mở đầu
1/ Lý do chọn đề tài.
Đề tài đợc xác định là xuất phát từ những lý do sau:
- Về mặt lý luận: Quản lý nhà nớc có đặc trng phổ biến là quản lý bằng pháp
luật. Bởi vì, Nhà nớc phải hoá thân vào pháp luật. Nhà nớc pháp quyền càng phải
nh vậy. Nhà nớc tồn tại qua pháp luật. ý chí của nhà nớc muốn trở thành ý chí chung,
đợc xã hội thừa nhận, phục tùng phải đợc chuyển hoá thành pháp luật. Ngời dân thấy
nhà nớc, quan hệ với nhà nớc ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc đều phải bằng
các hành vi xử sự mà pháp luật dẫn dắt. Và nh thế, quản lý nhà nớc, quản lý nhà nớc
bằng pháp luật cũng là một. Lẽ đơng nhiên nhà nớc còn sử dụng nhiều phơng tiện,
công cụ quản lý khác. Song các công cụ, phơng tiện quản lý đó cũng phải đợc tuyên
bố sử dụng công khai, phải thông qua pháp luật. Thế nhng, về mặt lý luận, vấn đề
quản lý nhà nớc bằng pháp luật, sử dụng kết hợp giữa pháp luật với công cụ, phơng
tiện khác trong quản lý nói chung, quản lý kinh tế, thị trờng nói riêng ở Việt Nam vẫn
cha đợc nghiên cứu toàn diện. Sự lúng túng trong hoạch định chính sách của các cơ
quan có thẩm quyền quản lý, sự thay đổi liên tục của hệ thống pháp luật hiện hành
thời gian qua cho thấy rõ nhận định này.
- Về mặt thực tiễn: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật về kinh tế bao gồm nhiều
lĩnh vực khác nhau, trong đó có quản lý thị trờng, thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm
soát thị trờng của các cơ quan quản lý thị trờng. Đó là chức năng quản lý khó khăn
nhất, bởi nó hàng ngày, hàng giờ phải đối mặt với những tiêu cực của thị trờng; hàng
ngày hàng giờ phải xử lý các mối quan hệ chứa đựng đầy mâu thuẫn giữa ý chí chung
nhằm thiết lập trật tự quản lý thị trờng với ý chí, khát vọng lợi nhuận, bất chấp mọi kỷ
cơng, pháp luật của không ít nhà doanh nghiệp, doanh nhân. Thực tiễn trên phạm vi
toàn quốc cũng nh từng địa phơng, ở cấp trung ơng, từng Bộ, Ngành, từng đối tợng,
quan hệ quản lý đều cho thấy tờng tận điều đó. Chặn đứng những tiêu cực trong hoạt
động thị trờng, chặn đứng tình trạng buôn lậu, gian lận thơng mại, chốn lậu thuế, hàng
1
giả, hàng kém chất lợng, đa các quan hệ thị trờng, kinh doanh vào một trật tự quản lý
là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng, thờng xuyên của nhà nớc, trớc hết là của các cơ
quan quản lý thị trờng.
Thực hiện luận văn, với kết quả đạt đợc sẽ có ý nghĩa sau;
Một là: Qua thực hiện luận văn tác giả có cơ hội vận dụng lý luận thu nhận đợc
trong thời gian học tập tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào nghiên cứu
một vấn đề thực tiễn cấp bách, từ đó báo cáo kết quả học tập với Học viện và cơ quan
công tác, rèn luyện và nâng cao đợc năng lực và phơng pháp công tác của bản thân.
Hai là: Luận văn đóng góp những giải pháp nhằm tăng cờng quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với việc thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trờng, loại trừ,
ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật thị trờng, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội trong chiến lợc phát triển do Đảng đề ra tại Đại
hội IX
5/ Kết cấu của luận văn.
Luận văn ngoài mục lục, mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo; phần nội dung gồm 2 chơng, 5 tiết.
*
* *
Luận văn là kết quả của sự cố gắng của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các
thầy cô giáo Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, trực tiếp là các thầy cô giáo
Khoa Nhà nớc và Pháp luật và sự giúp đỡ, chia sẻ của các đồng sự. Cho phép tôi đợc
bầy tỏ sự trân trọng và cảm ơn về tất cả những điều tốt đẹp đó.
3
Chơng 1 : Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý nhà
nớc bằng pháp luật đối với thị trờng và thực
hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trờng.
1.1.Quản lý và quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng.
1.1.1. Quản lý và quản lý nhà nớc bằng pháp luật.
Thứ nhất: Các quan niệm về quản lý.
Quản lý là một thuật ngữ đợc sử dụng phổ biến để chỉ một hoạt động đặc thù
xuất hiện cùng với sự xuất hiện xã hội loài ngời. Con ngời trong tiến trình lịch sử tiến
hoá của mình vừa tiến hành các hoạt động thực tiễn quản lý, vừa nghiên cứu quản lý,
làm lệnh, vì dân không phải ngời nào cũng có óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền mới
làm đợc thì không nên dùng phép tắc là vì không phải ngời dân nào cũng hiểu cả"; 3,
"pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu, thiểu số, vì thế, "trị nớc thì minh định
pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho dân chúng, trừ cho thiên hạ
khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, ngời già đợc h-
ởng hết tuổi trời, bọn trẻ mồ côi đợc nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi
thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng là cái
công cực lớn vậy; 4, pháp luật phải có tính phổ biến, đợc công khai, truyền bá tới tất
cả mọi ngời để không một ngời dân nào có thể viện cớ không biết nên nỡ phạm luật.
Ông yêu cầu các quan cai trị phải lấy luật pháp mà dạy cho dân, pháp luật phải nh
một phép công điều khiển hành vi của mọi ngời.
- ở phơng Tây, các quan niệm về quản lý ngay từ thời cổ đại cũng đã hết sức
phát triển, gắn liền với các tên tuổi lớn, những triết gia vĩ đại mà t tởng của họ đã đặt
mốc cho sự ra đời của nhiều học thuyết quản lý nổi tiếng sau này. Đó là Arixtốt,
Platon, Xixêron
- Trong xã hội t sản quản lý đợc nghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau, học
thuyết quản lý luôn kề cận với khoa học chính trị, khoa học kinh tế, hành chính và
điều khiển học, vì lẽ đó nó mang tính toàn diện và thực dụng. F. Taylo (1856-1915)
cho rằng quản lý là biết đợc chính xác điều bạn muốn ngời khác làm, và sau đó hiểu
5
đợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo ông, mục
tiêu cơ bản nhất của quản lý doanh nghiệp là giải quyết mối mâu thuẫn gay gắt giữa
chủ và thợ để cùng đi tới mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.
Nh vậy, mục tiêu kinh tế là cái cốt của quản lý của Taylo; quản lý của Taylo là quản
lý con ngời kinh tế, với các nguyên tắc: bố trí lao động một cách khoa học để thay thế
các thao tác lạc hậu, kém hiệu suất; lựa chọn công nhân một cách khoa học; đào tạo,
huấn luyện và bồi dỡng họ; gắn công nhân với công nghệ sản xuất; phân công đều
công việc giữa ngời quản lý và công nhân. Cái gắn bó giữ họ là lợi nhuận. Quản lý nh
thế đã tuyệt đối hoá lợi ích vật chất, coi nhẹ động lực tinh thần của con ngời.
Đối ngợc với học thuyết quản lý của Taylo, nhiều nhà khoa học quản lý t sản đề
lý.
- Nội dung, hình thức quản lý.
- Khách thể quản lý là mục tiêu, mục đích mà chủ thể quản lý hớng đến.
- Công cụ quản lý là phơng tiện gắn với các biện pháp, cách thức mà chủ thể
quản lý sử dụng để tác động lên đối tợng quản lý.
- Môi trờng quản lý là các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi để quá trình quản lý đạt
đợc mục tiêu, mục đích có hiệu quả cao nhất.
Trong chủ nghĩa xã hội, quản lý luôn là một quá trình mang bản chất xã hội,
gắn với tổ chức xã hội, gắn với một lĩnh vực hoạt động cụ thể, cũng luôn gắn với đào
tạo, giáo dục, huấn luyện con ngời, với quá trình lao động tạo ra của cải, vật chất, vì
con ngời và lợi ích của con ngời.
Thứ hai: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-
Lênin và của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quản lý mà chủ thể là nhà nớc, cụ thể là các
cơ quan quản lý từng lĩnh vực nhất định, trong đó pháp luật là cơ sở, công cụ quản lý,
thể hiện các quyết định quản lý và bảo đảm thực hiện các quyết định đó.
T tởng về nhà nớc quản lý bằng pháp luật của chủ nghĩa Mác - Lênin gắn liền
với các quan điểm duy vật biện chứng về nhà nớc và pháp luật. Theo Các Mác và Ph.
7
Ănghen, nhà nớc là sản phẩm của của xã hội; Nhà nớc thiết lập một quyền lực công
cộng , là một bộ máy cai trị, quản lý. Bộ máy này dờng nh tách ra ngoài xã hội, đứng
trên xã hội, bao gồm một hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Nhà nớc sử dụng quyền lực công cộng để ra các quyết định quản lý, thực hiện các
chức năng đối nội, đối ngoại bằng cách ban hành pháp luật và bắt buộc mọi tổ chức,
mọi thành viên trong xã hội phải thực hiện.
Do bản chất kiểu mới của nhà nớc xã hội chủ nghĩa mà quản lý nhà nớc bằng
pháp luật có bản chất hoàn toàn khác với nhà nớc bóc lột. Trong tác phẩm nổi tiếng
Những nhiệm vụ trớc mắt của chính quyền Xô -Viết, VI. Lênin đã nhấn mạnh:
Ngày nay, nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung tâm, Chúng ta
giành đợc nớc Nga từ tay bọn nhà giàu để giao lại cho những ngời nghèo, từ tay bọn
phải thay đổi về cơ bản mối quan hệ giữa nhà nớc và pháp luật. Quản lý nhà nớc bằng
pháp luật trong nhà nớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân đòi hỏi trớc hết Nhà nớc
phải tôn trọng pháp luật, bị ràng buộc bởi pháp luật, mọi hoạt động quản lý của nhà n-
ớc phải trong khuôn khổ pháp luật, chỉ đợc làm những gì mà pháp luật cho phép. Quá
trình quản lý nhà nớc do vậy là quá trình tạo dựng cơ sở pháp luật, đa pháp luật vào
cuộc sống bằng chính sự tuân thủ của Nhà nớc, bằng việc bảo đảm sự thi hành pháp
luật nghiêm minh của mọi đối tợng quản lý.
Thứ ba: Đặc trng cơ bản của nhà nớc bằng pháp luật.
Từ những cơ sở lý luận trên cho phép rút ra một số đặc trng cơ bản sau của quản
lý nhà nớc bằng pháp luật:
- Quản lý nhà nớc đợc bắt đầu bằng việc định ra các thể chế pháp lý thể hiện ý
chí chung của xã hội nhằm tạo cơ sở chuẩn mực cho các hoạt động quản lý nhà nớc cụ
thể, để đánh giá chất lợng, hiệu quả quản lý, cho việc xử lý vi phạm trật tự quản lý.
Đó cũng là sự tạo dựng ra công cụ, phơng tiện pháp luật trong quản lý, tạo ra yếu tố
quyết định của cơ chế quản lý nhà nớc.
- Yếu tố quan trọng của quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quyền lực quản lý.
Đó là quyền lực có giới hạn, trong khuôn khổ pháp luật. Trong nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, quyền lực nhà nớc đợc sử dụng để thực hiện các các quyết định quản lý, là
quyền lực của nhân dân, do nhân dân uỷ nhiệm cho cơ quan nhà nớc theo thủ tục do
pháp luật quy định. Việc thực hiện quyền lực đó phải bảo đảm tính thống nhất, trên cơ
9
sở có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nớc, không đối trọng,
triệt tiêu hiệu quả quản lý của nhau.
- Khách thể của quản lý nhà nớc là trật tự quản lý nhà nớc từng lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Đạt đợc các khách thể này cũng đồng nghĩa với đạt đợc mục
tiêu của quản lý, thiết lập và duy trì đợc trật tự, ổn định xã hội, đa xã hội phát triển
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
- Quản lý nhà nớc bằng pháp luật là quản lý đợc thực hiện trên cả ba lĩnh vực
lập pháp, hành pháp và t pháp. Mỗi lĩnh vực quản lý đó có tính độc lập nhng quan hệ
chặt chẽ với nhau trong một chu trình quản lý thống nhất.
các hình thức quản lý liên quan đến thực hiện thủ tục hành chính, trong các việc cấp
văn bằng, chứng chỉ, giải quyết yêu cầu, lập biên bản xử lý
Phù hợp với mục tiêu, chức năng, nội dung và hình thức trên, quản lý hành
chính bằng pháp luật đợc tiến hành theo các phơng pháp khác nhau, bao gồm: 1, ph-
ơng pháp thuyết phục hành chính; 2, phơng pháp cỡng chế hành chính; 3, các phơng
pháp hành chính, phơng pháp kinh tế và một số phơng pháp khác.
1.1.2. Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng. Quản lý nhà nớc
bằng pháp luật đối với thị trờng là quản lý của nhà nớc, với sự tham gia của cả ba
hệ thống cơ quan lập pháp, hành chính, t pháp, bằng việc sử dụng công cụ pháp
luật để thiết lập trật tự của thị trờng.
Từ quan niệm trên, quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng là quản lý
nhà nớc đợc triển khai trên cả ba phơng diện lập pháp, hành pháp và t pháp, lấy đối t-
ợng tác động quản lý là thị trờng. Theo Các Mác thị trờng nghĩa là lĩnh vực trao đổi,
là tổng thể nói chung những hoạt động mua bán, nơi thờng xuyên diễn ra các hoạt
động lu thông hàng hoá, là tổng hoà những mối quan hệ mua bán trong xã hội, phản
ánh tổng hợp quan hệ giữa các bộ phận của nền kinh tế quốc dân.
Từ những quan niệm trên cho thấy trong nội hàm khái niệm thị trờng luôn bao
hàm các yếu tố;
- Nội dung quan hệ thị trờng là quan hệ mua, bán, lu thông hàng hoá
11
- Đối tợng của quan hệ đó là hàng hoá;
- Chủ thể tham gia thị trờng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bình đẳng
với nhau trớc pháp luật, cũng là đối tợng của quản lý nhà nớc đối với thị trờng.
- Thị trờng luôn diễn ra, gắn với một địa bàn, địa danh nhất định, nh thị trờng
Hà Nội, thị trờng trong nớc, thị trờng quốc tế, hoặc hẹp hơn, nh các trung tâm giao
dịch chứng khoán, chợ
Từ quan niệm trên có thể đi tới khái niệm quản lý nhà nớc bàng pháp luật đối
với thị trờng là quản lý các quan hệ mua bán lu thông hàng hoá do các chủ thể kinh
doanh thực hiện, diễn ra trên một địa bàn nhất định trên cơ sở tác động điều chỉnh của
pháp luật theo một cơ chế pháp lý phù hợp.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng
ở nớc ta hiện nay có đặc điểm sau:
Một: Đối tợng của quản lý chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp của cơ chế thị tr-
ờng. Đây là đặc điểm nói lên tính chất phức tạp của quản lý, đồng thời đề ra nhiệm vụ
của quản lý là phải ngăn chặn đợc những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trờng, mặt
khác, phải bảo đảm môi trờng lành mạnh, từ đó thúc đẩy thị trờng phát triển, đúng
định hớng xã hội chủ nghĩa, đúng mục tiêu của các chính sách kinh tế xã hội của
nhà nớc, của từng địa phơng.
Hai: Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta chỉ mới đợc phát triển; các
yếu tố thị trờng hầu nh chỉ mới ra đời, lại cha đồng bộ đã làm cho pháp luật về thị tr-
ờng thiếu ổn định, không đầy đủ.
Ba: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng, với quan niệm thị trờng
nh trên đợc giao cho nhiều cơ quan nhà nớc nớc khác nhau. Có thể nói hiện giờ, chủ
thể quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng hết sức phức tạp, không chỉ do Bộ
Thơng mại và các cơ quan quản lý chuyên trách. Trong điều kiện của bộ máy quản lý
đang trong quá trình cải cách, đổi mới, điều chỉnh lại chức năng và cơ chế quản lý và
kinh nghiệm quản lý thị trờng trong điều kiện của cơ chế thị trờng cha nhiều đã làm
cho chủ thể quản lý gặp nhiều lúng túng, hiệu lực, hiệu quả quản lý vẫn cha đáp ứng
yêu cầu.
13
Bốn: Quản lý nhà nớc bằng pháp luật đối với thị trờng mang tính xã hội sâu sắc
bởi nó trực tiếp bảo vệ những lợi ích xã hội, đặc biệt là lợi ích của ngời tiêu dùng, của
cá nhân, đơn vị kinh tế, và do đó, là bộ phận quản lý dễ huy động lực lợng của nhân
dân tham gia, đợc d luận xã hội đồng tình. Đây là yếu tố động lực lớn góp phần tăng
cờng hiệu lực, hiệu quả quản lý.
1.2. Chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trờng trong quản lý nhà nớc bằng
pháp luật đối với thị trờng.
Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng của quản lý Nhà nớc về kinh
tế và cũng là một chức năng quan trọng của quản lý nhà nớc đối với thị trờng. Đối t-
ợng của công tác kiểm tra, kiểm soát là thị trờng, mà là đối tợng phức tạp về nhiều
Có thể phân chia các loại hoạt động thị trờng phi pháp là đối tợng kiểm tra,
kiểm soát của lực lợng quản lý thị trờng nh sau:
Một: Kinh doanh trái phép.
Xuất phát từ chỗ các chủ thể tham gia hoạt động thị trờng phải có đủ t cách
pháp lý, tức là đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh theo trình
tự và thủ tục pháp luật quy định, hoặc đợc pháp luật công nhận quyền tham gia hoạt
động thị trờng trong phạm vi nhất định, nên mọi hoạt động, hành vi trái với nội dung
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hoặc ngoài phạm vi quyền tham gia thị trờng đ-
ợc pháp luật công nhận không phải đăng ký kinh doanh, hoặc kinh doanh không có
đăng ký cũng nh không có giấy phép riêng trong trờng hợp pháp luật quy định phải có
giấy phép đều là các hành vi kinh doanh trái phép.
Kinh doanh trái phép là một trong các đối tợng cụ thể của lực lợng kiểm tra,
kiểm soát thị trờng nhằm loại trừ các hành vi đó, bảo đảm các hoạt động kinh doanh,
mua bán trên thị trờng diễn ra bình thờng, đúng quy định của pháp luật, duy trì trật tự,
kỷ cơng trong hoạt động thị trờng, là công việc có tính thờng xuyên, và hết sức quan
trọng. Vì thế, trong Bộ luật Hình sự của nớc ta có riêng một điều (Điều 159) về Tội
kinh doanh trái phép để xét xử các hành vi vi phạm pháp luật thuộc loại này nếu hội
đủ các điều kiện quy định.
Hai: Buôn lậu.
15
Buôn lậu là một hiện tợng kinh tế phát sinh từ lâu đời, xuất hiện hầu nh ở khắp
các nớc trên thế giới, có nơi, có lúc trở thành quốc nạn. Theo quan niệm chung nhất,
buôn lậu bao gồm những hành vi sau:
- Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những loại hàng hoá hoặc ngoại tệ,
kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá mà Nhà nớc cấm
xuất khẩu hay nhập khẩu, hoặc buôn bán hàng hoá nói chung qua biên giới mà trốn
thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan.
- Hành vi buôn bán trốn thuế, lậu thuế; buôn bán những hàng hoá mà Nhà nớc
cấm kinh doanh trong nớc.
Theo Bộ luật Hình sự của Việt Nam, không phải tất cả những hành vi buôn lậu
nớc ngoài và đợc nhập lậu, thậm chí nhập theo đờng chính thức vào để tiêu thụ; hoặc
sau khi nhập khẩu vào rồi mới thay đổi nhãn mác, tên, địa chỉ ngời sản xuất và đa ra
buôn bán trên thị trờng.
Việc xác định hàng giả mặc dù đã có hớng dẫn của cơ quan nhà nớc song suy
cho cùng là phải lấy hàng thật làm chuẩn để so sánh, đối chiếu các tiêu chí, tiêu
chuẩn, nhất là tiêu chuẩn chất lợng và các nội dung khác của chúng để phát hiện sự
khác biệt; nếu cần phải qua kiểm nghiệm, giám định của cơ quan chuyên môn kỹ
thuật. Nói chung, đặc trng chủ yếu của hàng giả là hàng có chất lợng kém, phẩm cấp
thấp nhng chủ hàng với động cơ lừa dối, thủ đoạn tinh đã cố ý nguỵ trang nó dới danh
nghĩa hàng thật, che đậy nó bằng cách làm giả, làm nhái nhãn mác hàng chính hiệu
cùng loại có chất lợng tốt hơn, phẩm cấp cao hơn của các hãng sản xuất - kinh doanh
đợc thị trờng tín nhiệm và ngời tiêu dùng a chuộng nhằm dễ tiêu thụ sản phẩm của
mình với khối lợng lớn, bán hàng nhanh và thu lợi nhuận lớn.
Hàng giả một mặt tàn phá nền kinh tế trong nớc, làm xói mòn uy tín các thơng
hiệu chính phẩm và lợi ích của các nhà sản xuất chân chính; mặt khác, đặc biệt
nghiêm trọng là hàng giả xâm hại lợi ích, thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng ngời
tiêu dùng, nhất là hàng giả là thực phẩm, thuốc chữa và phòng bệnh cho ngời, thức ăn
chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây, con, phân bón Có thể nói,
17
với công nghệ hiện đại, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ nhanh, hầu nh ít có hoặc
hiếm thấy loại hàng nào mà kẻ xấu không thể làm giả hoặc không tìm cách để làm
giả. Vì thế cuộc chiến chống hàng giả không kém phần khó khăn, phức tạp so với
chống buôn lậu, diễn ra không ngừng và nhiều khi rất quyết liệt nhằm bảo vệ lợi ích
chung của xã hội, lợi ích và cuộc sống bình yên, an toàn của ngời tiêu dùng, đồng thời
bảo vệ quyền lợi của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính.
Bên cạnh hàng giả, còn các loại hàng kém chất lợng, quá hạn sử dụng, không
bảo đảm tiêu chuẩn bắt buộc về chất lợng theo quy định của Nhà nớc hoặc không thực
hiện đúng và đầy đủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy không thuộc
phạm trù hàng giả, nhng hành vi lu thông, buôn bán các hàng hoá này có thể đợc
xếp chung vào nhóm đối tợng buôn bán hàng giả để tổ chức công tác kiểm tra, kiểm
loại hàng hoá có tính đặc thù, nh:
+ Quy định về chất lợng hàng hoá đợc phép mua bán, lu thông trên thị trờng;
+ Quy định về hàng hoá và điều kiện kinh doanh các loại hàng có tính đặc thù,
nh: thuốc phòng chữa bệnh cho ngời, vệ sinh thực phẩm, thuốc thú y, thuốc trừ sâu,
văn hoá phẩm
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trờng cũng không bỏ qua các vi
phạm pháp luật về các lĩnh vực khác, nh: quy định về sản xuất, về tài chính, tiền tệ,
thanh toán, giá cả, thuế khoá đ ợc bộc lộ thông qua mua bán trên thị trờng.
Để kiểm tra, kiểm soát chống các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên, lực lợng
quản lý, kiểm tra, kiểm soát thị trờng chuyên nghiệp cần phối hợp với các lực lợng
kiểm tra kiểm soát khác, nhất là các lực lợng thanh tra chuyên ngành, nhằm bảo đảm
trật tự, kỷ cơng chung trên thơng trờng, không loại trừ bất cứ hành vi vi phạm pháp
luật nào xâm phạm lợi ích kinh tế chung và lợi ích ngời tiêu dùng.
1.2.2. Lực lợng kiểm tra, kiểm soát thị trờng.
Thực thi chức năng kiểm tra, kiểm soát thị trờng là lực lợng kiểm tra kiểm soát
chuyên nghiệp trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, còn gọi là Quản lý thị trờng.
19
Việc thành lập lực lợng kiểm tra, kiểm soát thị trờng chuyên nghiệp là hết sức
cần thiết, bởi: 1, thị trờng là một lĩnh vực hoạt động sôi động và phức tạp, bao gồm
nhiều loại hoạt động, nhiều mối quan hệ kinh tế - xã hội đan xen, cả hợp pháp và phi
pháp, do hàng triệu cá nhân và tổ chức thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia, kể cả
tổ chức sản xuất, kinh doanh của nớc ngoài, diễn ra trên khắp mọi miền của đất nớc,
có liên hệ ngày càng nhiều với thị trờng nớc ngoài 2, để bảo đảm thực thi các chính
sách và pháp luật của Nhà nớc về thơng mại, dịch vụ, một lĩnh vực hoạt động có tính
chuyên ngành; bảo đảm duy trì trật tự kỷ cơng đối với các hoạt động trên thị trờng.
ở nớc ta hiện nay hoạt động thị trờng còn lộn xộn, cha vào khuôn khổ, cha có
nề nếp, trật tự kỷ cơng, chính sách, pháp luật về thơng mại, dịch vụ, quản lý thị trờng
cha ổn định, cha đồng bộ và hoàn chỉnh thì việc tổ chức lực lợng kiểm tra, kiểm soát
thị trờng chuyên nghiệp là hết sức cần thiết.
Ngoài lực lợng chuyên nghiệp của cơ quan quản lý thị trờng có một số cơ quan
ờng mới có thể phát hiện kịp thời các xu hớng phát triển của hoạt động thị trờng;
những lệch lạc, sai phạm, những hành vi trái pháp luật, những vụ buôn bán hàng cấm,
hàng nhập lậu, hàng giả, trốn lậu thuế, gian lận thơng mại để có biện pháp xử lý phù
hợp. Từ đó có tác dụng trực tiếp duy trì trật tự kỷ cơng đối với các hoạt động trên thị
trờng, góp phần lành mạnh hoá hoạt động thị trờng; mặt khác, còn có tác dụng răn đe,
ngăn ngừa tội phạm, góp phần phát triển thị trờng ổn định, có hiệu quả và lành mạnh;
vừa bảo vệ lợi ích chung của Nhà nớc và xã hội, vừa bảo vệ lợi ích của các chủ thể
kinh doanh chân chính, tôn trọng và làm đúng pháp luật.
- Thông qua kiểm tra, kiểm soát thị trờng, hàng ngày hàng giờ tiếp cận với hoạt
động thực tiễn của các chủ thể tham gia thị trờng, đồng thời qua quá trình xử lý vi
phạm, phát hiện những bất hợp lý, những sơ hở của hệ thống pháp luật và cơ chế chính
sách để có những kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách của Nhà nớc nói chung và nhất là
trong lĩnh vực quản lý thị trờng.
21
- Đồng thời, thông qua các hoạt động nêu trên, bản thân tổ chức và lực lợng
Quản lý thị trờng, kiểm tra, kiểm soát thị trờng đợc rèn luyện và đào tạo, tích luỹ đợc
kinh nghiệm, trên cơ sở đó ngày càng có những hình thức, phơng pháp, biện pháp,
công cụ sắc bén hơn nhằm phát huy tác dụng của công tác kiểm tra, kiểm soát thị tr-
ờng, góp phần đa hoạt động thị trờng ngày càng vào nề nếp, trật tự kỷ cơng, ổn định,
có hiệu quả, theo định hớng và pháp luật của Nhà nớc.
Những tác dụng nêu trên khẳng định vai trò quan trọng của công tác kiểm tra,
kiểm soát nhằm thực thi một chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nớc về kinh
tế cũng nh quản lý thị trờng. Vai trò kiểm tra, kiểm soát của nhà nớc đối với hoạt động
thị trờng càng trở nên bức thiết, khi thị trờng còn trong giai đoạn sơ khai, ý thức tự
giác chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia thị trờng còn thấp, hoạt động trên
thị trờng ngày càng phát triển nhộn nhịp cùng với các mối quan hệ rất phức tạp và còn
nhiều lộn xộn
1.3 Cở sở pháp luật của quản lý nhà nớc đối với thị trờng và chức năng
kiểm tra, kiểm soát thị trờng.
hớng dẫn việc đăng ký kinh doanh bảo đảm thực hiện chiến lợc, quy hoạch và kế
hoạch định hớng phát triển kinh tế - xã hội; 3, tổ chức thực hiện và quản lý đào tạo cán
bộ quản lý doanh nghiệp; 4, thực hiện chính sách u đãi đối với doanh nghiệp theo định
hớng và mục tiêu của nhà nớc, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; 5,
kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp; giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua chế độ báo cáo tài chính định kỳ và báo cáo khác ).
Luật doanh nghiệp cũng quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ củ cơ quan quản
lý nhà nớc, trong đó có cơ quan quản lý thị trờng đối với doanh nghiệp.
Một bộ phận quan trọng là các luật, pháp lệnh quy định các chuẩn mực pháp lý
cho quản lý nhà nớc đối với thị trờng. Không kể Bộ Luật dân sự, có các văn bản trực
tiếp quy định đầy đủ vấn đề này: Luật thơng mại, Luật bảo hiểm, Luật khoa học công
nghệ, Pháp lệnh về tín phiếu, Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng
ở cấp văn bản lập quy của Chính phủ, các Bộ, Ngành, trực tiếp là Bộ Thơng mại
có rất nhiều văn bản quy định cụ thể và hớng dẫn thực hiện luật, pháp lệnh, đáng chú ý
23
là các văn bản: quy định về xử lý vi phạm hành chính về trật tự quản lý thị trờng, về
quản lý nhà nớc đối với các hoạt động kinh doanh theo các ngành, nghề, hàng hoá cụ
thể (vàng bạc, giết mổ )
Trong các văn bản trên, đáng chú ý là Nghị định 140/HĐBT 25/4/1991 của Hội
đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) quy định việc kiểm tra, xử lý sản xuất, buôn bán
hàng giả; Nghị định số 02/NĐ-CP của Chính phủ ngày o5/01/1995 quy định về hàng
hoá, dịch vụ cấm kinh doanh thơng mại và hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thơng mại có
điều kiện ở thị trờng trong nớc
Việc xử lý vi phạm phát hiện đợc qua công tác kiểm tra, kiểm soát thị trờng dựa
trên cơ sở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sửa đổi ngày 16/ 7/ 2002, và tại Nghị
định 01/CP ngày 03/01/1996 của Chính phủ, đợc sửa đổi bổ sung một số điều theo
Nghị định số 01/2002/NĐ-CP ngày 03/01/2002 về việc xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực thơng mại. Những văn bản này là cơ sở pháp lý để xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hoạt động thơng mại, dịch vụ thời gian qua. Ngoài ra những hành
vi vi phạm chế độ quản lý nhà nớc về thị trờng nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì đ-
3. Quản lý công chức, biên chế, kinh phí, trang bị, bồi dỡng chuyên môn nghiệp
vụ và xây dựng cơ sở vật chất cho lực lợng quản lý thị trờng ở địa phơng.
4. Thờng trực giúp Giám đốc Sở Thơng mại chủ trì, tổ chức sự phối hợp hoạt
động giữa các ngành, các cấp ở địa phơng có chức năng quản lý thị trờng, chống đầu
cơ buôn lậu và các hành vi kinh doanh trái phép.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của công chức kiểm
soát thị trờng; biên chế, kinh phí và chế độ trang bị của quản lý thị trờng, cấp hiệu, thẻ
kiểm tra thị trờng, phù hiệu, biển hiệu của quản lý thị trờng.
Cụ thể hoá Nghị định 10/CP, Bộ trởng Bộ Thơng mại đã ra quyết định số
217/TM/TCCB ngày 22/3/1995 về tổ chức bộ máy của Cục quản lý thị trờng.
25