LUẬN văn pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh quảng ngãi h - Pdf 33

LUẬN VĂN:
Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà
nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn
giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo luôn biến động phản ánh sự
biến đổi của lịch sử nhân loại. Thực tế đã chứng minh rằng, một tôn giáo cụ thể ở một
quốc gia có thể suy tàn hoặc hưng thịnh, song nhìn chung từ khi ra đời cho đến nay, tôn
giáo luôn tồn tại trong xã hội loài người. Vị trí, vai trò của mỗi tôn giáo ở từng khu vực,
từng quốc gia và các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng khác nhau. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, quá
khứ cũng như hiện tại, dù một quốc gia có thể chế chính trị như thế nào cũng cần quan
tâm đến tôn giáo, bởi vì tôn giáo tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Tôn
giáo có khả năng liên kết con người trong một cộng đồng cùng tín ngưỡng, nhưng cũng có
thể đẩy người ta đến thái độ nghi kị, đối đầu, hận thù và xung đột gây nên những thảm hoạ
cho nhân loại, một khi nó bị các lực lượng xã hội phản động lợi dụng, kích động vì những
tham vọng mang tính chất chính trị phản tiến bộ.
Những thập kỷ gần đây, dường như tôn giáo được phục hồi và có nơi còn phát
triển, vì thế một số người đã dự đoán rằng "thế kỷ XXI là thế kỷ của tôn giáo". Điều tra về
sự phát triển của tôn giáo trên thế giới cho thấy. Nếu dân số thế giới trong vòng 10 năm từ
1990-2000 đã tăng 15%, thì Hồi giáo và đạo Tin lành tăng khoảng 23%. Công giáo là
13,7%, Phật giáo là 11,4%, Chính thống giáo 5,6%, Ấn Độ giáo 18,3%.
Việt Nam là một quốc gia nằm giữa ngã ba của Đông Nam châu Á, là nơi giao lưu
của các luồng tư tưởng, văn hoá khác nhau,một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng,
tôn giáo khác nhau đang tồn tại, là nơi hội tụ của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới
như: Công giáo, Tin lành, Phật giáo và các tôn giáo bản địa như: Cao Đài, Phật giáo Hoà
hảo. Hiện nay, Việt Nam có khoảng gần 20 triệu tín đồ, chiếm gần 20% dân số của cả
nước, trong đó: Phật giáo khoảng 9,5 triệu tín đồ; Công giáo khoảng 5,7 triệu tín đồ; Đạo

69-HĐBT quy định về hoạt động tôn giáo.
Ngày 2-7-1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 37 về công tác tôn giáo trong tình hình
mới thì ngày 19-4-1999 Chính phủ ban hành Nghị định 26/1999/NĐ-CP về các hoạt động
tôn giáo.
Ngày 12-3-2003 tại Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khoá IX Đảng
ta ra Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo, sau khi có Nghị quyết này ngày 29/6/2004
Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 của Uỷ ban


Thường vụ Quốc hội. Ngày 1-3-2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP
hướng dẫn thi hành pháp lệnh này.
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ
sở pháp lý quan trọng đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tạo môi
trường thuận lợi cho hoạt động tôn giáo. Trong những năm gần đây, lợi dụng chính sách
đổi mới, mở rộng dân chủ, đảm bảo nhân quyền, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo đã
công khai đòi phục hồi hệ thống tổ chức giáo hội cũ, đòi lại các cơ sở vật chất, nơi thờ tự,
đất đai... do các cơ quan, đoàn thể đang quản lý, sử dụng; lợi dụng những sơ hở, thiếu sót
của Nhà nước ta trong việc thực hiện chính sách tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo
để gây sức ép đòi hỏi chính quyền chấp nhận các kiến nghị, yêu sách của chúng; đẩy
mạnh hoạt động từ thiện, đào tạo chức sắc, củng cố giáo hội cơ sở, mở rộng địa bàn tôn
giáo, đẩy mạnh các hoạt động lôi kéo, nắm tín đồ, tạo thành một lực lượng đông đảo, đủ
sức làm hậu thuẫn khi có tổ chức đối lập cần lực lượng đối trọng... Vì vậy, quản lý nhà nước
bằng pháp luật và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động tôn giáo trong thực tế
gặp không ít khó khăn, nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn chưa được điều chỉnh kịp thời và
đồng bộ.
Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền Trung, nơi có nhiều tôn giáo và cơ sở thờ
tự đang hoạt động. Trong những năm vừa qua, trong quá trình đổi mới ở Quảng Ngãi hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo có chiều hướng phục hồi và có xu hướng phát triển.
Trong quá trình đổi mới, pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động tôn giáo ở
tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua đạt được một số thành tựu trên các mặt sau: Việc

tiễn. Cho đến nay, đã có nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu, bài viết về tôn giáo,
liên quan đến tôn giáo như:
- Tôn giáo phương Đông, quá khứ và hiện tại, TS. Đỗ Minh Hợp, Nxb Tôn giáo,
Hà Nội, 2006.
- Lý luận về chính sách tôn giáo ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Đức Lữ, Nxb Tôn
giáo, Hà Nội, 2007.
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, GS.Đặng Nghiêm Vạn,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
- Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, GS.TS Đỗ Quang
Hưng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.


- Quản lý hoạt động tôn giáo cơ sở lý luận và thực tiễn, Bùi Đức Luận, Nxb Tôn
giáo, Hà Nội, 2005.
- Quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay, Luận văn thạc sĩ của Lê
Minh Quang, 2001.
- Hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học
của Nguyễn Xuân Diện, 2003.
- Hoàn thiện pháp luật về hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
luật học của Trần Minh Thư, 2004.
- Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo ở Thanh Hoá
hiện nay, Luận văn cử nhân chuyên ngành tôn giáo của Nguyễn Văn Huệ, 2004.
- Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở Nam Định hiện nay,
thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ luật học, Nguyễn Tấn Cường, 2006.
- Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo trong pháp luật quốc tế, GS.TS Hoàng Văn
Hảo, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2005.
- Vấn đề tự do tôn giáo nhân quyền ở Việt Nam, GS.TS Đỗ Quang Hưng, Tạp chí
Cộng sản, số 11, tháng 6/2005.
Đối với việc nghiên cứu pháp chế xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực cụ thể có các
công trình sau:

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những cơ sở lý luận cơ bản về pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung và
pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo
nói riêng.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước
bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở Quảng Ngãi.
+ Xây dựng những giải pháp góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi.
4. Phạm vi nghiên cứu
Pháp chế trong quản lý nhà nước về tôn giáo có phạm vi rộng,luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu trong phạm vi các vấn đề về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước
bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi từ khi có Pháp lệnh tín
ngưỡng, tôn giáo đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu


- Cơ sở lý luận của luận văn:
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung và về pháp chế xã
hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói riêng.
+ Luận văn còn dựa trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật của Nhà nước, các
công trình khoa học liên quan đến tôn giáo.
- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng một số phương
pháp của triết học Mác - Lênin như quan điểm biện chứng, toàn diện, lịch sử cụ thể;
phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh, dự báo, lôgíc và tổng kết thực tiễn.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống và toàn diện về pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở
Quảng Ngãi. Trên cơ sở lý luận chung về pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp chế đối với
hoạt động tôn giáo, đánh giá thực trạng pháp chế xã hội chủ nghĩa đối với hoạt động tôn giáo

hóa của từng cộng đồng dân tộc, Trước xu thế khu vực hóa, toàn cầu hoá hiện nay tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhưng lại liên quan đến
các lĩnh vực của đời sống xả hội, tác động đến văn hóa, đạo đức, kinh tế, an ninh quốc
phòng…
Việt nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và đang có xu
hướng phát tirển. Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một quá trình
lâu dài và đổi mới về công tác tôn giáo cũng là một quá trình lâu dài. Quá trình ấy đòi hỏi
phải từng bước được hoàn thiện, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi
mới nhận thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo cũng cần đặt ra. Bởi vì, quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là các quyền cơ bản của công dân đã được hiến pháp ghi nhận và quan
hệ xã hội về tôn giáo cũng là đối tượng điều chỉnh pháp luật. Vì vậy, để làm rõ cơ sở lý
luận về "pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt
động tôn giáo" trước hết phải làm rõ khái niệm về "tôn giáo".
Ngày nay việc đưa ra một khái niệm tôn giáo đầy đủ, khoa học vẫn được các nhà
tôn giáo học hiện đại quan tâm. Tôn giáo được các nhà khoa học nghiên cứu từ nhiều góc
độ khác nhau: Triết học, chính trị học, luật học, lịch sử tôn giáo... Cùng với những cuộc


khảo sát thực tiễn, những sách chuyên khảo, những tạp chí chuyên ngành cũng đã xuất
hiện các từ điển về tôn giáo. Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ rất
sớm.Song khái niệm về tôn giáo lại có nhiều cách hiểu khác nhau, có tài liệu cho rằng
hiện nay có khoảng 250 khái niệm tôn giáo [37, tr.9]. Ở đề tài này không có điều kiện
nghiên cứu chuyên sâu về tôn giáo. Tuy nhiên, để làm rõ nội hàm của tôn giáo cần phải
tiếp cận các quan niệm về tôn giáo dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ dân tộc học, tôn giáo được Edward Tyler Nhà dân tộc học nổi tiếng
người Anh định nghĩa “Nên đặt tin tưởng vào các thực thể tâm linh như là một định nghĩa
tối thiểu về tôn giáo” [61, tr.127]. Khái niệm tôn giáo luôn gắn liền với vấn đề dân tộc:
“Những vị thần được tạo ra bằng cách nào đó ở mỗi dân tộc” [41,tr.445] “Tất cả các vị
thần ấy chỉ có thể tồn tại trong tâm trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy
còn tồn tại, khi dân tộc tiêu vong các vị thần ấy tiêu vong theo [41, tr.445].

văn minh lớn của loài người đó Trung Quốc và Ấn Độ, nên tín ngưỡng,tôn giáo có ảnh
hưởng sâu đậm từ hai nền văn minh này.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống lại ngoại xâm và torng những cuộc kháng chiến
vệ quốc ấy những người có công trong việc giúp dân, cứu nước đã được cộng đồng tôn
sùng và đời đới nhớ ơn thờ phụng. Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa
đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”. Điều đó thể hiện khá rõ rệt trong đời sống sinh hoạt
tín ngưỡng tôn giáo của họ.
Đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hóa đó có ảnh hưởng lớn đến đặc điểm tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có một số đặc điểm sau:
Một là, Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau đang tồn tại.
Nước ta là nơi thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng văn hóa khu vực và thế
giới lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minh lớn là Trung Quốc và Ấn Độ, Đồng
thời là một nước có nhiều dân tộc cư trú ở nhiều khu vực với điều kiện tự nhiên, khí hậu,
lối sống, phong tục tập quán tìn ngưỡng tôn giáo khác nhau. Hơn nữa, người Việt bản tính
vốn cởi mở, khoan dung chứ không kỳ thị, khép kín. Vì thế cùng một lúc họ có thể tiếp
nhận nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau. Từ những hình thức tín ngưỡng, tôn
giáo sơ khai đến hiện đại - tất cả đã và đang cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian,
bản địa của nhiểu dân tộc khác nhau.
Hai là, tính đan xen, hòa đồng khoa dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.


Bản tính của người Việt Nam là cởi mở, bao dung chứ không hẹp hòi, kỳ thị, khép
kín. Dù là tín ngưỡng nào, tôn giáo gì? Từ đâu đến thì cộng đồng người ở đây cũng sẳn
sàng chấp nhận miễn là nó không vi phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược truyền thống
văn hóa của dân tộc. Khổng giáo và Đạo giáo từ Trung Hoa lan xuống, Phất giáo từ Ấn độ
truyền sang nước ta từ rất sớm vẫn song song tồn tại cùng nhau một cách hòa bình cùng
với tín ngưỡng bản địa mà không xảy ra một cuộc chiến tranh tôn giáo nào. Kể cả về sau
một số tín ngưỡng tôn giáo Phương Tây thâm nhập vào Việt Nam, Tuy có xa lạ với truyền
thống văn hóa dân tộc nhưng vẫn được chấp nhận. Nếi có giai đoạn lịch sử nào đó, tôn

Từ xa xưa ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bó chặt chẽ với nhau là gia
đình, làng cóm và quốc qia.
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hèn hay giàu sang có thể khác nhau, nhưng
nhà nào cũng có bàn thờ ông bà, cha mẹ, những người đã khuất. Đối với người Việt, thờ
cúng tổ tiên không đơn thuần là chỉ biểu hiện tình cảm, nhớ ơn những người có công sinh
thành mà còn được quan niệm ông bà, tổ tiên như những vị thần hộ mệnh cho con cháu
mạnh khỏe, hưởng phúc, tránh họa ở ngay thế giới hiện hữu.
Các vị anh hùng dân tộc có công chống giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc cũng được
thờ cúng như một vị thần của dân tộc.
Làng xóm Việt Nam có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ, trong phạm vi làng xã từ lâu
đã hình thành tấp tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở
nhiều tộc người. tục thờ Thành Hoàng, thần bản, thần Mường ở đâu cũng có, Mỗi làng
bản đều có một vị thần nhưng cũng có làng đến năm hoặc bảy vị thành hoàng. Những vị
thành hoàng ấy được xem như vị thần bản mệnh của cộng đồng làng xã.
Năm là, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân.
Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn nên tín đồ hầu hết là
nông dân. Dù tín đồ của tôn giáo nào, bản chất của người nông dân vốn là cần cù lao
động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù bọn ngoại xâm và bọn bóc lột. Trong bao cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đồng bào có đạo luôn gắn bó lợi cách
mạng. Trong cuộc đổi mới hiện nay họ có nguyện vọng thiết tha là sống “tốt đời, đẹp đạo”
cùng toàn dân phấn đấu vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.


Sáu là, một số tôn giáo bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì
mục đích chính trị.
Nhìn chung tôn giáo nào cũng có hai mặt: nhận thức tư tưởng và chính trị. Lịch sử
dân tộc ta đã trãi qua thời kỳ chống ngoại xâm triền miên,liên tục và kéo dài. Tuy mức độ
có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào, các giai cấp thống trị bóc lột cũng chú ý sử
dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo. Thực tế ấy làm cho nhân dân ta phải cảnh giác

lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những chức năng chung…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều
khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [40, tr.480].
Luận điểm trên của Mác có thể áp dụng đối với hoạt động chung của con người
trong xã hội. Khẳng định vấn đề này Lênin viết: “Muốn quản lý tốt mà chỉ biết thuyết
phục không thôi thì chưa đủ, mà còn phải biết tổ chức tốt về mặt thực tiển nữa” [35,
tr.473].
Để điều khiển, phối hợp hoạt động của tập thể những con người chúng ta cần phải
có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những nguyên tắc nhất định,
phải phục tùng những khuôn mẫu, những mệnh lệnh nhất định, cơ sở của sự phục tùng
hoặc là uy tín hoặc là quyền uy. Trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, uy tín đóng vai
trò là cơ sở rất quan trọng của sự phục tùng nhưng nhìn chung quyền uy vẫn là cơ sở chủ
yếu. Quyền uy là sự sắp đặt ý chí của con người này đối với con người khác buộc người
đó phải phục tùng. Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối
tượng quản lý phải phục tùng, là yếu tố không thể thiếu trong quản lý, không có nó hoạt
động quản lý sẽ không đạt hiệu quả.
Chủ thể quản lý của con người hay tổ chức của con người. Những cá nhân hay
tổ chức của con người phải là những người đại diện có quyền uy, có quyền hạn và
trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẽ của từng cá nhân hướng tới
mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý.
Khách thể của quản lý là trật tự quản lý. Trật tự này được qui định bởi nhiều loại
qui phạm khác nhau.
Như vậy: “Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các
đối tượng quản lý [51, tr.11]


Khi xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối lập nhau , luôn luôn mâu thuẫn và
đấu tranh giai cấp gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình, thì tổ chức thị tộc
trở thành bất lực, không còn phù hợp nữa. Xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ
sức giữ sự xung đột đó trong vòng trật tự, tổ chức đó là Nhà nước. Một trong những đặt

hoạt động hành đạo cũng chỉ tương đối, có không ít trường hợp hoạt động hành đạo bao
gồm cả hoạt động truyền đạo.
Thực tiễn hoạt động tôn giáo rất đa dạng, phong phú, luôn được điều chỉnh cho sự phù
hợp với sự biến đổi của xã hội và thích ứng với tâm lý của tín đồ.
1.2.1.3. Khái niệm quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo
Từ khái niệm “Quản lý Nhà nước” và khái niệm “Hoạt động tôn giáo” đã phân
tích ở trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt
động tôn giáo như sau:
Quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo là họat động của các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo qui định của Pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các
hoạt động tôn giáo đến mục đích phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Nhà nước qui định các hoạt động tôn giáo nhằm bảo đảm sự bình đẳng giữa các
công dân, các tổ chức xã hội trước pháp luật, hình thành khung pháp lý làm cơ sở để các
tôn giáo chủ động thực hiện các sinh hoạt tôn giáo, đồng thời thực hiện tốt các nghĩa vụ
đối với Nhà nước.
- Quản lý nhà nước đối với việc thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo
Thủ tướng Chính phủ công nhận đối với tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở
nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công
nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh, đối với thành phố trực
thuộc trung ương [55, tr.15-16].
Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng
hành động, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật được hoạt động. Những tổ chức được
Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được pháp luật bảo hộ. Tổ chức tôn giáo
hoạt động trái tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức đã được Thủ


tướng Chính phủ cho phép thì bị đình chỉ hoạt động. Những cá nhân chịu trách nhiệm về
những vi phạm đó bị xử lý theo pháp luật.

và người không theo đạo, Nhà nước cấm không cho nhập tu những người trốn tránh pháp
luật và các nghĩa vụ công dân.
- Quản lý nhà nước đối với việc tiến hành các nghi lễ tôn giáo và hoạt động tôn
giáo khác
Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ
cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và
học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo. Người tham gia hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
phải tôn trọng quy định của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, của lễ hội và hương ước, quy ước
của cộng đồng. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm an toàn, tiết kiệm, phù hợp
với truyền thống, bản sắc dân tộc, giữ gìn, bảo vệ môi trường [55, tr.12-13].
Hàng năm, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng ký với chính quyền
(Uỷ ban nhân dân cấp xã) chương trình hoạt động tôn giáo diễn ra tại cơ sở đó, đặc biệt các
ngày lễ trong năm. Nếu có sự thay đổi quan trọng trong chương trình phải báo cáo và được sự
đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Các hoạt động tôn giáo tại cơ sở tôn giáo (các buổi cầu
nguyện, hành lễ, giảng đạo, học tập giáo lý) đã đăng ký hàng năm, được sự chấp thuận của
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã và thực hiện trong khuôn viên cơ sở thờ tự thì không phải
xin phép.
Những hoạt động tôn giáo vượt ra ngoài khuôn viên cơ sở thờ tự hoặc chưa đăng
ký hàng năm phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Chức sắc, nhà tu hành chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động tôn giáo
trong phạm vi phụ trách.
Đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo cơ sở được tiến hành sau khi có sự chấp
thuận của Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra đại hội, hội nghị; việc tổ chức hội nghị,
đại hội cấp trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo được tiến hành sau khi có sự
chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ. Đối với các trường hợp khác việc tổ chức hội
nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo được tiến hành sau khi có sự chấp thuận của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị đình chỉ nếu htuộc một trong các trường hợp
sau:


chức tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam;


+ Tham gia hoạt động tôn giáo, cử người tham gia khoá đào tạo về tôn giáo ở nước
ngoài [55, tr.24].
Tổ chức, chức sắc tôn giáo báo cáo với Ban tôn giáo Chính phủ về những hướng
dẫn của tổ chức, chức sắc tôn giáo ở nước ngoài và thực hiện những hướng dẫn đó theo sự
chấp thuận của Ban tôn giáo Chính phủ.
Hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp luật và phù hợp
với chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở
tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và hữu nghị.
Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài
vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban tôn giáo Chính phủ.
Tổ chức, cá nhân ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ chức tôn giáo ở
nước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn giáo ở nước ngoài
thực hiện theo quy định của Ban tôn giáo Chính phủ.
Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo của Việt
Nam sau khi được Ban tôn giáo Chính phủ chấp thuận. Họ phải tuân thủ quy định của tổ chức tôn
giáo của Việt Nam và pháp luật Việt Nam [55, tr.24].
Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tạo điều kiện sinh hoạt tôn
giáo tại cơ sở tôn giáo như tín đồ tôn giáo Việt Nam; được mang theo xuất bản phẩm tôn
giáo và các đồ dùng tôn giáo khác để phục vụ nhu cầu của bản thân theo quy định của
pháp luật Việt Nam; được mời chức sắc tôn giáo là người Việt Nam để thực hiện các nghi
lễ tôn giáo cho mình; phải tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo Việt Nam [55, tr.2425].
Tổ chức, cá nhân nước ngoài, kể cả tổ chức, cá nhân tôn giáo vào Việt Nam để hoạt
động ở các lĩnh vực không phải là tôn giáo thì không được tổ chức, điều hành hoặc tham
gia tổ chức, điều hành các hoạt động tôn giáo, không được truyền bá tôn giáo.
Các hoạt động viện trợ của các tổ chức tôn giáo nước ngoài hoặc có liên quan đến
tôn giáo nước ngoài đều tuân theo chính sách, chế độ quản lý viện trợ hiện hành và thông
qua các cơ quan được Chính phủ Việt Nam giao phụ trách công tác quản lý viện trợ.

việc khác, nay cần xem xét nếu sử dụng không đúng thì trả lại cho tổ chức tôn giáo hoặc
người chủ trì cơ sở ấy. Đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đã bị chiến tranh hoặc thiên tai
tàn phá, khi các chức sắc tôn giáo yêu cầu thì có thể xem xét cho phép xây lại trên cơ sở
các quy định của Luật đất đai và các quy định về quản lý xây dựng. Trong việc xây dựng,


sửa chữa các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo không được huy động dân góp tiền của, sức lực
quá nhiều ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất.
Việc sửa chữa lớn làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại cơ sở tín ngưỡng,
tôn giáo, việc khôi phục công trình bị hoang phế, bị hủy hoại do chiến tranh, thiên tai, rủi
ro; việc tạo lập cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và xây dựng công trình tín ngưỡng, tôn giáo
(nhà, tượng, bia, đài, tháp và các công trình nhằm mục đích tín ngưỡng, tôn giáo) phải
được sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh [55, tr.22].
Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến,
tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài
nước theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc tổ chức quyên góp phải công khai, rõ
ràng mục đích sử dụng và trước khi quyên góp phải thông báo với Uỷ ban nhân dân nơi tổ
chức quyên góp. Nhà nước ta nghiêm cấm lợi dụng việc quyên góp để phục vụ lợi ích cá
nhân hoặc thực hiện những mục đích trái pháp luật [55, tr.21].
- Quản lý nhà nước đối với việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc,
nhà tu hành tôn giáo.
Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có quyền:
+ Được thực hiện chức trách, chức vụ tôn giáo của mình trong phạm vi trách nhiệm
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận;
+ Được Nhà nước xét khen thưởng công lao đóng góp trong sự nghiệp đoàn kết
toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
+ Được hưởng các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của công dân;
Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo có nghĩa vụ:
- Thực hiện đúng chức trách, chức vụ tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm tôn giáo
đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận và chịu trách nhiệm trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status