụng của ngân hàng
được phát triển, uy tín của ngân hàng được nâng cao làm cơ sở cho ngân
hàng đứng vững trong cạnh tranh.
Bảo đảm tiền vay nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn
vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tùy theo tình hình cụ thể
của các chủ thế tín dụng và tính chất cuả khoản vay mà các bên thỏa thuận
hình thức bảo đảm tiền vay cho phù hợp.
1.2 CÁC HÌNH THỨC BẢO ĐẢM TIỀN VAY
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp
luật.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Tàu biển theo quy định của luật hàng hải Việt Nam, tàu bay theo
quy định của luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được
cầm cố.
+ Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời
điểm kí kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như
hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên
cầm cố có quyền nhận.
+ Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.
• Những tài sản không được dùng để cầm cố
+ Những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay
vốn.
+ Những tài sản mà Nhà nước cấm kinh doanh, mua bán, chuyển
nhượng.
+ Những tài sản đang có sự tranh chấp.
+ Những tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm
phong
+ Những tài sản khó kiểm định, khó đánh giá, khó kiểm định.
• Các hình thức cầm cố
+ Cho vay cầm cố bằng giấy tờ có giá (không nhận cầm cố cổ phiều
của chính ngân hàng đó phát hành)
+ Cho vay cầm cố tiền gửi: khách hàng có thể dùng các khoản tiền
gửi thanh toán chưa đến hạn thanh toán để cầm cố cho một khoản vay nào
đó của ngân hàng. Mức cho vay của khoản này rất cao, miễm là đảm bảo đủ
cho việc trả nợ gốc và lãi.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trường hợp thế chấp toàn bộ tài sản có vật phụ thi vật phụ cũng
thuộc tài sản thế chấp. Trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật
phụ thì vật phụ chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận.
Hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc
tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận, hoặc luật pháp có quy định.
Trường hợp tài sản thế được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc
tài sản thế chấp.
• Những tài sản không được dùng để thế chấp
+ Các tài sản gắn liền với đất sử dụng không vì mục đích kinh
doanh mà vì mục đích công cộng.
+ Các kết cấu hạ tầng xây dựng quan trọng gắn liền với đất vì lợi
ích quốc gia như: đường dây tải điện, trạm phát điện, trạm biến thế điện,
công trình thủy lợi, đường giao thông, cầu cống, hệ thống thông tin quốc
gia, công trình khoa học và các công trình công cộng khác.
+ Các công sở như: trụ sở cơ quan nhà nước, các tổ chức chính
trị xã hội và văn phòng đại diện của nước ngoài.
+ Tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an aninh và những
trường hợp đặc biệt khác theo quy định của chính phủ.
+ Tài sản không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của bên vay.
+ Tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, phong tỏa, tài
sản đang làm thủ tục giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp.
+ Tài sản gắn liền với đất đang bị cơ quan có thẩm quyền có kế
hoạch quy hoạch sử dụng vào mục đích công cộng.
+ Tài sản nhà nước cấm kinh doanh mua bán, chuyển nhượng.
Tài sản hình thành từ vốn vay đang bảo đảm cho khoản nợ vay chưa hết
thời hạn trả nợ cho tổ chức tín dụng.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Thế chấp công bằng là hình thức thế chấp mà khi thế chấp
khách hàng không giao quyền sở hữu tài sản thế chấp cho ngân hàng. Khi
khách hàng vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ như trong hợp đồng
tín dụng thi ngân hàng không được tự ý xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ
mà phải nhờ vào sự can thiệp của tòa án hoặc dựa trên cơ sở thỏa thuận của
hai bên (nếu có)
Đối với hình thức này thủ tục đơn giản, ít tốn kém khi lập hợp đồng
thế chấp song sẽ khó khăn cho ngân hàng khi phải xử lý.
Căn cứ vào tính chất của bất động sản thì có thế chấp toàn bộ
và thế chấp một phần:
+ Thế chấp toàn bọ bất động sản là hình thức thế chấp mà trong
đó các vật phụ gắn liền với bất động sản đó cũng được tính vào giá trị của
tài sản thế chấp.
+ Thế chấp một phần bất động sản có nghĩa là vât phụ gắn liền
với bất động sản đó không được tính vào giá trị tài sản thế chấp nếu hai bên
không có thỏa thuận riêng. Thế chấp một phần bất động sản xảy ra trong
trường hợp tài sản thế chấp có thể phát mại riêng ma không ảnh hưởng gì
đến quyền lợi của bên nhận thế chấp.
Căn cứ vào số lần thế chấp ta có thế chấp thứ nhất và thế chấp
thứ hai
+ Thế chấp thứ nhất là việc thế chấp tài sản để bảo đảm món vay
thứ nhất hiện đang còn dư nợ. Thế chấp thứ nhất chỉ được xác định trong
mối tương quan là một tài sản thế chấp nhưng lại bảo đảm cho nhiều món
nợ vay cùng hiện hữu trong một thời gian.
+ Thế chấp thứ hai là hình thức thế chấp trong đó khách hàng sử
dụng phần giá trị chênh lệch giữa giá trị của tài sản thế chấp với giá trị của
khoản vay thứ nhất để bảo đảm cho khoản vay thứ hai.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
16
lãnh chính đã trả nợ thay cho con nợ xong con nợ không có khả năng thanh
toán cho người bảo lãnh chính thì người bảo lãnh lại có trách nhiệm thanh
toán lại cho người bảo lãnh đó
Căn cứ vào mức độ trách nhiệm của người bảo lãnh
+ Bảo lãnh hạn chế: là hình thức bảo lãnh mà trong đó người bảo
lãnh chỉ thực hiện trách nhiệm bảo lãnh khi ngân hàng đã áp dụng các biện
pháp đòi nợ đến con nợ nhưng chưa thu được.
+ Bảo lãnh thông dụng: là hình thức bảo lãnh mà người bảo lãnh
phải có trách nhiệm trả nợ thay cho con nợ sau khi đã hết hạn thanh toán và
ngân hàng đã có một số biện pháp đôn đốc con nợ.
+ Bảo lãnh chính con nợ: là hình thức bảo lãnh mà người bảo
lãnh có trách nhiệm trả nợ thay cho con nợ ngay khi khoản nợ đến hạn mf
ngân hàng không cần áp dụng một biện pháp nào.
Căn cứ vào sự bảo đảm
+ Bảo lãnh không có tài sản cầm cố, thế chấp kèm theo.
+ Bảo lãnh có tài sản cầm cố, thế chấp kèm theo.
Căn cứ vào phạm vi bảo lãnh có:
+ Bảo lãnh riêng biệt
+ Bảo lãnh duy trì
1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA BẢO ĐẢM TIỀN VAY
- Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của khách hàng
vay, bên bảo lãnh và được thế chấp bảo lãnh theo quy định của pháp luật.
- Đối với tài sản của doanh nghiệp Nhà nước thì phải là tài sản do Nhà
nước giao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm
tiền vay theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước. Còn đối
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
với tài sản khác thì phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bên bảo
lãnh.
theo.
Kiểm tra thực chất tài sản đảm bảo về mã số, chất lượng, thị trường
tiêu thụ, giá cả…Đối với tài sản đòi hỏi công nghệ phức tạp thì phải có
chuyên gia kỹ thuật cùng cán bộ kỹ thuật thẩmđịnh.
Xác định giá trị của tài sản đảm bảo và lập biên bản xác định giá trị
tài sản đảm bảo có chữ ký của khách hàng, của cán bộ kỹ thuật giám định,
của cán bộ tín dụng và giám đốc ngân hàng nơi chovay.
Tài sản bảo đảm tiền vay được xác định giá trị tại thời ký kết hợp
đồng bảo đảm, việc xác định giá trị tại thời điểm chỉ làm cơ sở xác định
mức cho vay của ngân hàng không áp dụng cho xử lý tài sản đảm bảo khi
thu hồi nợ. Việc xác đinh giá trị tài sản bảo đảm tiền vay phải được lập
thành văn bản riêng và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay do ngân hàng và
khách hàng vay thỏa thuận. Trường hợp cần thiết có thể thuê tổ chức tư vấn,
tổ chức chuyên môn xác định trên cơ sở giá trị thị trường tại thời điểm xác
định, có tham khảo giá quy định của Nhà nước.
Bước 3: Xác định mức cho vay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm
tiền vay
Khi đã xác định được giá trị tài sản đảm bảo, ngân hàng cần xác
định mức cho vay đối với khoản vay có tài sản đảm bảo hay nói cách khác
ngân hàng cần xác định mối tương quan giữ giá trị của khoản vay với giá trị
của tài sản đảm bảo. Thông thường tỷ lệ này nhỏ hơn một có nghĩa là giá trị
của khoản vay (tại thời điểm cho vay) nhỏ hơn giá trị của tài sản đảm bảo.
Tỷ lệ này tùy theo đặc điểm và tính chất an toàn của tài sản.
Ngoài tỷ lệ cho vay này còn tùy thuộc vào chu kỳ kinh tế và chu kỳ
của tài sản đảm bảo. Tỷ lệ cho vay này được duy trì trong suốt thời gian cho
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay, khi đã xác định được mức cho vay ngân hàng chuyển sang bước tiếp
theo là ký kể hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Năm 2003 với đặc thù riêng của huyện An Hải là thực hiện Nghị định
số 106/CP của Chính phủ về “điều chỉnh địa giới hành chính”. Thành lập
quận Hải An, đổi tên huyện An Hải thành huyện An Dương. Chi nhánh
Ngân hàng loại 4 Hải An được nâng cấp thành Ngân hàng quận Hải An tách
khỏi ngân hàng huyện. Ngày 06/06/2003 Hội đồng quản trị NHNo&PTNT
Việt Nam ra quyết định đổi tên NHNo&PTNT An Hải thành NHNo&PTNT
An Duơng.
NHNo&PTNT huyện An Duơng - Thành phố Hải Phòng được thành
lập nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và kinh doanh chủ yếu trên địa bàn huyện
An Dương, trực tiếp kinh doanh và chịu sự quản lý trực tiếp của chi nhánh
cấp 1 là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành phố Hải
Phòng, có trụ sở chính tại 283 Lạch Tray - Ngô Quyền - Hải Phòng.
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
2.1.1.2.1 Chức năng của chi nhánh NHNo&PTNT
Trực tiếp kinh doanh trên địa bàn theo phân cấp của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổ chức điều hành kinh doanh và kiểm tra, kiểm toán nội bộ
theo ủy quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam.
Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao và lệnh của Tổng giám
đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
2.1.1.2.2 Nhiệm vụ của chi nhánh NHNo&PTNT
1. Huy động vốn:
Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn,
tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế
trong nước và nước ngoài bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và
NHNo&PTNT Thành phố Hải Phòng. Bộ máy tổ chức được áp dụng theo
phương pháp trực tuyến, tức là Ban giám đốc quản lý tất cả các phòng ban,
các phòng quản lý về mặt nghiệp vụ và giữa các phòng có mối liên hệ mật
thiết với nhau.
Hiện nay, NHNo&PTNT huyện An Duơng có 26 cán bộ công nhân
viên (CBCNV), ngoài Ban giám đốc còn 4 phòng ban chức năng là Phòng
nghiệp vụ kinh doanh, Phòng kế toán - ngân quỹ, Phòng hành chính nhân
sự và Phòng giao dịch An Đồng. Hoạt động của Ngân hàng nhìn chung có
nhiều thuận lợi, ổn định và có hiệu quả. Ban giám đốc gồm 3 người có trách
nhiệm lãnh đạo, quản lý đề ra phương án và chỉ đạo cơ quan thực hiện.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT huyện
An Dương
Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ nền kinh tế tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng,dân chủ, văn minh, tiến tới hòa nhập vàocộng đồng kinh
tế thế giới. Đóng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chung đó là hệ thống
NHTM với chức năng là trung gian tài chính, trung gian chu chuyển vốn, là
cầu nối giữa các thành phần trong nền kinh tế lại với nhau.
Huyện An Dương là một huyện ven Thành phố Hải Phòng, là một
huyện có tiềm năng kinh tế lớn, đa dạng, phong phú so với các huyện khác
trong địa bàn thành phố. Ngành nghề chính của huyện là sản xuất nông
nghiệp, phát triển công nghiệp và nuôi trồng thuy sản. Ngoài ra, huyện còn
có cả các mô hình kinh tế trang trại đang được hình thành và phát triển.
SVTH: Đỗ Thị Mai Hạnh - Lớp Ngân hàng 44B
CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC