Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về
xuất khẩu
1.1. Lý luận chung về xuất khẩu
1.1.1.Khái niệm và vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế đất nước
1.1.1.1.Khái niệm về xuất khẩu
Có nhiều khái niệm về xuất khẩu nhưng ta có thể hiểu xuất khẩu hàng hóa
là một hệ thống quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên
trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước ra nước
ngoài để thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống người dân.
Cũng có thể hiểu xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại
thương, xuất hiện từ lâu và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và
chiều sâu.Hình thức sơ khai của xuất khẩu chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá
giữa các quốc gia (bao gồm cả hàng hóa vô hình và hàng hoá hữu hình).Khi
sản xuất phát triển ,trao đổi hàng hóa ngày càng có lợi, hoạt động vày mở
rộng phạm vi trên toàn cầu trong tất cả các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế
với tỷ trọng ngày càng cao.
1.1.1.2. Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế đất nước
Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại chủ yếu của
quốc gia, hàng năm hoạt động này đóng góp một phần lớn và ngày càng gia
tăng vào tổng thu nhập quốc dân.Theo xu hướng ngày càng phát triển theo cả
quy mô về cả chiều rộng lẫn chiều sâu thì vai trò của xuất khẩu ngày càng
quan trọng, có thể nói hoạt động xuất khẩu là một nhân tố cơ bản thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển của một quốc gia.Thực tế đã chứng minh các quốc
gia đi nhanh trên con đường tăng trưởng và phát triển cũng như những quốc
gia có tiềm lực kinh tế mạnh đều là những nước có nền ngoại thương năng
động và sớm phát triển.
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
1
Chuyên đề tốt nghiệp
2
Chuyên đề tốt nghiệp
trăn giá trị lô hàng). Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, đặc
biệt là không cần bỏ vốn kinh doanh ,tạo được việc làm cho người lao động
đồng thời cũng thu được một khoản lợi nhuận nhất định.Ngoài ra trách nhiệm
trong việc tranh chấp và khiếu nại không thuộc trách nhiệm người uỷ thác mà
thuộc về người sản xuất.Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số nhược
điểm là phải qua trung gian và phải mất một tỷ lệ hoa hông nhất định cho
người uỷ thác,nắm bắt thông tin về thị trường cũng như khách hàng chậm và
thông thường phải thông qua người uỷ thác.
Buôn bán đối lưu: Là hình thức giao dịch,trong đó xuất khẩu kết hợp nhập
khẩu, người bán đồng thời là người mua là hàng hóa mang ra trao đổi thường
có giá trị tương đương.Mục đích của xuất khẩu ở đây không nhằm mục đích
thu ngoại tệ mà có được lượng hàng hoá có giá trị tương đương với giá trị lô
hàng xuất khẩu. Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm tránh những rủi ro về
biến động tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối . Đặc biệt khi các bên
không đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình.Thêm vào đó,
đối với mỗi một quốc gia thì buôn bán đối lưu có thể làm cân bằng hạng mục
thường xuyên trong cán cân thanh toán,nhưng lại làm hạn chế quá trình trao
đổi hàng hóa, việc giao nhận hàng hoá khó tiến hành được thuận lợi.
Giao dịch qua trung gian: Đây là hình thức giao dịch mà mọi việc kiến lập
quan hệ giữa người bán với người mua đều phải thông qua một người thứ ba
là đại lý môi giới hay trung gian.Quan hệ này dựa trên cơ sở hợp đồng đại
lý.Có nhiều đại lý khác nhau như đại lý hoa hồng, đại lý kinh tiêu, đại lý toàn
quyền…Môi giới là thương nhân trung gian giữa người mua và người bán.Khi
tiến hành nghiệp vụ, người môi giới có vai trò như người uỷ thác.Do đó quá
trình trao đổi giữa người mua và người bán phải thông qua người thứ ba nên
có những nhược điểm về thời gian chậm lại do phải thông qua ba bên, phí hoa
hồng phaảitrả cho người môi giới.
Gia công quốc tế: Là một hình thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên
là hợp đồng được ký kết ,trong đó quy định người bán có nghĩa vụ chuyển
quyền sở hữu hàng hoá cho người mua ,còn người mua có nghĩ vụ trả cho
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
4
Chuyên đề tốt nghiệp
người bán một khoản tiền ngang giá trị đã được quyết định trong hợp đồng
theo các phương tiện thanh toán quốc tế .
Bước 3:Thực hiện hợp đồng xuất khẩu và thanh toán
Sau khi đã ký kết xong hợp đồng hai bên thực hiện những gì đã cam kết
trong hợp đồng .Với tư cách là nhà xuất khẩu,doanh nghiệp sẽ thực hiện
những công việc sau đây: giục mở L/C và kiểm tra L/C, xin giấy phép xuất
khẩu và chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu, kiểm tra hàng hoá, uỷ thách thuê tàu,
mua bảo hiểm hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu, làm thủ tục
thanh toán giải quyết tranh chấp (nếu có)
Trên đây là trình tự những công việc chung nhất cần thiết để thực hiện
hợp đồng xuất khẩu, tuy nhiên trên thực tế có thể giảm bớt một vài khâu tuỳ
theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng.
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu
1.1.4.1. Môi trường chính trị , văn hoá, kinh tế và pháp luật
Môi trường chính trị và pháp luật sẽ có tác động trực tiếp đến quyết định kinh
doanh tại thị trường nước ngoài của bất kỳ một doanh nghiệp nào.Một điều
dễ hiểu là không một doanh nghiệp nào muốn tiến hành giao dịch với một
quốc gia đang có sự tranh chấp về pháp luật hay chính trị, có sự đấu tranh
giành giật giữa các đảng phái….Mỗi quốc gia có nền văn hoá mang đậm bản
sắc văn hoá riêng của dân tộc mình, do đó hiểu biết về nền văn hóa sẽ giúp
các doanh nghiệp xuất khẩu có thể hiểu rõ thị hiếu cũng như những điều cấm
kị trong văn hoá của thị trường bản địa và từ đó xác định được chính xác
chiến lược đối với từng thị trường nhập khẩu riêng, khả năng thành công cao
hơn.
Trong các môi trường quốc gia ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập
được chiến lược phát triển của quốc gia nhập khẩu và có sự điều chỉnh chiến
lược kịp thời đối với những thay đổi đó.
1.1.4.3. Các đối thủ cạnh tranh
Yếu tố cạnh tranh bao gồm các đối thủ cạnh tranh hiện tại và các đối
thủ cạnh tranh tiềm năng. Để có vị trí lâu dài trên thị trường nước ngoài các
doanh nghiệp xuất khẩu phải tính đến các đối thủ tiềm nằng, đó là những đối
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
6
Chuyên đề tốt nghiệp
thủ hiện tại chưa có khả năng cạnh tranh cao nhưng rất có triển vọng trong
thời gian tới.
Các yếu tố cạnh tranh còn phụ thuộc vào sức ép người cung cấp các
nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và sức ép từ phía người tiêu dùng là
những người trực tiếp tiêu dùng, trực tiếp quyết định sự sống còn của sản
phẩm trên thị trường đó bằng quyết định có tiêu dùng hay không.
1.1.4.4.Công nghệ về sản xuất và chế biến
Ngày nay với sự phát triển ngày càng cao của khoa học công nghệ đã
làm thay đổi cục diện toàn bộ hoạt động xuất khẩu. Đời sống con người được
nâng cao làm cho nhu cầu tiêu dùng cũng ngày nâng cao hơn, đó là những
loại hàng hoá dịch vụ chất lượng chất lượng cao, đảm bảo các yêu cầu về tiêu
chuẩn kỹ thuật cũng như mẫu mã, hình dáng kích cỡ…Khả năng ứng dụng
công nghệ kỹ thuật đã góp phần tác động hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả
cao hơn .Cụ thể công nghệ sản xuất sẽ giúp cho chất lượng hàng hoá xuất
khẩu cao hơn đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới, công nghệ chế
biến không những góp phần làm đa dạng sản phẩm xuất khẩu mà còn góp
phần giả quyết nguông nguyên liệu thừa ra vào mỗi vụ thu hoạch, đặc biệt là
sản phẩm nông sản xuất khẩu.
1.2. Khái quát về xuất khẩu rau quả của Việt Nam
1.2.1.Tình hình sản xuất rau quả
Việt Nam có điều kiện về đất đai và khí hậu thích hợp trồng các loại
bằng Sông Cửu Long với 23.28% diện tích và 25,46% sản lượng (số liệu năm
2002), ngoài ra còn có Đà Lạt –vùng chuyên canh rau có chất lượng và hiệu
quả cao.
Sản xuất cây ăn quả tập trung nhiều nhất tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu
Long, nơi chiếm tới 34.1% diện tích cây ăn quả cả nước, tiếp đến là Đông Bắc
19%, Đông Nam Bộ 17.4% Sản xuất cây ăn quả phát triển ở mọi vùng đất
nước và hình thành nên các vùng sản xuất cây ăn trái hàng hoá phù hợp với
điều kiện khí hậu và tập quán từng vùng.
Bảng 3. Diện tích trồng cây ăn quả phân theo vùng năm 2002
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Tên vùng Diện tích
(Nghìn ha)
Tỷ trọng(%) Loại cây ăn
quả chủ yếu
1. Đông bắc 70.4 10.39 Mận,đào ,hồng,
chuối,xoài,
cam, quýt,mơ,
vải ,nhãn, mít
2.Tây bắc 128.9 19.03 Mận, đào, hồng
3. Đồng bằng Sông Hồng 33.4 4.93 Vải, nhãn,
chuối, dứa ,mít,
na , đu đủ
4.Bắc Trung Bộ 51.4 7.59 Cam, quýt,
dứa, dừa
5.Duyênhải
trung bộ
26.7 3.94 Xoài, nho,
kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu
rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 67,1 triệu USD, chiếm 44,3% kim
ngạch xuất khẩu rau quả, tiếp đến là Đài Loan 20,16 triệu USD chiếm 14,2%
tổng kim ngạch ,Nhật Bản đạt khoảng 16,7 triệu USD chiếm khoảng 11,0% ,
Nga đạt 8,3 triệu USD chiếm khoảng 5,5%, Hoa Kỳ đạt 8,1 triệu USD chiếm
khoảng 5,3% và các nước trong khu vực.Rau quả xuất sang Trung Quốc chủ
yếu là rau quả tươi còn xuất sang các nước khác thì chủ yếu là rau quả đông
lạnh hoặc qua chế biến.
Đồ thị :Xuất khẩu rau quả theo thị trường năm 2006
Nguồn: Tổng cục Hải Quan năm 2006
Có thể thấy thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam chủ yếu lầ các nước
Châu Á( chiếm khoảng 90% tổng giá trị) còn các thị trường nhập khẩu chính
của thế giới như EU , Hoa kỳ, Nhật Bản thì mặt hàng này của Việt Nam hiện
tại vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Trung quốc là thị trường tiêu thị nông sản của Việt Nam, nhất là rau quả
tươi. Xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm khoảng 80% giá trị xuất khẩu hoa quả
tươi của Việt Nam. Vì vậy khi xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc phải đối mặt
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
10
Chuyên đề tốt nghiệp
với những thách thức mới, xuất khẩu rau quả của Việt Nam bị ảnh hưởng
nghiêm trọng.
Sau khi Thái Lan ký với Trung Quốc Hiệp Định ưu đãi thuế quan cho mặt
hàng rau quả của hai nước, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường
Trung Quốc gặp nhiều khó khăn trước sức ép cạnh tranh với Thái Lan. Theo
Hiệp Định thì có tới 188 mặt hàng, tức gần hết rau quả của Thái Lan xuất khẩu
vào Trung Quốc được hưởng thuế suất 0% trong khi đó các mặt hàng rau quả
của Việt Nam xuất vào Trung Quốc phải chịu thuế suất từ 10-15%. Mặt khác
sau khi gia nhập WTO, từ tháng 4/2002 Trung Quốc quy định mặt hàng tươi
nhập vào nước nayg phải có hạn ngạch và đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch thực
cách nên mặt hàng rau quả xuất sang Mỹ của Việt Nam chủ yếu là rau quả
đông lạnh và qua chế biến và một phần rất ít hoa quả tươi đi bằng đường hàng
không. Các loại rau quả xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu la dứa đóng hộp, xoài tươi,
bắp non.
Thị trường EU là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất thế giới và có nhu
cầu tiêu thụ ngày càng tăng đối với các loaị rau quả nhiệt đới. Tuy nhiên, tính
cạnh tranh ở thị trường này là rất cao, đòi hỏi mặt hàng rau quả ở Việt Nam
phải đảm bảo chất lượng, giá cả cạnh tranh, chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm…Mặt hàng rau quả của Việt Nam xuất sang thị trường EU chủ yếu là các
mặt hàng trái cây tươi và một số loại rau quả chế biến như: nhãn ,xoài, dưa
chuột bao tử muối, cà muối… Các nước nhập khẩu nhiều rau quả nhất của Việt
Nam là Hà Lan, Italia, Pháp và Đức.
1.2.3.Đặc điểm hàng rau quả và vai trò của xuất khẩu rau quả đối với Việt
Nam
1.2.3.1.Đặc điểm hàng rau quả xuất khẩu của Việt Nam
Nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường luôn là mục tiêu được đặt
lên hàng đầu đối với mỗi doanh nghiệp. Để đạt được thành công đòi hỏi các
doanh nghiệp xuất khẩu phải nắm bắt được những đặc điểm riêng của từng thị
trường. Đối với rau quả, là ngành hàng có nhiều đặc tính thì việc nghiên cứu
đặc điểm của hàng rau quả lại càng cần thiết và hữu ích cho hoạt động xuất
khẩu rau quả của Việt Nam.Có thể kể đến một số đặc điểm nôi bật :
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
12
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Độ co giãn về cầu thấp
Nông sản nói chung và rau quả nói riêng là loại hàng thiết yếu thúc đẩy xuất
khẩu ra nước ngoài, tuy nhiên nếu được đầu tư cơ sở hạn tầng kỹ thuật tốt như
trang thiết bị sản xuất, chế biến bảo quản và vận chuyển thì việc cải thiện chất
lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu, nâng cao năng suất và sức cạnh
tranh là điều trong tầm tay.
khăn với các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của các quốc gia tiên tiến
trên thế giới. Đây là vấn đề làm giảm sức cạnh tranh của rau quả Việt Nam
trên thị trường các nước trong khu vực và trên thế giới.
+Mang tính mùa vụ cao
Do đặc điểm sinh trưởng của từng loại rau quả phải mất một thời gian nhất
định mới có thể thu hoạch nên cung cầu về sản phẩm không cân bằng về mặt
không gian và thời gian. Lượng cung rau quả trên thị trường của các vùng,
địa phương sản xuất rau quả thường cao hơn rất nhiều so với các địa phương
khác và đặc biệt vào mùa thu hoạch thường tập trung nhiều ở vùng sản xuất.
Đối với thị trường trong nước,sau khi thu hoạch người sản xuất thường cung
ứng ra thị trường mà không quan tâm đến giá cao hay thấp bởi đặc tính của
rau quả phải giữ tươi nguyên, hàng loạt người sản xuất cùng một lúc cung
ứng ra thị trường sau khi thu hoạch sẽ dẫn đến cung vượt quá cầu và tất yếu
dẫn đến giá cả giảm, thậm chí còn thấp hơn chi phí sản xuất. Nhưng vào thời
kỳ trái vụ lượng cung trên thị trường nông sản thấp hơn nhu cầu tiêu dùng thì
giá cả sẽ tăng lên cao.Vì vậy người sản xuất cũng như nhà kinh doanh nên
chú ý đặc điểm mang tính mùa vụ cao của rau quả mà có những biện pháp
tăng sản xuất rau quả trái vụ và hướng ra xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu cao
về rau quả trái vụ trên nhiêù thị trường.
+Chịu sự tác động lớn của các tác nhân tự nhiên như khí hậu, thời
tiết đất đai
Mặt hàng nông sản chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên. Đối với rau
quả Việt Nam thì điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn tới năng suất cây trồng
bởi nền nông nghiệp Việt Nam vẫn còn lạc hậu, áp dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất còn hạn chế.Phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên nên sản lượng
nông sản thu được ở các khu vực có sự biến động bất thường, những năm thời
tiết thuận lợi mưa thuận gió hoà thì cấy cối phát triển mạnh cho năng suất
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
khu vực và thế giới và có thể đưa rau quả thành mặt hàng chủ lực trong hoạt
động xuất khẩu nông sản Việt Nam.
1.2.3. Lợi thế của sản xuất và xuất khẩu rau quả của Việt Nam so với các
nước khác
Theo các chuyên gia trên thế giới, có 3 loại lợi thế cơ bản được tính đến
trong cạnh tranh của ngành rau quả đó là :chi phí thấp, khả năng cung cấp rau
quả trái vụ và khả năng cung cấp những rau quả khác lạ. Trên cơ sở phân tích
3 lợi thế này thì rau quả xuất khẩu Việt Nam có những đặc điểm sau:
1.2.3.1. Lợi thế về chi phí thấp
Rau quả xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế tương đối cao về giá so với các
sản phẩm cùng loại trong khu vực và trên thế giới bởi lẽ Việt Nam có điều
kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn lao động rẻ dồi dào. Điều kiện tự nhiên bao
gồm đặc điểm địa hình, đất đai khí hậu rất thuận lợi cho việc gieo trồng các
loại rau quả có giá trị dinh dưỡng cao và có khả năng xuất khẩu ,thêm vào đó
nguồn lao động rẻ dồi dào tạo điều kiện giảm chi phi sản xuất và giá thành
sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại các quốc gia khác.
Về đất đai: Với diện tích đất nông nghiệp màu mỡ phì nhiêu , đồng bằng lớn
trải rộng trên cả nước, thích hợp trồng các loại rau quả đa dạng và phong phú,
kết hợp với khí hậu nhiệt đới và ôn đới ẩm từng vùng rõ rệt đã hình thành
vùng chuyên canh rau quả hàng năm cho năng suất và chất lưọng cao. Trong
đó diện tích trồng rau quả ngày càng được mở rộng , được mô tả theo bảng
dưới đây:
Bảng 5: Diện tích, sản lượng, giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam
(Đơn vị: nghìn ha, triệu tấn, USD)
Năm 2005 2006 So với 2005
( %)
2007
Diện tích trồng rau 695 845 21,41% 855
Sản lượng rau 7,98 10 25% 10,1
phương được thị trường ưa chuộng đã hình thành các vùng rau quả tập trung,
các vùng quả đặc sản được hình thành như: vùng bưởi đặc sản Nam Sa( Vĩnh
Long), Tân Triều (Đồng Nai), Đoan Hùng (Phú Thọ); vùng nhãn lồng Hưng
Yên, vải Hải Dương, Bắc Giang…
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
17
Chuyên đề tốt nghiệp
So với các nước trong khu vực và trên thế giới thì Việt Nam là đất nước được
ưu đãi lớn về khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm là điều kiện thuận lợi lớn cho sản
xuất nông sản và đặc biệt là rau quả với những chủng loại quả đặc trưng và rất
được ưa chuộng trên thị trường thế giới .Tuy nhiên sản lượng xuất khẩu rau
quả của Việt Nam so với các nước còn nhiều bất cập do chưa khai thác hết
được lợi thế về điều kiên tự nhiên.
Về lao động
Nguồn nhân lực ở Việt Nam được đánh giá là rất dồi dào với tổng số dân gần
83 triệu người trong đó có khoang 50 triệu người lao động.Người dân Việt
Nam có phẩm chất tốt: chăm chỉ , cần cù, ham học hỏi…Truyền thống trồng
cây công nghiệp lâu đời đã tích luỹ từ hàng nghìn năm nên người dân có kinh
nghiệm trong lĩnh vực trồng trọt. Có lợi thế về số lượng lao động so với các
nước trong khu vực nhưng lao động của Việt Nam còn nhiều yếu kém về trình
độ ,kém về kỹ thuật canh tác chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm do cha ông ta
truyền lại.
1.2.3.2. Khả năng cung cấp rau quả trai vụ
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi để gieo trồng các loại rau quả, khí hậu nhiệt
đới gió mùa ẩm phân biệt rõ ràng từ Bắc vào Nam :Một mùa đông lạnh ở
Miền Bắc, khí hậu kiểu Tây Nam Á ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng
bằng sông Cửu Long tao điều kiện thuận lợi để Việt Nam đa dạng hoá các
loại cây trồng, có khả năng đáp ứng cung cấp rau tươi quanh năm, đây là một
lợi thế để xuất khẩu sang các nước ôn đới và hàn đới ,tận dụng mùa vụ mà
nguồn cung cấp nội địa của họ bị hạn chế do thời tiết.Lợi thế này đã được
trường khó tính như Hoa Kỳ, EU…đến thị trường các nước đang phát triển
trên thế giới. Hàng hoá Trung Quốc đa dạng về chủng loại, mẫu mã, chấp
chận được,phù hợp trên thị trường, giá cả lại rẻ hơn rất nhiều so với hàng hoá
nội địa. Điều này như khẳng định sự đúng đắn trên các chiến lược phát triển
ngoại thương của Trung Quốc. Trung Quốc đã thành công trong việc chuyển
hướng xuất khẩu thay thế nhập khẩu. Song chiến lược phát triển này của
Trung Quốc khác hẳn so với chiến lược về xuất khẩu của các nước đang phát
triển ở Đông Á
Trung Quốc có diện tích rất lớn khoảng 9.596.965 km2, đứng thứ 3 thế
giới và dân số đông nhất thế giới khoảng 1.306.313 người (năm 2004) Trung
Quốc trải rộng trên một diện tích lớn, địa hình phong phú đa dạng.Như vậy
ngay trên đất nước này, chủng loại rau quả đã rất phong phú, đa dạng.Thêm
vào đó, Trung Quốc cũng là một đất nước nông nghiệp như Việt Nam nhưng
họ có khả năng về tài chính, công nghệ hơn hẳn chúng ta.Vì vậy nông nghiệp
của họ được tiến hành công nghiệp hoá từ rất lấu rồi với công nghệ hiện đại.
Đúng như Trung Quốc nhân định, bản thân Trung Quốc cũng là một thị
trường rất hấp dẫn với tất cả những mặt hàng nói chung và rau quả nói riêng.
Do đời sống người dân Trung Quốc ngày càng được nâng cao và thói quen
ẩm thực nên người dân Trung Quốc đòi hỏi một lượng rau quả lớn ,sức tiêu
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
20
Chuyên đề tốt nghiệp
thị ngày càng nâng cao. Với một mức dân số hơn 1,3 tỷ người thì cầu trên thị
trường này là một con số khổng lồ cho ngành xuất khẩu rau quả.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc là nấm, củ cải, hành tỏi,
các loại rau tươi và rau chế biến khác, quýt, táo…Các thị trường xuất khẩu
rau quả chính của Trung Quốc là Nhật Bản,Hồng Kông, EU, Nga và các nước
Đông Nam Á.
Các loại rau quả nhập khẩu chủ yếu là chuối, nho, cam, táo, cần tây, nấm
nhập khẩu chủ yếu từ Hoa Kỳ, Chilê, các nước Đông Nam Á…
2003 5021.7
2004 7192
2005 8.200
2006 10.000
( Nguồn: Báo cáo hàng năm của Bộ Thương Mại)
2.1.2.Thực trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
Nhà xuât
khẩu
Cửa hàng hiệp hội giá
và các văn phòng mua
bán
Nhà cung cấp nước ngoài
Nhà phân phối của Trung
Quốc:Thượng Hải,Quảng
Đông
Nhà buôn cấp độ 2
Mạng lưới bán lẻ
Hải quan và trạm kiểm
dịch
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ rau quả hàng đầu thế giới. Mặc dù là
một nước xuất khẩu rau quả lớn, đứng thứ 8 trên thế giới nhưng bình quân
Trung Quốc nhập khẩu 620 triệu USD trái cây mỗi năm. Trong đó khoảng
78% trái cây nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á. Trong thời gian tới, nhập
khẩu trái cây của Trung Quốc từ các nước Đông Nam Á sẽ còn tăng lên.
Trung Quốc vẫn được coi là thị trường xuất khẩu trái cây hàng đầu của Việt
Nam, chiếm gần 60% tổng giá trị xuất khẩu trái cây của Việt Nam năm 2000.
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, tỷ trọng xuất khẩu trái cây của Việt Nam
Tuy nhiênThái Lan đã và đang tìm các biện pháp để khắc phục bất lợi về
khoảng cách địa lý của mình. Thái Lan đã có những biện pháp mà doanh
nghiệp Việt Nam chưa hề nghĩ tới như: mỗi ngày, chở đến Côn Minh rau quả
tươi, thuỷ sản tươi bằng máy bay và đã được bán giá rất đắt. Thái Lan và
Trung Quôc cũng đầu tư rất lớn để cải tạo sông Mêkông thành một đường
thủy vận chuyển rất an toàn, chi phí rất rẻ cho những mặt hàng cồng kềnh, đòi
hỏi cao về bảo quản như rau quả. Ngày ngày, hàng rau quả, thuỷ sản Thái Lan
vẫn đến được với các tỉnh miền Tây xa xôi của Trung Quôc bằng hàng không
và đường thuỷ. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam với phương thức
vận chuyển bằng xe đông lạnh đã bị bỏ lại rất xa cuộc chạy đua vào thị trường
Trung Quôc.
Như vậy, có thể nói ngay lợi thế buôn bán mậu biêu và chi phí vận tải của
Việt Nam cũng đang ngày càng mất dần trước sự cạnh tranh gay gắt của rau
quả của Thái Lan trên thị trường Trung Quốc.
Bảng 7: Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong những năm qua
Năm Kim ngạch xuất Kim ngạch xuất Tỷ trọng XK
Sv:Thân Văn Hoàn Kinh tế quốc tế 46
24
Chuyên đề tốt nghiệp
khẩu rau quả cả
nước(Tr USD)
khẩu rau quả sang
TrungQuốc(trUSD)
sang Trung Quốc
2001 330 123.6 37.45
2002 200 62 31.0
2003 160 61.2 38.25
2004 140 56.8 40.57
2005 260 97.2 37.38
2006 300 126 42.0