văn hóa giải trí ở thành phố hải phòng trong thời kỳ đổi mới hiện nay - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 5-8-2003 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
IX) ra Nghị quyết số 32-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Hải
Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là sự kiện có
ý nghĩa lịch sử mở ra giai đoạn phát triển mới của thành phố. Nghị quyết nhấn
mạnh: Hải Phòng là thành phố cảng công nghiệp hiện đại; đô thị trung tâm cấp
quốc gia, đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía
Bắc, một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía Bắc, một
động lực phát triển kinh tế biển, một trong những trung tâm công nghiệp, thương
mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ, du lịch, thủy sản, giáo dục, y tế của
vùng duyên hải Bắc Bộ
Trong những năm đổi mới Hải Phòng đã có bước phát triển mạnh mẽ về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
thành phố được nâng lên rõ rệt. Các hoạt động sản xuất - kinh doanh, thương
mại, du lịch, dịch vụ, giáo dục, thông tin, văn hóa thể thao diễn ra sôi động,
thu hút đông đảo các tầng lớp dân cư thành phố.
Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, nhiều lễ hội dân gian đặc sắc, có khu du lịch
biển, đảo (Đồ Sơn, Cát Bà ) là những địa điểm rất thuận lợi cho việc khai
thác, tổ chức các hoạt động văn hóa giải trí cho nhân dân. Bên cạnh đó, sự phát
triển các phương tiện thông tin đại chúng, sự đa dạng của hệ thống thiết chế
văn hóa: Bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, cung văn hoá, nhà thi đấu TDTT, sự
sôi động trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật đã đáp ứng nhu cầu tinh
thần ngày càng phong phú và đa dạng của các tầng lớp nhân dân, góp phần giữ
ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
1
tích đã đạt được trong phát triển văn hoá, thành phố Hải Phòng cũng còn có những
tồn tại, yếu kém trong hoạt động này:
- Một số cấp, ngành thành phố chưa có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò
của văn hoá, văn hoá giải trí, còn quá coi trọng khía cạnh kinh tế trong lĩnh vực

phố.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu văn hóa giải trí và các hoạt
động văn hoá vui chơi giải trí đã được một số nhà nghiên cứu, lý luận văn hóa,
quản lý văn hóa quan tâm, đã có một số đề tài, công trình của các tác giả đi
trước đề cập đến những vấn đề mà luận văn nghiên cứu.
- Đề tài "Nghiên cứu phát triển các hoạt động văn hóa vui chơi giải trí ở
Hà Nội - thực trạng và giải pháp" do PGS.TS Phạm Duy Đức làm chủ nhiệm,
Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội là cơ quan chủ trì, thực hiện năm 2003 và công
trình "Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay những vấn đề lý luận và
thực tiễn"do PGS.TS Phạm Duy Đức (chủ biên) [22] đã phân tích một số vấn
đề lý luận về văn hoá giải trí, đánh giá thực trạng hoạt động văn hoá giải trí ở
Hà Nội và đề xuất các giải pháp phát triển các hoạt động văn hoá giải trí ở Hà
Nội nói riêng, ở đô thị nước ta nói chung.
- Luận án tiến sĩ xã hội học của Đinh Thị Vân Chi, "Nhu cầu giải trí của
thanh niên. Nghiên cứu khuôn mẫu giải trí của thanh niên và sự đáp ứng nhu
cầu giải trí tại Hà Nội" [9] hoàn thành năm 2001 đã xác định quan niệm về
giải trí và nhu cầu giải trí của thanh niên Hà Nội, các giải pháp đáp ứng nhu
cầu giải trí trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Công trình, Vai trò của văn hóa dân gian trong các sân chơi trên truyền
hình của PGS,TS. Trần Thị Trâm [49] đã khai thác các khía cạnh của văn hóa dân
gian trong việc tổ chức các trò chơi giải trí trên truyền hình.
3
Về xây dựng và phát triển văn hoá ở thành phố Hải Phòng trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng đã có những kết quả nghiên cứu bước đầu.
Luận văn thạc sỹ Văn hoá học " Phương pháp và tổ chức hoạt động Cung văn
hoá, Nhà văn hoá lao động trong thời kỳ đổi mới hiện nay" [7] hoàn thành năm
1998 và Luận án tiến sỹ Lịch sử " Giao tiếp và ứng xử với tư cách là thành tố
văn hoá trong hoạt động doanh nghiệp thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước" [8] của tác giả Nguyễn Văn Bính, hoàn thành năm 2003 đã lấy Hải

- Phạm vi nghiên cứu: Văn hóa giải trí là một vấn đề rộng lớn. Vì vậy đề
tài chỉ tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về văn hóa giải trí và phân
tích, đánh giá thực trạng hoạt động của văn hoá giải trí ở thành phố Hải Phòng
trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay. Các phương hướng và giải pháp được
đề xuất hướng tới năm 2010.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là:
phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê và
điều tra xã hội học, phương pháp liên ngành (đô thị học, văn hoá học, xã hội
học ).
6- Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Làm sáng tỏ hơn khái niệm, đặc trưng, bản chất của văn hóa giải trí và
vai trò của văn hoá giải trí đối với việc xây dựng, hoàn thiện con người và phát
triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích thực trạng văn hóa giải trí ở thành phố Hải Phòng trong thời
gian qua.
- Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa giải trí
ở Thành phố Hải Phòng trong những năm tới.
5
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Về phương diện lý luận:
- Nhận thức sâu sắc hơn quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
- Phân tích và làm sáng tỏ vai trò của văn hóa giải trí trong việc nâng cao
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, phát triển KT - XH, xây dựng và
hoàn thiện nhân cách con người trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
* Về phương diện thực tiễn :
Kết quả mà luận văn đạt được có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo
cho việc tìm hiểu hoạt động văn hoá giải trí, và công tác lãnh đạo và quản lý

là cái đói, nhưng cái đói được thoả mãn bằng dĩa và dao khác với cái đói ngốn
ngấu thịt sống bằng bàn tay, móng tay và răng, và thứ ba, nhu cầu còn được
đáp ứng trong khuôn khổ phong tục tập quán (văn hoá) của cộng đồng và bị
quy định bởi văn hoá cộng đồng.
Khi nghiên cứu về nhu cầu các tác giả đều thống nhất rằng, nhu cầu là
nguồn gốc mọi hành động của con người. Khi một nhu cầu xuất hiện, sẽ hình
7
thành trong con người một động cơ, thôi thúc hành động để thoả mãn nhu cầu
đó. Nhà phân tâm học nổi tiếng Freud khẳng định rằng mọi hiện tượng tâm lý
(trong đó có nhu cầu) đều có nguồn năng lượng nuôi dưỡng, càng nhiều nhu
cầu thì nguồn năng lượng trong cơ thể càng lớn. Nguồn năng lượng này tuân
theo quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng cần được sử dụng hết. Nếu
không được sử dụng hoặc bị dồn nén, năng lượng đó sẽ tìm cách giải toả trong
giấc mơ, trong các hành động lố lăng, phá phách Còn khi được sử dụng đúng
cách, nó có thể thăng hoa và giúp các thiên tài làm nên những kiệt tác nghệ
thuật. Và con người chỉ có thể phát triển toàn diện khi các nhu cầu của mình
được đáp ứng đầy đủ. Trong trường hợp ngược lại sẽ bị kìm hãm và không thể
phát triển hoặc phát triển lệch lạc.
Nhu cầu giải trí, với tư cách là một nhu cầu của con người, thể hiện trên
hai khía cạnh:
- Ở khía cạnh sinh học: Sự thoả mãn nhu cầu giải trí là điều kiện để cơ
thể phục hồi sức khoẻ sau quá trình lao động, lấy lại thăng bằng tâm - sinh lý
để cơ thể tiếp tục làm việc.
- Ở khía cạnh xã hội: Con người giải trí không phải chỉ để giải trí. Mọi
hoạt động của con người đều có mục đích, và bởi vậy, giải trí cũng mang lại
cho họ sự phát triển về trí tuệ và nhân cách, sự thư thái, sảng khoái và những
khoái cảm thẩm mỹ.
Như vậy khi nhu cầu giải trí được đáp ứng thoả đáng thì trí não được thư
giãn, tinh thần được thanh thản, tâm hồn thêm trong sáng, đời sống cảm xúc
thêm phong phú với nhiều rung cảm thẩm mỹ, sự phát triển của con người trở

không thể tuỳ tiện theo ý thích hoặc hoàn cảnh cá nhân. Nó được xác định một
9
cách nghiêm ngặt và được diễn ra trong một khoảng thời gian dành riêng, với
thời điểm và độ lớn được quy định chặt chẽ, mà C.Mác gọi là thời gian tất yếu.
Ba dạng hoạt động còn lại cũng không thể thiếu, nhưng chúng được thực
hiện một cách linh hoạt tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân. Chúng được
diễn ra trong khoảng thời gian còn lại sau khi đã trừ đi thời gian tất yếu.
Khoảng thời gian dành cho những hoạt động đó được gọi là thời gian tự do,
nghĩa là thời gian mà xã hội dành cho cá nhân quyền tự do sử dụng.
Trong ba hoạt động trên thì hoạt động thứ tư mang tính tự do hơn cả. Nó
không gắn với sự thúc bách sinh học nào, cũng không hề mang tính cưỡng bức.
Nó là hoạt động hoàn toàn tự do mà cá nhân có toàn quyền lựa chọn theo sở
thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội. Nó là bước chuyển từ những
hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện. Nó đồng thời
cũng là hoạt động không vụ lợi, nhằm mục đích giải toả căng thẳng thể chất và
tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hồn, và cao hơn nữa là
đạt tới những rung cảm thẩm mỹ. Với tính chất đặc biệt như vậy, để phân biệt
với các hoạt động trên, người ta gọi nó là hoạt động giải trí và thời gian dành
cho hoạt động giải trí được gọi là thời gian rỗi.
Thời gian rỗi được coi là khái niệm đồng nghĩa với thời gian tự do, nghĩa
là "phần thời gian ngoài lao động của cá nhân (nhóm xã hội) còn lại sau khi đã
trừ đi chi phí thời gian cho những hoạt động cần thiết không thể thiếu" và
"Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách bởi
các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào. Nó
được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thoả mãn
nhu cầu tinh thần của con ngườii (hoạt động giải trí)" [dẫn theo 9, tr.23].
Như vậy có thể thấy giải trí là một dạng hoạt động cơ bản của con
người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí
10
tuệ và thẩm mỹ. Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu

thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động không có tác dụng gì nhiều đối với
sự phát triển toàn diện con người, thậm chí là vô bổ hoặc có hại (la cà hàng
quán, rong chơi không mục đích hoặc sa vào các tệ nạn xã hội ) Những hoạt
động lệch chuẩn như vậy không thuộc nội hàm khái niệm giải trí. Hoạt động
giải trí là những hoạt động của con người nhằm nâng cao đời sống văn hoá tinh
thần và phát triển toàn diện con người.
Giải trí hoàn toàn không phải sự nghỉ ngơi thụ động của con người mà là
những hoạt động mang tính chủ động. Nó là những hoạt động hoàn toàn tự do,
do mỗi cá nhân tự lựa chọn và tham gia một cách chủ động. Nhân tố quyết
định mang tính tiên quyết là sở thích cá nhân (với điều kiện phù hợp hệ chuẩn
mực và hoàn cảnh thực tế khách quan của xã hội) Bởi vậy, sự nghỉ ngơi thụ
động không phải là giải trí. " Nghỉ " là sự ngừng làm việc, ngừng hoạt động
nhằm lấy lại sức lực vật chất, sự thăng bằng tâm sinh lý để có thể tiếp tục làm
việc sau đó. Tất nhiên, lúc nghỉ có thể đọc báo, nghe nhạc nhưng đó chỉ là
phụ, điều chính yếu là để cơ thể không hoạt động (nhưng nghỉ cũng khác với
ngủ vào ban đêm). Nghỉ thuộc dạng hoạt động thứ ba và mang tính thụ động,
trong khi giải trí thuộc dạng thứ tư (nằm trong phạm vi hoạt động tinh thần)
mang tính chủ động và tích cực.
Vui chơi giải trí là nhu cầu văn hoá cơ bản của con người (cá nhân và
cộng đồng) nhằm giải toả những căng thẳng, mệt mỏi do lao động đưa lại, bù
đắp những thiếu hụt và mất mát về sức khoẻ và tinh thần, tạo điều kiện để con
người phát triển toàn diện về thể lực, trí lực, tình cảm thẩm mỹ, thoả mãn nhu
cầu tinh thần ngày càng cao của con người.
12
Trong vòng đời của con người, vui chơi giải trí gắn bó suốt đời người.
Lịch sử phát triển của loài người đã cho thấy các hoạt động vui chơi giải trí
gắn liền với sự xuất hiện của xã hội loài người và xã hội ngày càng phát triển,
các hoạt động vui chơi giải trí ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời
sống xã hội. Không một dân tộc nào, dù trình độ phát triển cao thấp đến đâu,
lại không có các hoạt động vui chơi giải trí. Sử sách đã nói nhiều về tính chất

xuất hiện các phong trào đấu tranh của công nhân đòi được giảm giờ làm và
tăng thời gian giành cho hoạt động nghỉ ngơi, giải trí. Năm 1883, Pôn La
-phac-gơ - con rể của C.Mác viết cuốn sách "Quyền được hưởng nhàn" (Le
droit à la paresse) để ủng hộ cuộc đấu tranh của những người lao động. Ở
Pháp, vào năm 1900 có Luật Min-lơ-răng (Millerand) thiết lập chế độ ngày
làm việc 10giờ. Năm 1906 mới đề ra chế độ nghỉ bắt buộc 1 ngày trong tuần.
Năm 1910 có luật hưu trí đối với công nhân. Cũng vào thời gian này, quốc tế
XHCN phát động cuộc đấu tranh với khẩu hiệu: 8 giờ lao động, 8 giờ nghỉ ngơi
và 8 giờ giải trí. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi, bắt đầu từ đây, người lao động
mỗi ngày làm việc 8 giờ [dẫn theo 22, tr.17].
Tuy nhiên, trong 8 giờ giải trí, người ta còn phải làm một số công việc
tất yếu như: nấu ăn, tắm rửa, săn sóc con cái Các công việc trên đã tiêu tốn
hết 4 - 5 giờ/ngày, còn lại 3 - 4 giờ/ngày gọi là thời gian tự do. Đây mới thực là
thời gian dành cho các hoạt động giải trí.
Đương thời, C.Mác rất quan tâm đến khái niệm "thời gian tự do" của
người lao động. Ông cho rằng:
Tiết kiệm thì giờ lao động là tăng thêm thì giờ tự do, tức là thì
giờ dành cho sự phát triển toàn diện cá nhân, sự phát triển tác dụng
trở lại sức lao động và làm tăng sức lao động, về phương diện sự sản
14
xuất trực tiếp, thì giờ tiết kiệm được có thể coi là dùng để sản xuất ra
vốn cố định, một vốn cố định làm nên con người [dẫn theo 22, tr.18].
Năm 1936 thoả ước Ma-ti-nhông (Matignon) ra đời, quy định mỗi tuần
làm việc 40 giờ, cuối tuần có hai ngày nghỉ. Trong xã hội xuất hiện từ ("Week
end" - Những ngày nghỉ cuối tuần, như một phong tục mới, ra đời và vận hành
tại một số nước công nghiệp phát triển). Từ đó, người ta bắt đầu ý thức về
phương thức sử dụng vốn thời gian tự do của mỗi con người. Các nhà xã hội
học đã chia ra như sau:
- Thời gian tự do cấp ngày: 3 - 4 giờ.
- Thời gian tự do cấp tuần: 2 ngày nghỉ.

cân bằng tâm-sinh lý, nâng cao năng lực tinh thần và thể chất cho con người.
1.1.2. Quan niệm văn hoá giải trí
Khái niệm văn hoá đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại và ngừng
được mở rộng cả về nội hàm cùng ngoại diên của nó. Theo người Trung Hoa
cổ đại thì “văn hoá" là sự kết hợp giữa "vẻ đẹp” và "giáo hoá " đựơc dùng để
chỉ một triều đại có sự thống trị "đẹp đẽ" dùng "văn trị” và "giáo hoá", tức là
sự thống trị dựa trên sự giáo dục, thuyết phục con người. Còn ở Hy Lạp cổ đại
thì thuật ngữ "cultus " tức là gieo trồng, ban đầu có nghĩa gieo trồng ngoài
đồng ruộng, (cultus agree) sau được dùng với nghĩa là gieo trồng tinh thần
(cultus animi - tức là văn hoá) chỉ sự nâng niu, nuôi dưỡng bản chất, phẩm giá
của con người theo những cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ, cái văn minh
Định nghĩa về văn hoá ngày càng trở nên hết sức phong phú. Năm 1952
A.L Kroeber và C.L Kluckhohn đã trích lục được khoảng ba trăm định nghĩa
văn hoá của các tác giả ở nhiều nước khác nhau. Đến nay đã có thêm hàng
trăm định nghĩa nữa về văn hoá. Nhưng hầu như tất cả đều quan niệm văn hoá
16
gắn liền với bản chất, năng lực của con người, với con người, nói cách khác, hệ
thống các giá trị tinh thần và giá trị vật chất do con người sáng tạo ra - văn hoá,
trở thành một bộ phận cấu thành của đời sống xã hội.
"Từ điển triết học" của Rôdentan đã đưa ra định nghĩa: "Văn hoá - toàn
bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trrình thực
tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã
hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hoá vật chất (kỹ thuật,
kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất ) và văn hoá tinh thần (khoa học, nghệ
thuật và văn hoá, triết học, đạo đức, giáo dục ). Văn hoá là một hiện tượng lịch
sử, phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội" [35, tr.656].
Tổ chức Văn hoá, Giáo dục và Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO)
nhìn nhận văn hoá với ý nghĩa rộng rãi nhất, như một phức thể, tổng thể các
đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm khắc hoạ nên
bản sắc của một cộng đồng: "Văn hoá là tổng thể những biểu trưng (ký hiệu)

tinh thần lành mạnh và bổ ích của con người. Có những hoạt động thoạt nhìn
có vẻ là giải trí nhưng vì lý do nào đó mà không đạt được tới mục đích trên,
đều không phải (hoặc không còn là) giải trí. Ví dụ, hoạt động chơi bài, nếu đó
là hoạt động không vụ lợi, chỉ để tiêu khiển, giải toả căng thẳng tinh thần hoặc
thể chất thì là hoạt động giải trí. Nhưng nếu lại gắn với mục đích kinh tế (ăn
tiền) hoặc vụ lợi (cá cược) thì không còn là giải trí nữa. Như vậy, hoạt động
giải trí là những hoạt động tạo cho cá nhân một đời sống tinh thần trong sáng,
lành mạnh, phấn chấn giúp họ phát triển toàn diện. Giải trí là những hoạt
động thuộc đời sống văn hoá - tinh thần. Như vậy có thể coi " Văn hoá giải trí"
18
(văn hoá vui chơi giải trí) là một trong những yếu tố của cấu trúc chỉnh thể của
văn hoá cộng đồng.
Nói "văn hoá giải trí" cũng tức là “văn hoá vui chơi", "văn hoá vui chơi
giải trí" cũng có thể hiểu là hoạt động vui chơi, giải trí có văn hoá, bằng các
hoạt động và sản phẩm văn hoá và thông qua hoạt động giải trí nhằm xây
dựng, hoàn thiện nhân cách con người.
Ở đây, ta có thể phân loại các hoạt động văn hoá giải trí theo nhiều tiêu
chí khác nhau:
+ Theo chức năng của các hoạt động: Có hoạt động giải toả căng thẳng
thể chất (thể dục thể thao ) hoạt động giải toả căng thẳng tinh thần (nghe
nhạc, dạo chơi, giao tiếp ), hoạt động nhằm đạt khoái cảm thẩm mỹ (thưởng
thức nghệ thuật).
+ Theo chủ thể tổ chức hoạt động: Có hoạt động cá nhân (nghe nhạc,
làm thơ, đọc sách báo ) hoạt động trong nhóm hạn chế (giao lưu với bạn bè,
tham gia các hoạt động cùng với họ ) hoạt động tập thể (hoạt động cùng các
bạn đồng nghiệp hoặc trong một tổ chức đoàn thể nào đó ), hoạt động công
cộng ngoài xã hội.
+ Theo địa điểm hoạt động: Có hoạt động giải trí tại gia đình, hoạt động
giải trí tại nơi làm việc, hoạt động giải trí ngoài xã hội.
+ Theo hình thức hoạt động: Có những hoạt động chơi (chơi các trò chơi,

Hoạt động chơi còn nhằm rèn luyện, tập dượt con người. Nó rất cần thiết
để con người vượt qua những trở ngại, khó khăn, nó còn là bài học về chữ
"nhẫn ", "thắng không kiêu, bại không nản", nó làm cho con người trầm tĩnh,
thư thái hơn. Khía cạnh quan trọng nhất của nhu cầu chơi là nhằm bù đắp
20
những cái mà con người không thể tìm thấy trong đời sống thực tiễn. Chẳng
hạn như, khi con người có nhu cầu sống với quá khứ tổ tiên thì không gì hơn là
tham gia vào vai diễn của các nhân vật lịch sử
Các giá trị mà mỗi cuộc chơi mang lại là sự công bằng, bình đẳng và
minh bạch (công khai). Sự công bằng biểu thị ở chỗ mọi người tham gia cuộc
thi đều có thể thắng, hoặc có thể thua, không hề có sự ưu tiên cho bất cứ đối
tượng nào. Sự bình đẳng trong cuộc chơi biểu hiện ở chỗ mọi người tham gia
cuộc chơi đều có điều kiện ngang nhau trong cuộc tranh tài. Trong cuộc đua
tranh quyết liệt này, người giỏi sẽ thắng, người kém sẽ thua; đối với những trò
chơi có sự may rủi thì: vận may sẽ thắng, vận rủi sẽ thua, không có ngoại lệ.
Đây là một chân lý hiển nhiên mà mọi người trong cuộc chơi đều thừa nhận.
Sự minh bạch ở đây còn là sự giám sát xã hội. Những người được cử ra
làm "trọng tài” cho cuộc chơi phải thật “công tâm”, mọi xử lý phải trình ra
công khai trước sự chứng kiến của mọi người. Sự khuất tất sẽ làm cho cuộc
chơi trở nên mất hết ý nghĩa.
Tóm lại, trong cuộc chơi những người tham gia chơi hết mình theo
đúng luật chơi, những người trọng tài xử lý công tâm theo luật định, các
“Fan” (khán giả) cổ vũ “vô tư”, làm cho cuộc chơi đạt tới giá trị công bằng,
bình đẳng và minh bạch. Đó là cái đẹp vĩnh hằng, làm cho ấn tượng của
cuộc chơi sống mãi trong lòng mọi người. Có thể hình dung hoạt động của
mỗi cuộc chơi giống như hoạt động của một hội thu nhỏ, ở đó các nguyên
tắc công bằng, bình đẳng và minh bạch như những chân lý bình dị, đã được
thực thi một cách nghiêm túc.
Chúng ta thấy rằng giải trí tự nó không phải là cái gì gắn liền với sự thấp
kém, kém cỏi. Giải trí là nhu cầu thực sự cần thiết cho con người sau những

những hoạt động giải trí của các cá nhân, các cộng đồng diễn ra một cách
tích cực, chủ động, lành mạnh và tiến bộ. Thông qua những trò chơi và những
hoạt động giải trí tạo nên cho các cá nhân và cộng đồng một đời sống tinh
thần phong phú và lành mạnh, hoàn thiện và phát triển.
1.1.3. Các loại hình văn hoá giải trí
Ngày nay, các loại hình giải trí ngày càng phát triển rộng rãi, phong phú
về hình thức, đa dạng về nội dung (không chỉ giải trí bằng đọc sách, báo mà
còn tham gia vào quá trình sáng tạo, biểu diễn văn hoá, văn nghệ, thể thao )
Hoạt động giải trí không dừng lại ở trạng thái thụ động tiếp nhận, mà phát triển
đến trạng thái chủ động tham gia hoạt động sáng tạo. Hoạt động giải trí không
chỉ ở trong trạng thái tĩnh (đọc, xem, nghe, nhìn) mà cả ở trạng thái vận động:
Vận động cơ thể (thể dục thể thao, biểu diễn nghệ thuật) hay du lịch, tham
quan Tuy nhiên, phân loại các loại hình văn hoá giải trí không phải là điều
đơn giản, bởi vì vui chơi giải trí là một dạng hoạt động xã hội, nếu căn cứ vào
hình thái của hoạt động thì rất khó thực hiện, vì rằng, chỉ cần đổi phương tiện
thành mục đích thì hoạt động nào cũng có thể trở thành hoạt động vui chơi giải
trí, ví du: Chèo thuyền là lao động của người thuỷ thủ, còn chèo thuyền trong
cuộc đua "trải” là tham gia cuộc vui của lễ hội. Bóng đá chuyên nghiệp là dạng
hoạt động nghề nghiệp, còn bóng đá phong trào mang tính nghiệp dư là hoạt
động vui chơi giải trí. Biểu diễn nghệ thuật không chỉ là hoạt động nghề
nghiệp của các nghệ sỹ chuyên nghiệp mà còn là hoạt động có tính chất vui
chơi, giải trí của đội ngũ văn nghệ nghiệp dư trong các hội diễn nghệ thuật
quần chúng.
Chúng ta thấy có các loại hình văn hoá giải trí chủ yếu sau đây:
1.1.3.1. Loại hình văn hoá giải trí gắn với các trò chơi
Các loại trò chơi là những hoạt động vừa mang tính thể lực, vừa mang
tính tinh thần nhằm rèn luyện sức khoẻ, năng lực tinh thần cho những người
tham gia chơi và cả những người cổ vũ cuộc chơi, như:
23
+ Trò chơi thể lực: kéo co, đấu vật, bơi lội.

+ Vui chơi giải trí bằng các hoạt động thể dục thể thao, như: Tập thể dục
hàng ngày, dưỡng sinh, võ vật, bóng bàn, bóng đá, bóng chuyền và các loại
thể thao khác (thăng bằng trên dây, nhảy dù, leo núi, lướt ván ).
+ Vui chơi giải trí bằng biểu diễn, thi đấu TDTT: Xem biểu diễn thể dục
dụng cụ, thi đấu bóng các loại, đấm bốc, đấu vật, chọi trâu, chọi gà
1.1.3.4. Loại hình văn hoá giải trí gắn với thông tin đại chúng
Thông tin đại chúng vừa là một loại hình văn hoá vừa là một phương
thức chuyển tải văn hoá. Vì vậy nó là một hoạt động giải trí cơ bản của con
người và xã hội.
+ Vui chơi giải trí bằng đọc (xem): Sách, báo, tranh, ảnh, triển lãm, intenet
+ Vui chơi giải trí bằng nghe: Nghe radio, casseet
+ Vui chơi giải trí bằng nghe - nhìn: xem truyền hình, thông tin, quảng
cáo, VCD, DVD
1.1.3.5. Loại hìnhvăn hoá giải trí gắn với du lịch, dịch vụ
Du lịch dịch vụ là một hoạt động văn hoá mang tính tổng hợp, nguyên hợp
nhưng cũng mang tính chuyên biệt. Con người tham gia các hoạt động du lịch,
dịch vụ vừa để đáp ứng nhu cầu thực dụng, vừa đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí.
+ Vui chơi giải trí bằng du lịch: Du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, thương
mại chữa bệnh, hội thảo, thám hiểm
+ Vui chơi giải trí bằng dịch vụ: mua sắm. may mặc, ăn uống, thư giãn,
trang điểm
1.1.3.6. Loại hình văn hoá giải trí gắn với lao động sản xuất
Có thể chia loại hình này thành các hoạt động chính là:
25

Trích đoạn Hoạt động điện ảnh Hoạt động dịch vụ băng đĩa hình Các hoạt động dịch vụ văn hoá khác Hoạt động du lịch Những ưu điểm và yếu kém trong hoạt động văn hố giải trí ở thành phố Hải Phòng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status