Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với những nỗ lực cải cách môi trờng pháp lý phục vụ kinh doanh, từng
bớc đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt đợc những
thành tựu nhất định trong việc tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi, an toàn và
bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời đánh dấu bớc phát triển quan
trọng trong việc giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy
nội lực trong xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đáng kể vào
tăng trởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, tạo thêm
nhiều công ăn việc làm và "xóa đói, giảm nghèo", giải quyết các vấn đề xã hội
khác. Chỉ tính từ đầu năm 2000 đến tháng 7 năm 2003, đã có hơn 71.500
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh (gấp 1,6 lần so với giai đoạn 1991-1999);
với số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung khoảng 9,5 tỷ đô la Mỹ (gấp hơn
4 lần so với 1991-1999), cao hơn số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đăng ký
trong cùng thời kỳ. Ngoài ra, còn có hơn 15.000 chi nhánh, văn phòng đại
diện và khoảng 800.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh; đa tổng số
hộ kinh doanh cá thể trong cả nớc lên khoảng hơn 2,5 triệu hộ. Nhờ đó, tỷ
trọng đầu t của dân c và doanh nghiệp trong tổng đầu t toàn xã hội đã tăng từ
20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 25,3% năm 2002; và năm 2003 gần
27%. Tỷ trọng đầu t của các doanh nghiệp t nhân trong nớc liên tục tăng và đã
vợt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu t của doanh nghiệp nhà nớc (DNNN), gần bằng
tổng vốn đầu t của DNNN và tín dụng nhà nớc. Vốn đầu t của các doanh
nghiệp dân doanh đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu t chủ
yếu đối với phát triển kinh tế địa phơng. Ví dụ, đầu t của các doanh nghiệp
dân doanh năm 2002 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm 38% tổng số vốn
1
đầu t toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu t của DNNN và ngân sách nhà nớc
gộp lại (36,5%) [5, tr. 3].
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật kinh tế nói riêng
của Việt Nam hiện nay còn cha thống nhất, cha đồng bộ, cha ổn định và cha
- Các cơ chế, chính sách lỗi thời, chậm thay đổi đã kìm hãm sự phát
triển các CTCP, đã hạn chế năng lực kinh doanh và sức sản xuất của họ. Trong
một số trờng hợp nhà nớc lại thờng xuyên thay đổi chính sách, chủ trơng đã
đẩy các CTCP rơi vào tình thế lúng túng, đối phó hoặc gây ra những thiệt hại
không nhỏ trong kinh doanh cho các công ty.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định rõ:
Kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản
lý của Nhà nớc. Nhà nớc ta là nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quản lý nền
kinh tế bằng pháp luật, chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách,
sử dụng cơ chế thị trờng, áp dụng các hình thức kinh tế và phơng
pháp quản lý của kinh tế thị trờng để kích thích sản xuất, giải phóng
sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu
cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động và của
toàn thể nhân dân [18, tr. 87-88].
Xuất phát từ những nội dung trình bày trên, bản thân tác giả nhận
thấy: việc nghiên cứu quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với CTCP ở Việt
Nam hiện nay là việc làm cần thiết của khoa học pháp lý Việt Nam trong xu
hớng hoàn thiện quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với nền kinh tế, trong đó
có quản lý các CTCP nhằm tạo môi trờng pháp lý an toàn, thuận lợi; bảo đảm
các quyền tự do kinh doanh và lợi ích chính đáng, sự bình đẳng của các CTCP
trong nền kinh tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTCP Việt
3
Nam trong bối cảnh hội nhập với các nớc trong khu vực và thế giới. Đó cũng
là lý do để chúng tôi chọn đề tài: "Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với
công ty cổ phần ở Việt Nam" để làm luận án tiến sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ sau Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986), cùng với quá trình chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trờng định hớng
XHCN đã đặt ra nhiều nhiệm vụ cấp bách cho khoa học pháp lý trong việc xây
kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trờng ở Việt Nam hiện nay của Chu
Hồng Thanh, trong luận án của mình, trên cơ sở nhận thức đúng những khái
niệm cơ bản, tác giả đã làm rõ vai trò của nhà nớc và pháp luật trong cơ chế
thị trờng, phân tích khái quát quá trình xuất hiện và vận động của cơ chế thị
trờng ở Việt Nam. Từ đó rút ra những nhận xét về các yêu cầu kinh tế khách
quan xây dựng hệ thống pháp luật. Khẳng định vai trò và phạm vi tác động
thông qua công cụ pháp luật của Nhà nớc trong cơ chế thị trờng; Đề tài: Hoàn
thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nớc đối với doanh
nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay (từ thực tiễn
của thành phố Hồ Chí Minh) của Lê Văn Hng, đã góp phần làm sáng tỏ thực
trạng pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nớc đối với DNNN trong
thời gian qua, từ đó đề xuất phơng hớng và giải pháp đổi mới và hoàn thiện
pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN trong cơ chế thị trờng; Đề
tài: Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với các loại
hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t nhân ở Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Thanh Hóa, thì tập trung cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t
nhân; kiến nghị các phơng hớng và giải pháp khả thi nhằm đổi mới và hoàn
thiện quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế t nhân nói chung trong điều kiện kinh tế thị trờng định hớng
5
XHCN ở nớc ta hiện nay; Đề tài: Nhà nớc quản lý bằng pháp luật đối với
doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn của Phạm Quý Tỵ, chỉ đi
sâu nghiên cứu về sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp luật đối với hai loại hình
doanh nghiệp trong các loại hình doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay là doanh
nghiệp t nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn. Về sách chuyên khảo đã có
các tác phẩm sau: Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam và những vấn đề cấp
bách của khoa học về Nhà nớc và pháp luật do PGS.TS Đào Trí úc (chủ
biên), đây là tác phẩm của tập thể tác giả là những nhà nghiên cứu khoa học
pháp lý của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tập trung nghiên cứu
luật trong nền kinh tế thị trờng ở Việt Nam nh: Tìm hiểu vai trò của nhà nớc
trong nền kinh tế thị trờng của GS.TS Hoàng Văn Hảo; Pháp luật trong cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc của PTS. Trần Ngọc Đờng; Pháp luật kinh
tế nớc ta trong bớc chuyển sang kinh tế thị trờng của PTS. Nguyễn Nh Phát;
Nền kinh tế thị trờng và những vấn đề pháp lý đặt ra của PTS. Hoàng Thế
Liên, v.v
Ngoài ra, còn nhiều bài viết của nhiều tác giả khác cũng đề cập dới
nhiều góc độ khác nhau liên quan đến hoạt động quản lý nhà nớc bằng pháp
luật trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Những công trình đợc công
bố trên là tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả trong quá trình nghiên cứu
của mình. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và bài viết của các tác giả nêu
trên chỉ đề cập đến những vấn đề chung nhất có tính lý luận về vai trò của Nhà
nớc, vai trò của pháp luật, về việc sử dụng công cụ pháp luật trong quản lý nền
kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN. Hoặc chỉ dừng lại ở mức độ nghiên
cứu quản lý nhà nớc đối với DNNN hoặc doanh nghiệp t nhân và công ty trách
nhiệm hữu hạn hay nghiên cứu về các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế t
nhân nói chung. Cha có công trình hay đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu
một cách toàn diện về quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với CTCP ở Việt
7
Nam hiện nay, để từ đó xây dựng cơ sở lý luận, đa ra những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với
CTCP, một loại hình công ty có nhiều đặc tính u việt hiện nay ở nớc ta. Hơn
nữa, việc luận giải một cách có hệ thống yếu tố quản lý nhà nớc bằng pháp
luật đối với công ty cổ phần có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và
hoàn thiện các thiết chế quản lý kinh tế dân chủ của Nhà nớc trong nền kinh tế
nhiều thành phần. Đây là một vấn đề khá mới mẻ ở nớc ta trong điều kiện
Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các quan điểm và giải pháp
Luận án đợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh về nhà nớc và pháp luật, những quan điểm, đờng lối, chủ tr-
ơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nớc về phát triển nền kinh tế
thị trờng định hớng XHCN.
Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các phơng pháp nghiên cứu
của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đây là cơ sở cho việc nhận thức bản chất
nội tại và các mối quan hệ biện chứng của các vấn đề cần nghiên cứu. Vận
dụng các quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm vận động, đề tài đợc nghiên cứu
trong quá trình hình thành và phát triển hoạt động quản lý nhà nớc bằng pháp
luật đối với CTCP; gắn liền với sự thay đổi về các điều kiện kinh tế - xã hội,
hoàn cảnh lịch sử qua các thời kỳ phát triển của đất nớc. Ngoài ra, tác giả luận
án còn sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh,
đánh giá qua các số liệu thu thập có liên quan đến hoạt động quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với CTCP ở Việt Nam cũng nh một số nớc trên thế giới
9
nhằm làm sáng tỏ những luận cứ khoa học và tính thuyết phục cao trong các
đề xuất về quan điểm, giải pháp tăng cờng quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối
với CTCP trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Nội dung của luận án có những điểm mới sau đây:
- Luận án đã phân tích những đặc điểm và tính u việt của CTCP trong
nền kinh tế thị trờng ở nớc ta trớc nhu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, thu
hút vốn đầu t, trong bối cảnh hội nhập và hợp tác phát triển của kinh tế Việt
Nam với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
cơ sở lý luận về quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với CTCP ở Việt Nam
hiện nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
- Từ đánh giá thực trạng quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với CTCP
hiện nay ở nớc ta, luận án làm sáng tỏ những hạn chế trong công tác quản lý
nhà nớc cần đợc tổng kết, rút kinh nghiệm.
giao lu thơng mại đợc mở rộng, nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát
triển, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, nhiều nhà kinh doanh đã bắt
đầu sự cạnh tranh quyết liệt nhằm tìm kiếm thị trờng, mở rộng qui mô kinh
doanh. Sức mạnh của họ đợc dựa trên thực lực về tài chính, nên mục tiêu nâng
cao năng lực về vốn luôn đợc các nhà doanh nghiệp chú ý. Đến lúc này, yếu tố
về vốn đã chi phối mạnh mẽ hoạt động của các công ty. Hơn thế nữa, khi pháp
luật của một quốc gia thừa nhận một loại hình công ty này hay công ty khác
đều luôn tính đến đặc thù, điều kiện của mình thích ứng ra sao đối với loại
hình doanh nghiệp đó; sự lựa chọn của nhà đầu t, khả năng phát triển cũng nh
11
trình độ quản lý của Nhà nớc. Không tính đến các yếu tố này thì pháp luật về
công ty sẽ không tạo ra đợc khả năng thu hút vốn đầu t, sẽ sơ hở, tản mạn, tùy
tiện. Từ đó, chúng ta thấy rằng, để có thể huy động đợc nhiều vốn, kinh doanh
có hiệu quả hơn ngời ta tổ chức ra nhiều loại hình công ty khác nhau. Sự phân
biệt các loại hình công ty này tùy thuộc vào các tiêu chí, các căn cứ khác nhau.
Dù phân chia theo hình thức nào đi nữa thì vấn đề quan trọng nhất mà nhà n-
ớc, chủ nợ, nhà đầu t, các thành viên trong công ty quan tâm nhất đó là vốn
phục vụ sản xuất - kinh doanh và trách nhiệm pháp lý của công ty đối với các
hoạt động của mình. Nếu dựa trên cơ sở này thì có hai loại hình công ty chủ
yếu là công ty đối nhân và công ty đối vốn.
* Công ty đối nhân: Có hai loại hình là công ty hợp danh và công ty
hợp vốn đơn giản. Các thành viên khi tham gia thành lập công ty này chủ yếu
quan tâm đến nhân thân ngời góp vốn mà không quan tâm đến phần vốn góp.
Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thơng gia cùng
kinh doanh dới một tên chung (hãng buôn), nhng công ty không có t cách
pháp nhân, các thơng gia phải chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu
trách nhiệm vô hạn về các hoạt động của công ty. Mặt u điểm của công ty này
là do các thành viên chịu trách nhiệm vô hạn nên có độ an toàn cao đối với xã
hội, quản lý có hiệu quả vì ít ngời và tin tởng nhau. Hạn chế của nó là huy
động vốn không đợc nhiều vì thành viên rất hạn chế, chỉ gồm những ngời hiểu
khoán.
Từ sự phân tích trên, luận án đa ra khái niệm CTCP nh sau:
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp thuộc công ty đối vốn. Vốn
của công ty cổ phần đợc chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và
đợc thể hiện dới hình thức cổ phiếu. Việc góp vốn vào công ty đợc thực hiện
bằng cách mua cổ phiếu. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ty trong phạm vi giá trị cổ phiếu mà họ sở hữu. Công ty cổ phần có
13
t cách pháp nhân độc lập, mang tính tổ chức cao, có cấu trúc vốn phức tạp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động
vốn.
1.1.1.2. Đặc điểm của công ty cổ phần
CTCP có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Về số lợng thành viên: Hầu hết pháp luật các nớc đều qui định số l-
ợng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lợng tối đa (theo qui định của
Luật công ty năm 1990 của Việt Nam thì số lợng thành viên tối thiểu trong
suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo Luật doanh nghiệp năm 1999
thì số lợng thành viên tối thiểu của CTCP là 3). Đặc điểm này thể hiện đặc tr-
ng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều
thành viên tham gia góp vốn vào CTCP.
+ Về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty đợc chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ
phiếu, ngời mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có đợc hằng năm từ cổ
phần gọi là cổ tức. Việc góp vốn vào CTCP đợc thực hiện bằng cách mua cổ
phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
+ Về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, CTCP đợc
quyền phát hành chứng khoán theo qui định của pháp luật về phát hành chứng
khoán ra công chúng để huy động vốn. Theo Luật công ty năm 1990 và Luật
doanh nghiệp năm 1999 đều qui định: đối với công ty TNHH khi muốn tăng
vốn điều lệ của mình thì chỉ đợc thực hiện bằng cách hoặc tăng thêm phần vốn
ngời quản lý điều hành công ty, pháp luật các nớc đều cho phép thành lập các
loại hình công ty nêu trên. Luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 1999 cho
phép thành lập công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên
trở lên, CTCP và cả loại hình công ty hợp danh kết hợp cả u việt của loại hình
công ty hợp vốn đơn giản.
15
1.1.2. Tính u việt của công ty cổ phần
So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nớc ta, thì CTCP có
nhiều tính u việt rõ nét. Những tính u việt này xuất phát từ chính đặc điểm của
CTCP và đợc thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thứ nhất: CTCP là tổ chức có t cách pháp nhân độc lập
Pháp luật về công ty của các nớc đều xác lập một cách cụ thể và rõ
ràng về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của CTCP với t cách là một pháp nhân
độc lập, có năng lực và t cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các
cổ đông trong CTCP. Trong quá trình hoạt động công ty chịu trách nhiệm về
các khoản nợ bằng chính tài sản của mình. Với t cách chủ thể là pháp nhân
thông qua ngời đại diện theo qui định của pháp luật, CTCP có thể trở thành
nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. Khi
CTCP mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của CTCP, còn các
cổ đông chỉ đợc sở hữu cổ phần trong CTCP mà không có bất kỳ quyền sở hữu
nào đối với tài sản của CTCP.
- Thứ hai: Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn
Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã
chuyển dịch vốn của mình theo những phơng thức nhất định vào CTCP và phần
vốn đó trở thành tài sản thuộc sở hữu CTCP, đồng thời cổ đông sẽ đợc hởng các
quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Với t cách là một pháp nhân, CTCP
có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui
định của pháp luật. Vì thế, các quyền và nghĩa vụ của CTCP hoàn toàn tách biệt
khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì CTCP là chủ thể của quyền sở hữu
công ty. Vốn thuộc sở hữu CTCP chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ
cách tự do
Hầu hết pháp luật về công ty của các nớc trên thế giới đều qui định
và cho phép chuyển nhợng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do
17
CTCP phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới. Vì khác với các loại công
ty khác, vốn điều lệ của CTCP đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Việc góp vốn vào
CTCP đợc thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu đợc xem là hình
thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông. Các cổ phiếu do CTCP phát
hành là "hàng hóa" nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển
nhợng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi
giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc
kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho ngời khác thì họ thực hiện
rất dễ dàng. Đó là lý do giải thích vì sao có rất nhiều ngời muốn đầu t vào
CTCP chứ không muốn đầu t vào các loại hình doanh nghiệp khác. Đây cũng
là một trong những yếu tố cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị tr-
ờng chứng khoán.
- Thứ t: CTCP có cơ cấu vốn và tài chính linh hoạt, có thể huy động đ-
ợc vốn theo yêu cầu kinh doanh
CTCP không thể đợc thành lập và không thể hoạt động nếu không có
vốn. Vốn quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng nh
quan hệ với các đối tác bên ngoài. Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty đ-
ợc xem là cội nguồn của quyền lực. Với đặc trng là loại hình công ty đối
vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn
trong công ty. Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu
chỉ rõ thực lực tài chính của công ty. Tuy nhiên, khác với nhiều yếu tố khác,
vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất. Các qui luật kinh tế thị trờng chỉ
ra rằng cùng với sự lu thông hàng hóa là sự lu thông tiền tệ, tức là sự chu
chuyển các nguồn vốn. Sự phát triển của CTCP tỷ lệ thuận với sự luân
chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế. Sự vận động của vốn trong CTCP
không hề bị ảnh hởng gì cả. Đây chính là một u điểm bảo đảm cho việc kinh
19
doanh của CTCP diễn ra một cách liên tục và ổn định. Mặt khác, pháp luật
công ty hiện đại của một số nớc đều không hạn chế thời gian tồn tại của
CTCP trừ những trờng hợp nh: công ty phá sản hoặc các cổ đông cùng thỏa
thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty qui
định. Chính sự ổn định trong kinh doanh và thời gian hoạt động lâu dài đã
tạo cho các CTCP có đợc sự thu hút mạnh mẽ và đợc a chuộng hơn so với các
loại hình doanh nghiệp khác.
- Thứ sáu: CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao và minh bạch
Với t cách là một pháp nhân độc lập, trong CTCP có sự tách biệt giữa
quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra ban giám
đốc và ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý công ty. Nh vậy, trong
CTCP việc quản lý đợc tập trung hóa cao vào ban giám đốc mà không dàn
trải đều việc quản lý cho các cổ đông nh đối với công ty hợp danh; bởi vì
trong công ty hợp danh việc quản lý công ty đợc thực hiện bởi các thành viên
hợp danh với t cách là những ngời chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu
trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của công ty nên họ đ -
ợc toàn quyền quản lý công ty và nhân danh công ty trong các hoạt động. Sự
tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn đợc thể hiện ở việc luật công
ty hiện đại của một số nớc còn qui định cho phép giám đốc quản lý công ty
có thể không phải là cổ đông của công ty. Giám đốc có thể là ngời đại diện
theo pháp luật của CTCP, là ngời điều hành các hoạt động kinh doanh hàng
ngày của công ty. Rõ ràng việc qui định nh vậy một mặt thu hút đợc những
ngời quản lý chuyên nghiệp đợc CTCP thuê làm công tác quản lý, mặt khác
tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có đợc
sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất
phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có qui mô lớn.
1.1.3. Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt Nam
20
Từ năm 1960, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Lao động Việt Nam
(nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) lần thứ III, miền Bắc bắt đầu xây dựng nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc
doanh và tập thể trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò then chốt chi phối
toàn bộ các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Nhà nớc với t cách là
chủ sở hữu các t liệu sản xuất chủ yếu và vốn đã đề ra hệ thống chỉ tiêu pháp
lệnh bắt buộc từ sản xuất, lu thông đến phân phối sản phẩm theo mệnh lệnh
hành chính. Một số văn bản pháp luật trong thời kỳ này cũng đề cập đến thuật
ngữ "công ty", nhng khái niệm "công ty" ở thời kỳ này đợc sử dụng không
đúng với bản chất pháp lý của nó, mà thực chất là khái niệm đợc dùng để phân
biệt giữa các hình thức hoạt động trong các đơn vị sản xuất tạo ra sản phẩm và
các đơn vị thực hiện hoạt động thơng nghiệp phân phối, tiêu thụ sản phẩm;
nên không có loại hình công ty và pháp luật về công ty.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam đợc hoàn toàn giải phóng,
thống nhất đất nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chính sách trong việc khôi
phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh. Nhng do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan khác nhau, nên chúng ta cha có bớc đột phá trong công cuộc
phát triển nền kinh tế đất nớc.
Từ năm 1986, với đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc theo tinh thần Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta đề ra
đờng lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Đờng lối đổi mới đó
đã thúc đẩy sự đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp với việc bảo đảm quyền
tự do kinh doanh của các doanh nghiệp trong việc lựa chọn qui mô kinh doanh,
ngành nghề hoạt động, hình thức sở hữu. Ngày 21 tháng 12 năm 1990, Quốc hội
khóa VIII nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua hai đạo luật quan trọng
22
là: Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân. Với việc ban hành hai đạo luật
này cùng hệ thống các văn bản hớng dẫn thi hành đã tạo lập nên hành lang pháp
lý cho hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nh: CTCP, công ty
tế, tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, phát
triển doanh nghiệp.
- Phát huy vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động, của các cổ đông,
tăng cờng sự giám sát của nhà đầu t đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi
ích của Nhà nớc, doanh nghiệp, nhà đầu t và ngời lao động.
Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung -
ơng Đảng khóa IX và các Nghị định số 28/CP ngày 7 tháng 5 năm 1996, Nghị
định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1998 và Nghị định số
64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ thì các DNNN sau
khi cổ phần hóa sẽ chuyển đổi hình thức sở hữu và hoạt động dới hình thức
CTCP theo Luật doanh nghiệp và nhà nớc sẽ thực hiện chức năng quản lý của
mình đối với các doanh nghiệp này nh đối với CTCP. Nh vậy, ngoài các CTCP
đợc thành lập và hoạt động theo qui định của Luật doanh nghiệp thì việc cổ
phần hóa DNNN sẽ có thêm cơ hội cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà n-
ớc sau khi cổ phần hóa sẽ trở thành các CTCP hoạt động theo Luật doanh
nghiệp.
Thực tiễn cho thấy, chủ trơng đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp,
kể cả DNNN là hoàn toàn đúng đắn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, góp phần tăng trởng và phát triển bền vững nền kinh tế thị trờng
định hớng XHCN ở nớc ta hiện nay. Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo
đổi mới và phát triển doanh nghiệp, tính đến cuối tháng 7/2004 số DNNN đợc
cổ phần hóa là 1.748 doanh nghiệp. Kết quả khảo sát 500 doanh nghiệp đã đ-
24
ợc cổ phần hóa cho thấy: doanh thu trung bình của các doanh nghiệp đã tăng
43%, vốn điều lệ tăng 1,5 - 2 lần, cổ tức đợc chia khoảng 15,5%, nộp ngân
sách nhà nớc tăng 16%, lợi nhuận tăng 243%, thu nhập ngời lao động tăng
54%, số lao động đợc sử dụng trong các doanh nghiệp cổ phần tăng 12%,
phần vốn nhà nớc tại doanh nghiệp tăng từ 10 - 50% nhờ cổ tức đợc chia đầu
t trở lại.
Rõ ràng, xuất phát từ nhu cầu phát triển các hoạt động đầu t kinh