Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý giáo dục – Một biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Cát Hiệp - Pdf 24

MỤC LỤC
Trang
A. Lời nói đầu 2
B. Nội dung nghiên cứu tiểu luận 4
I. Một số vấn đề lí luận chung 4
1. Khái niệm pháp chế XHCN 4
2. Những nguyên tắc của pháp chế XHCN 6
3. Pháp chế XHCN trong quản lý giáo dục 7
II. Thực trạng pháp chế XHCN trong quản lý giáo dục ở
Trường THCS Cát Hiệp 11
1. Đặc điểm chung 11
2. Thực trạng tình hình pháp chế trong quản lý giáo dục ở
Trường THCS Cát Hiệp, Phù Cát 14
III. Các giải pháp và kiến nghò 17
1. Cơ sở đề ra giải pháp 18
2. Các giải pháp 19
3. Các kiến nghò 24
C. Kết luận 26
D. Danh mục tài liệu tham khảo 28
1
A . LỜI NÓI ĐẦU
* Lý do chọn đề tài: Quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn quản lí Nhà
nước, bản thân tôi nhận thấy việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghóa để nâng
cao hiệu lực quản lí Nhà nước trong tình hình hiện nay là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới và trong quá trình
hình thành để phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghóa. Có nghóa là
Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghóa. Pháp chế xã hội chủ nghóa là một biện pháp hữu hiệu để duy trì
cho pháp luật ngày càng bền vững có hiệu lực quản lí xã hội của Nhà nước.
Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghóa là mọi tổ chức và hoạt
động của cơ quan Nhà nước, mọi cán bộ nhân viên đều phải nghiêm chỉnh chấp

Ban giám hiệu trường Trung học cơ sở Cát Hiệp; cảm ơn thầy giáo hướng dẫn
cho bản thân hoàn thành đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu ghi chép, chắc chắn không tránh khỏi sai sót,
rất mong sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của quý thầy cô giáo để bản thân
hoàn thành tốt bài viết của mình.
3
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU TIỂU LUẬN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG:
1. Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghóa ( XHCN):
1.1. Pháp chế xã hội chủ nghóa:
Pháp chế thường được hiểu là “ chế độ trong đó đời sống và hoạt động xã
hội được đảm bảo bằng pháp luật”. Nhà nước quản lý xã hội và điều hành các
quan hệ xã hội đều căn cứ vào pháp luật. Nhà nước nào thì pháp luật ấy, Nhà
nước xã hội chủ nghóa có pháp luật xã hội chủ nghóa, Nhà nước ta là Nhà nước xã
hội chủ nghóa nên có pháp luật xã hội chủ nghóa, vậy pháp chế ở nước ta là pháp
chế xã hội chủ nghóa.
Pháp chế xã hội chủ nghóa là chế độ của đời sống chính trò – xã hội trong
đó Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; các cơ quan nhà nước, đơn vò lực
lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trò xã hội, các tổ chức xã hội nghề
nghiệp, các đơn vò kinh tế và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến
pháp, Pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
Như vậy, pháp chế xã hội chủ nghóa là sự tuân thủ và chấp hành một cách
thường xuyên, chính xác, đầy đủ và nghiêm minh những luật, những văn bản
dưới luật của các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách, các tổ chức xã hội, các
tập thể lao động và mọi công dân.
Xã hội là một cộng đồng người thường xuyên nảy sinh những quan hệ. Vì
vậy cần phải có những nguyên tắc, những tiêu chuẩn hợp lí để điều chỉnh tổ
chức đời sống xã hội. Trong hệ thống các vi phạm xã hội thì hệ thống quy phạm
pháp luật có vò trí quan trọng đối với việc bảo đảm lợi ích cơ bản và mục tiêu
kinh tế – xã hội.

cố mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Dân chủ
5
càng mở rộng càng tăng cường pháp chế. Vì pháp chế đảm bảo thực hiện
nguyên tắc dân chủ, xây dựng tính tổ chức, kỷ luật, trật tự kỷ cương xã hội, kỷ
luật Nhà nước và công bằng xã hội.
2. Những nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghóa:
Nguyên tắc pháp chế XHCN là những chỉ đạo cơ bản thể hiện bản chất và
đặc điểm của pháp chế XHCN. Vì vậy, Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò
của pháp chế XHCN. Tư tưởng pháp chế của Đảng, Nhà nước ta được thể hiện
trong các nguyên tắc cơ bản sau:
2.1. Tôn trọng tính tối cao của Hiến Pháp.
Đây là yêu cầu quan trọng nhất trong quá trình xây dựng, thiết lập nền
pháp chế xã hội chủ nghóa. Hiến pháp là đạo luật gốc – cơ bản của cả hệ thống
pháp luật và có giá trò pháp lý cao nhất. Vì vậy, hoạt động xây dựng luật pháp
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải căn cứ vào các quy đònh của Hiến
pháp. Hiến pháp có vò trí trung tâm và vai trò tối cao do đặc điểm về nội dung,
được cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội ban hành theo một
trình tự và thủ tục đặc biệt. Do vậy, các luật hoặc đạo luật đều phải có đủ để cụ
thể hoá Hiến pháp và phù hợp với Hiến pháp. Khi xây dựng những văn bản dưới
luật, cần phải dựa vào Hiến pháp và luật. Chỉ có thực hiện tốt yêu cầu này mới
có thể xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh, đồng bộ, tránh được
tình trạng tản mạn, trùng lắp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn.
2.2. Pháp chế phải thống nhất trên phạm vi cả nước:
Pháp chế phải thống nhất trên phạm vi cả nước. Đặc điểm này đòi hỏi
trước hết, trong khi thực hiện pháp chế phải thống nhất tuân thủ pháp luật, bảo
đảm tính nghiêm minh của luật, mặc dù các luật và các văn bản dưới luật rất
phong phú và đa dạng nhưng pháp chế thì phải thống nhất. Pháp chế thống nhất
đòi hỏi từ việc xây dựng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền đến việc chấp
hành pháp luật của các chủ thể pháp luật luôn luôn xuất phát từ luật, trên cơ sở
6

tuân thủ theo quy đònh của Pháp luật, Luật giáo dục, Điều lệ trường phổ thông….
Pháp chế xã hội chủ nghóa trong quản lý giáo dục chính là sự tuân thủ và
chấp hành một cách nghiêm ngặt về Hiến pháp, Pháp luật nhà nước; về Luật
giáo dục, về Điều lệ trường phổ thông và các văn bản chuyên ngành giáo dục …
của tất cả các đối tượng trong và ngoài nhà trường nói chung, và cán bộ quản lý
giáo dục nói riêng.
Tăng cường pháp chế trong quản lý giáo dục chính là tăng cường quá trình
triển khai và thực hiện đúng các quy đònh về chuyên ngành trong lónh vực giáo
dục nói riêng và các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta nói chung.
3.1. Khái niệm quản lý giáo dục:
Quản lý giáo dục là việc xây dựng, hoạch đònh các đường lối, chính sách
để giáo dục phát triển, đáp ứng mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước nói chung
và của một đòa phương , đơn vò nói riêng.
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
của lao động. Về cơ bản có thể coi: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Hoạt động dạy học và giáo dục là những hoạt động cơ bản trong nhà
trường phổ thông. Chủ thể quản lý các hoạt động này là Hiệu trưởng. Tập thể
giáo viên, học sinh và các lực lượng ngoài nhà trường, những nhân tố trực tiếp tổ
chức hoạt động dạy học và giáo dục là đối tượng quản lý.
Vậy, quản lý các hoạt động dạy học và giáo dục là những tác động có mục
đích, có kế hoạch của Hiệu trưởng đến tập thể giáo viên và học sinh, những lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ tham gia, cộng tác,
phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp quá trình dạy học và giáo dục
vận động tối ưu tới các mục tiêu dự kiến.
8
3.2. Khái niệm về chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục được hiểu là tổng hoà những phẩm chất và năng lực
được tạo nên trong quá trình giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng cho người học so với
những thang chuẩn giá trò của Nhà nước hoặc xã hội nhất đònh.

phương sẽ đảm bảo cho hoạt động giáo dục phát triển thuận lợi, có như vậy chất
lượng giáo dục mới được nâng cao.
Để thực hiện đúng pháp chế trong giáo dục cần phải xây dựng kỷ cương,
nền nếp trong ngành giáo dục, việc xây dựng ấy phải bắt đầu từ các cơ quan chỉ
đạo giáo dục và đào tạo; từng phòng, ban quán triệt các chủ trương, đường lối chỉ
đạo giáo dục; tiến đếùn các nhà trường, cấp học thể hiện nền nếp kỷ cương thông
qua hành động cụ thể từ việc soạn giảng, xây dựng hồ sơ, sổ sách, việc kiểm tra
đánh giá … đến các quy đònh cụ thể đến từng bộ phận, từng giáo viên và học sinh.
Một khi tính pháp chế trong ngành giáo dục nói chung và hoạt động quản
lý giáo dục nói riêng được quán triệt và thực hiện nghiêm, thì vấn đề cán bộ,
giáo viên, nhân viên trong ngành giáo dục sẽ không còn tình trạng vi phạm các
quy đònh về chuyên ngành; học sinh không còn hiện tượng vi phạm nội quy
trường, lớp … và như vậy quá trình đào tạo của các nhà trường lo gì đến việc
không đảm bảo chất lượng . Vì suy cho cùng, sự tuân thủ và chấp hành nghiêm
theo các quy đònh trong lónh vực giáo dục đã giải quyết được vấn đề về đổi mới
và cập nhật phương pháp quản lý, phương pháp giáo dục – giảng dạy trong nhà
trường, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của xã hội.
Như vậy, mối quan hệ về pháp chế với quản lý giáo dục và chất lượng
giáo dục là mối quan hệ nhân quả và bổ trợ phát triển: pháp chế thực hiện
nghiêm minh giúp cho hoạt động quản lý thực hiện tốt vai trò chức năng của
mình, khi quản lý thực hiện đúng vai trò, chức năng , nhiệm vụ thì tổ chức, đơn vò
10
sẽ hoạt động đảm bảo theo tiến trình, theo kế hoạch, đúng theo quy đònh của
ngành và như vậy hiệu quả công việc chắt chắn được nâng cao. Ngược lại, chất
lượng, hiệu quả công tác của cơ quan đơn vò, đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội ,
hay nói cách khác chất lượng giáo dục của nhà trường cao phản ánh sự quản lý
có hiệu quả và khoa học của lãnh đạo, đồng thời nó cũng phản ánh sự chấp hành
nghiêm minh các quy phạm pháp luật trong lónh vực giáo dục.
Vì vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghóa trong quản lý giáo dục là
tiền đề, là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của các nhà

Thành tích hoạt động của nhà trường còn khá khiêm tốn, số lượng học sinh
đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp tỉnh chưa có, giáo viên đạt danh hiệu giáo viên
dạy giỏi các cấp còn quá ít. Chỉ có hoạt đôïng phong trào của Đội thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh được Hội Đồng Đội Huyện đánh giá là đơn vò mạnh trong
Huyện.
Năm học 2007 – 2008:
Tổng số cán bộ , giáo viên, nhân viên : 37 nữ: 18
Trong đó: Ban giám hiệu : 2 nữ: 0
Giáo viên biên chế: 33 nữ: 17
Giáo viên đạt trình độ trên chuẩn: 24 nữ: 7
Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn : 2 nữ : 0 (thuộc các bộ môn :
âm nhạc, thể dục)
Nhân viên : 2 nữ:1
Tổng số học sinh: 634 nữ : 292. Biên chế thành 18 lớp.
Trong đó: Khối lớp 6 : 188 học sinh, xếp thành 5 lớp
Khối lớp 7: 143 học sinh ‘’ 4 lớp
Khối lớp 8: 158 học sinh ‘’ 5 lớp
Khối lớp 9: 145 học sinh ‘’ 4 lớp
12
1.2 Thực trạng về chất lượng giáo dục của nhà trường ( từ năm học 2004
– 2005 đến nay):
*. Đối với giáo viên:
Trong 3 năm học tỉ lệ giáo viên được xếp loại tốt, khá, trung bình hầu như
không biến động mấy, loại tốt và loại khá luôn đạt ở mức từ 75% đến 80%.
Năm học 2004 – 2005 có 2 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp
Huyện, 1 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh.
Năm học 2005 – 2006 có 1 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp
Huyện.
Năm học 2006 – 2007 không có giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi
các cấp.

Tỉ lệ (%)
12.3 14.1 20.7
Yếu
Số Lượng 2 3
Tỉ lệ (%)
0.3 0.5
HỌC
LỰC
Giỏi
Số Lượng 20 39 24
Tỉ lệ (%)
3.0 5.7 3.8
Khá
Số Lượng 177 162 125
Tỉ lệ (%)
26.2 23.8 19.9
Trung
Bình
Số Lượng 391 393 349
Tỉ lệ (%)
57.8 57.7 55.6
Yếu
Số Lượng 85 85 128
Tỉ lệ (%)
12.6 12.5 20.4
Kém
Số Lượng 3 2 2
Tỉ lệ (%)
0.4 0.3 0.3
2. Thực trạng tình hình pháp chế trong quản lý giáo dục ở trường Trung

theo cảm tính, không kiên quyết dứt khoát dẫn đến sự chây ì trong tổ chức, sự
chấp hành và tuân thủ của cấp dưới quyền chưa triệt để.
- Tính dân chủ trong cơ quan thực hiện chưa triệt để, còn có trường hợp
người đứng đầu đoàn thể, tổ chức tự áp đặt kế hoạch hoạt động của tổ chức mình,
triển khai nhiều kế hoạch công tác một cách tuỳ tiện, chưa có sự bàn bạc thống
nhất trong tổ chức, đoàn thể dẫn đến sự chấp hành và thực hiện kế hoạch mang
tính gượng ép “bằng mặt, không bằng lòng”, chất lượng kế hoạch đạt được không
cao.
15
- Việc thực hiện đúng theo các quy đònh, quy chế của cơ quan chưa đảm
bảo: còn bộ phận giáo viên thực hiện chế độ báo cáo, tổng hợp chưa kòp thời; còn
có trường hợp thực hiện sai quy chế chuyên môn về vấn đề sửa chữa sổ sách, học
bạ; tình trạng đi muộn, dạy không đảm bảo thời gian vẫn còn tồn tại : nhất là đối
với các giờ học tự chọn, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; tình trạng cán bộ
giáo viên vi phạm về nội quy cơ quan vẫn còn, nhất là việc chấp hành không hút
thuốc lá trong giờ làm việc tại cơ quan chưa thực hiện được, vẫn có nhiều trường
hợp vi phạm.
- Một bộ phận giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp chưa nhiệt tình,
không tận tâm với công việc của bản thân, tuyên truyền giáo dục học sinh chưa
đến nơi, không thể hiện sự ân cần bền bỉ trong công tác, phổ biến triển khai một
cách qua loa đại khái, chưa theo dõi kiểm tra giám sát, giúp đỡ sửa chữa kòp thời
đối với học sinh lớp mình phụ trách. Vì vậy, còn có hiện tượng học sinh vi phạm
về nội quy lớp học, vi phạm những quy đònh của nhà trường. Hiện tượng học sinh
vi phạm tác phong khi đến trường, điều khiển xe mô tô xe máy khi ở nhà vẫn
xuất hiện; học sinh bỏ giờ trốn học vẫn tồn tại.
- Sự kết hợp ba môi trường giáo dục ở đòa phương còn bộc lộ nhiều yếu
điểm khiếm khuyết. Nhận thức của phần lớn phụ huynh học sinh về giáo dục học
sinh là nhiệm vụ của thầy cô giáo trong nhà trường, nên có hiện tượng phụ huynh
phó thác cho nhà trường về việc học của con em, không quan tâm đến kết quả
học tập của con em .

dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
“ … tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một
cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang
tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển
17
giáo dục 2001 – 2010 và chấn hưng đất nước …”. Mục tiêu Chiến lược phát
triển giáo dục 2001 -2010 : “ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lónh chính trò,
phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản
lý, phát triển đúng đònh hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.” Chỉ thò ghi rõ:
“ Để đạt được mục tiêu trên, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng
chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ :
-Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống các trường sư phạm, các trường
cán bộ quản lý giáo dục.
-Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo
dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo đủ số lượng và cân đối về
cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
- Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo
dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục.
- Xây dựng và hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà
giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.
- ….”.

hành các biện pháp sau:
19
- Thứ nhất: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
pháp chế xã hội chủ nghóa. Đó là lãnh đạo chỉ đạo việc tổ chức thực hiện pháp
luật; kiểm tra việc thực hiện pháp luật của Chi bộ Đảng và Đảng viên. Lãnh đạo
công tác cán bộ, công chức trong cơ quan, ban ngành của nhà trường. Đảng viên
trong Chi bộ nhà trường phải thể hiện tốt vai trò tiên phong gương mẫu, hoàn
thành đúng và sớm hơn thời gian quy đònh về chế độ báo cáo thống kê, thực hiện
đầy đủ và đúng các quy đònh của ngành; bản thân Đảng viên phụ trách lónh vực,
bộ phận nào phải hoàn thành một cách xuất sắc các nhiệm vụ được phân công.
Ngoài ra còn phải biết động viên , lôi kéo các thành phần khác trong nhà trường
cùng thực hiện tốt như mình.
- Không ngừng hoàn thiện hệ thống nội quy quy chế cơ
quan, đó là các quy đònh đối với cán bộ giáo viên và học sinh trong nhà trường.
Phát hiện những quy đònh lỗi thời, chồng chéo, mâu thuẫn để có kế hoạch sửa
đổi, bãi bỏ, bổ sung.
- Trước khi bước vào năm học mới, cần tổ chức cho
giáo viên và học sinh học nội quy, quy chế cơ quan trường học; thông qua tổ chức
đội trong nhà trường, tổ chức hội thi: nhận thức về nội quy trường học; tìm hiểu
những điều cấm đối với học sinh… qua đó nâng cao tầm nhận thức và ý thức chấp
hành của học sinh.
- Thứ hai: Giáo dục và đào tạo là lónh vực mang tính
xã hội rộng lớn, quản lý giáo dục là một hoạt động mang tính nghiệp vụ, tính chỉ
đạo. Vì vậy, cần nâng cao năng lực cán bộ quản lý giáo dục ở cơ sở mà cốt lõi là
cán bộ quản lý ở các trường học, đó chính là các Hiệu trưởng,có như vậy hiệu
quả, chất lượng quản lý giáo dục mới được nâng cao và có hiệu quả. Để đạt được
vấn đề này cần triển khai chương trình hành động: tổ chức hội thảo, trao đổi kinh
nghiệm trong công tác quản lý trường học của các hiệu trưởng theo các cấp; mở
lớp đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ quản lý hành
20

- Thứ năm: Tăng cường giáo dục ý thức, tinh thần trách
nhiệm, sự làm gương của người thầy trong công tác để học sinh noi theo. Mỗi
một thầy giáo, cô giáo cần trau dồi bản thân để trở thành một “thần tượng” quý
cho học sinh. Thể hiện rõ vấn đề này chính là biểu hiện hằng ngày của bản thân
mỗi thầy giáo, cô giáo; chỉ rõ cho mỗi cán bộ giáo viên , nhân viên trong nhà
trường ý thức được rằng mọi hành vi cư xử của bản thân đều có sự nhìn nhận
quan sát của học sinh; vì vậy bất cứ việc gì từ nhỏ đến lớn, đều phải cân nhắc và
cẩn trọng trước khi tiến hành thực hiện, nhất là khi lên lớp không được để tác
phong lề mề, quá trình giảng dạy không được sai nhầm kiến thức, cần khách
quan công bằng và chính xác trong việc đánh giá khen chê trách phạt học sinh,
tuyệt đối không có trường hợp cán bộ giáo viên vi phạm nội quy, quy chế cơ
quan.
- Thứ sáu: Phối kết hợp thực hiện tốt ba môi trường
giáo dục. Làm tốt công tác tham mưu với lãnh đạo ngành đòa phương, tranh thủ
sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài đòa bàn về nhân lực, tài lực để
xây dựng cơ sở nhà trường ngày càng khang trang hiện đại. Hiệu trưởng tích cực
tham mưu với các cấp lãnh đạo để nhà trường được xây dựng thêm đủ số phòng
học bộ môn, phòng chức năng, trang bò đảm bảo nhu cầu tối thiểu về cơ sở vật
chất phục vụ cho hoạt động dạy và học của nhà trường trong thời gian đến.
- Tuyên truyền, tác động đến từng phụ huynh học sinh,
“ đả thông tư tưởng” cho phụ huynh học sinh, để họ nhận thức lại cho đúng về
trách nhiệm của họ trong việc học hành của con em . Mỗi một năm học, tối thiểu
phải tổ chức 3 kỳ họp cha mẹ học sinh: kỳ họp thức nhất vào tuần đầu tiên của
năm học, trọng tâm công việc trong kỳ họp này là triển khai kế hoạch giáo dục
của nhà trường, các quy đònh của nhà trường, các kế hoạch cảu tập thể lớp … thực
22
hiện trong năm đối với học sinh, bầu ban chấp hành cha mẹ học sinh tứng lớp; kỳ
họp thứ hai vào tuần đầu tiên của học kỳ II, kỳ họp này báo cáo kết quả học tập
rèn luyện của học sinh trong thời gian qua, bàn biện pháp và triển khai kế hoạch
giáo dục của lớp trong thời gian tới; kỳ họp thứ ba vào thời gian trước khi nhà

tích cực tham gia sinh hoạt cùng với nhân dân qua các buổi họp thôn, xóm, khu
dân cư … qua đó kòp thời báo cáo tình hình học tập, rèn luyện của con em trong
đòa bàn thôn xóm, đồng thời nắm bắt tình hình, hoàn cảnh và điều kiện tự học
của học sinh, các phản ánh của học sinh và cha mẹ học sinh về phía nhà trường.
Cuối mỗi tháng cần họp ban giám hiệu mở rộng để tổng hợp, phân tích xử lí các
thông tin, đề ra giải pháp kòp thời trong thời gian tiếp theo.
3. Các kiến nghò:
Nhằm tăng cường thực hiện pháp luật và duy trì công tác bảo vệ pháp chế
để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước ở cơ sở, góp phần thực hiện tốt chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần cải thiện về chất
lượng giáo dục của nhà trường trong tình hình hiện nay, hoàn thành nhiệm vụ mà
xã hội, nhân dân các bậc cha mẹ học sinh uỷ thác, tôi có các kiến nghò sau:
- Một là: Công tác cán bộ khi tuyển dụng, bổ nhiệm Đảng Uỷ, chính quyền
cần phải có quan điểm tốt, rõ ràng, “ vì việc mà bố trí người, không nhìn người
mà bố trí việc”, phải đảm bảo các tiêu chuẩn: phẩm chất đạo đức,trình độ văn
hoá và năng lực công tác, lý lòch rõ ràng. Đồng thời hàng năm phải có kế hoạch
đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, về pháp luật cho
cán bộ quản lý các nhà trường trên đòa bàn xã.
- Hai là: Cấp trên cần quan tâm, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các hoạt động
của các nhà trường, uốn nắn kòp thời những lệch lạc của cấp dưới. Cần cung cấp
24
những tài liệu, văn bản pháp luật kòp thời để đơn vò cơ sở nắm bắt và triển khai
thực hiện tốt.
- Ba là: Nhà nước cần quan tâm hơn nữa về chế độ chính sách đối với cán
bộ quản lý, với nhà giáo, có chính sách hỗ trợ thích hợp đối với việc học tập bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
- Bốn là: Các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường cần quan tâm phối hợp
chặt chẽ với nhà trường, lực lượng công an xã cần can thiệp kòp thời trong việc
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của học sinh trong những ngày các em
không đến trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status